PHIM MẬU THÂN 1968-MỘT CANH BẠC
BỊP
Phạm Trần
Kế họach được gọi là “Tổng tấn công và nổi dậy” mùa Xuân năm Mậu Thân 1968 của quân Cộng Sản nhằm lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã
thất bại, nhưng quân Cộng sản đã chiếm được Sài Gòn ngày 30/04/1975 không vì
biến cố quân sự ấy mà do Hoa Kỳ không giữ lời hứa trả đũa cuộc xâm lăng của Hà
Nội và đồng thời không viện trợ đủ để
quân đội Việt Nam Cộng hòa bảo vệ miền Nam Việt Nam.
Đó là sự thật cho dù phía Cộng sản
có đổi
trắng thay đen lịch sử như thế
nào chăng nữa.
Hà Nội biết rõ điều đó và không bao giờ
dám phủ nhận việc Hoa Kỳ để cho họ được giữ ở miền Nam khỏang 150,000 quân đem
từ miền Bắc vào trước ngày ký Hiệp định
Paris 1973 là do Tổng thống Cộng hòa Richard Nixon muốn rút khỏi cuộc chiến Việt Nam bằng mọi
giá để được tái đắc cử Tồng thống năm
1972, dù biết rằng miền Nam Việt Nam sẽ khó đứng vững
nếu không có sự giúp đỡ của Hoa Thịnh Đốn trong khi quân miền Bắc vẫn tiếp tục vào miền Nam đánh
phá để xé bỏ “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình ở Việt Nam”.
Vì vậy lịch sử
của cái được gọi là “Đại thắng Mùa Xuân 1975”, hay như bà đạo diễn Lê Phong
Lan, Tác gỉa bộ phim tài liệu “Mậu Thân
1968” hô hóan tự khoe rằng “nếu không có Mậu Thân 1968 thì sẽ không có Hiệp định Paris 1973, từ
đó, đi đến kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình và thống nhất đất nước năm
1975” cũng chẳng có gì hay ho lắm đâu.
NỔI DẬY TRONG MƠ
Hồi ấy chiến
trường đã nghiêng về phía quân Cộng sản từ sau Hiệp định Paris được ký kết ngày
20/01/1973 vì 3 lý do chính:
1) Quân Cộng sản ở miền Nam
tiếp tục nhận được viện trợ súng đạn và lương thực của Trung Cộng và khối Liên
Sô (trước thời kỳ đổ vỡ 1991) để xâm chiếm miền Nam.
2) Lực lượng Cộng sản được tự
do tăng viện vào chiến trường miền Nam mà
không còn bị Không quân Mỹ đánh phá trên các ngả đường xâm nhập vào Nam, quan
trọng nhất là đường mòn Hồ Chí Minh, trên hai lãnh thổ Lào và Cao Miên.
3) Quân đội Việt Nam Cộng hòa
thiếu vũ khí để chống lại các cuộc tấn công của lực lượng Cộng sản và lực lượng
Không quân và Hải quân của miền Nam cũng không đủ khả năng oanh tạc các điểm
tập trung và đường xâm nhập của quân miền Bắc vào Nam.
4) Vì vậy dòng chảy của cuộc
chiến ở miền Nam đã đi từ kế họach “Việt Nam
hoá chiến tranh” bằng cách giảm thiểu tham dự trực tiếp của binh sỹ Hoa Kỳ ở
chiến trường để quân đội Việt Nam Cộng hòa tự bảo vệ lãnh thổ nhưng Mỹ vẫn yểm
trợ không quân khi được yêu cầu để không cho quân Cộng sản xâm nhập thêm từ miền Bắc vào.
Sự thành
công giữ vững lãnh thổ của quân đội Việt
Nam Cộng hòa trong mùa hè năm 1972 trên khắp mặt trận đã chứng minh điều đó.
Nhưng từ khi quân đội Hoa Kỳ và đồng minh rút khỏi miền Nam theo những điều
khỏan chỉ có lợi cho phiá Cộng sản trong Hiệp định Paris 1973 thì tình hình
chiến trường đã dồn quân dội VNCH vào thế bị dộng vì không còn nhận được sự trợ
giúp về hỏa lực của Hoa Kỳ như trước nữa.
Sự mất cân bằng
lực lượng ở chiến trường là như thế nên điều được gọi là “chiến thắng” của
người Cộng sản cũng chẳng vẻ vang gì như
các “sửa gia” miền Bắc tô vẽ lên để làm phim.
Cũng nên biết điểm
quan trọng nhất của hai cuộc chiến Mậu thân 1968 và mùa Xuân 1975 là ngọai trừ
ở một số nhỏ khu vực lãnh thổ ở miền Nam
bị mất vào tay quân Cộng sản, người dân miền Nam đã không hề “nổi dậy” để tiếp
tay cho quân Cộng sản “dành lại chính
quyền về tay nhân dân” như tuyên truyền của Hà Nội trước đây và bây giờ qua
cuốn phim “Mậu Thân 1968” của bà Lê Phong Lan.
Bằng chứng rõ
nhất là đã không hề có chuyện “đông đảo
nhân dân” được “giải phóng khỏi ách kìm kẹp của Mỹ-Ngụy” như tuyên truyền ngụy
tạo của miền Bắc và của tổ chức Mặt trận Giải phóng miền Nam do miền Bắc dựng
lên để “miền Nam hoá” cuộc chiến xâm lăng của đảng CSVN đã đề ra từ năm 1960.
Cũng chẳng có
một tấc đất nào của VNCH đã do “nhân dân nổi dậy” chiếm lấy để lập “chính quyền
nhân dân” trao cho Cộng sản cai trị như
mơ ước của người Cộng sản.
Chuyện xẩy ra ở
chiến trường Thừa Thiên năm 1968 đã chứng minh cho thất bại thành lập chính
quyền ở Huế dù quân Cộng sản đã chiếm cố đô 26 ngày trong Tết Mậu Thân 45 năm
trước đây.
Hãy nghe lời kể của Tiến sỹ
Lê Văn Hảo, nguyên chủ tịch Ủy ban Nhân
dân Cách mạng Thừa Thiên - Huế với Đài
Á Châu Tự Do (Radio Free Asia, RFA) về vai trò “bù nhìn” của ông trong vụ Mậu Thân : “Trong tất cả khi nổ ra Mậu Thân tức là trong 26 ngày đêm Cộng Sản chiếm
thành phố Huế thì tôi ngồi trên núi để nghe đài phát thanh suốt ngày, tất cả
những gì xảy ra dưới Huế tôi chỉ biết qua đài phát thanh của Hà Nội và đài phát
thanh giải phóng.
Nguyễn An: Tức là Ông
không biết những cái gì thêm ngoài những điều mà đài phát thanh nói?
Tiến sỹ Lê Văn Hảo: Tôi không thể
biết được bởi vì tôi không có mặt ở Huế mà nó đâu có dám để cho tôi về Huế vì
anh biết khi nó đề nghị một chức vụ như vậy là cả một sự áp đặt. Nó nói là anh
phải nhận, nếu anh không nhận thì anh cũng không còn đường về thì cả một sự đe
dọa . Anh có thấy tính chất đe dọa đàng sau lời đề nghị đó không?
Nguyễn An: Đây là một
chi tiết rất là mới bởi vì hồi xưa cho đến bây giờ người ta cứ tưởng rằng là
những đoàn quân họ chiếm đóng Huế hai mươi mấy ngày đó là Ông về trực tiếp điều
hành công việc ở đó, thì hóa ra hoàn toàn không có chuyện này!
Tiến sỹ Lê Văn Hảo: Than ôi! Đó
không phải là sự thật lịch sử mà tôi chỉ là một con tin đã bị ở trong thế kẹt
phải nhận lấy chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mà mong có ngày về với vợ con
thôi! Chớ tôi nói thật với anh vai trò của tôi trong Tết Mậu Thân là vai trò
hoàn toàn thụ động, tôi chỉ ngồi trên núi để nghe đài, nghe tin tức.
Nguyễn An: Thưa Ông, như vậy tức là Mậu Thân sau khi họ tấn công
Huế thì sau đó họ đưa ông về?
Tiến sĩ Lê Văn Hảo: Không! Tôi không có về lúc đó, lúc đấy là chỉ có mấy
anh CS về đánh nhau ở dưới thành phố thôi, chớ còn tôi họ đâu có dám đưa tôi
về! Họ biết rằng khi tôi nhận thì tôi cũng miễn cưỡng mà nếu đưa tôi về thì tôi
chắc cũng chuồn luôn thì họ đâu có dám đưa tôi về.”
(Nguyễn An, RFA, 02-02-2008)
Bằng chứng này có làm cho Hà
Nội và bà Lê Phong Lan nhức nhối khi tung ra cuốn phim “Mậu
Thân 1968” không, hay nó đã biến thành công cụ phản tuyên truyền ?
Đó phải chăng cũng là lý do tại sao vào giờ chót miền Bắc đã phải
thay đổi kế họach được thêu dệt là “khởi
nghĩa” trong trận Mậu Thân 1968 ?
Hãy đọc lời của Bà Lê Phong Lan viết về nội dung cuốn phim
: “Khi
soạn thảo kế hoạch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đề ra ba khả
năng của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Một là giành thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng,
công kích và khởi nghĩa thành công ở các đô thị lớn, làm cho ý chí xâm lược của
Mỹ bị đè bẹp, phải chấp nhận thương lượng, đi đến kết thúc chiến tranh theo mục
tiêu, yêu cầu của ta. Hai là giành được thắng lợi quan
trọng ở nhiều nơi nhưng phải đối phó với tình huống Mỹ còn lực lượng, dựa vào
các căn cứ lớn và tăng thêm lực lượng từ ngoài vào phản công giành lại những vị
trí quan trọng và các đô thị lớn - nhất là Sài Gòn. Ba là sau tổng tấn công và nổi dậy, Mỹ tăng cường lực lượng,
mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, sang Lào và Campuchia, buộc quân giải phóng
phải lui về thế thủ hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua về
chính trị.
Trong
đó Bộ Chính trị quyết tâm cố gắng
giành thắng lợi hoàn toàn, tức thực hiện khả năng một.
Đại
tá Vũ Ba kể, 13 ngày trước giờ nổ súng, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Lê Duẩn
gửi điện cho Trung ương Cục miền Nam (ngày 18-1-1968). “Bức điện đó đại ý nói
kế hoạch này chỉ nhằm làm lung lay ý chí xâm lược của địch, buộc địch phải
chuyển giai đoạn chiến lược chứ không khẳng định mục tiêu giành chính quyền về
tay nhân dân” - Đại tá Vũ Ba nói.
Nhưng
khi triển khai thực hiện trên thực tế, ba khả năng của kế hoạch này đã
được chuyển dần thành mục tiêu thực hiện trận quyết chiến chiến lược, giành
chính quyền về tay nhân dân. Đại tá Nguyễn Ngọc Lân nói: “Khi phổ biến ở
dưới thì Trung ương Cục chỉ thị cho các địa phương là chỉ phổ biến khả năng
một chứ không phổ biến các khả năng khác để khỏi ảnh hưởng đến quyết tâm.
Từ chỗ tính toán các khả năng như vậy, chúng ta dồn sức để dứt điểm. Cho nên
chúng ta xài xả láng. Tức là có bao nhiêu xài hết”.
Đại
tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), Cụm trưởng tình báo H63, nhớ lại: “Lúc đó có những
đồng chí cán bộ nói đánh trận này thôi chứ sau còn giặc đâu nữa mà đánh. Anh em
lại bị hút vào cái khả năng một, tức là khả năng lấy luôn Sài Gòn. Lấy luôn
và coi như hết giặc”. (báo Pháp
Luật,TpHCM,01/02/2013)
Nhưng “giặc” chẳng những không hết mà
đã đánh bại quân CS trên khắp mặt trận Mậu Thân 1968 và gây tổn thất nặng nề
cho cả quân chính quy miền Bắc và du kích miền Nam, thường được gọi là “Việt
Cộng”.
BẰNG CHỨNG HỤT HẪNG
Tại mặt trận Sài Gòn, bà Lê Phong Lan
huyênh hoang : “Trong Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Sài
Gòn-Gia Định được xác định là chiến trường trọng điểm của trọng điểm, nơi có
các mục tiêu quan trọng mà bằng bất cứ giá nào ta cũng phải đánh, để đánh thẳng
vào ý chí xâm lược của kẻ thù. Nhiệm vụ xung kích, tiên phong được giao cho các
chiến sĩ lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định.
Cố Đại tá
Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) từng nói: “Đầu tiên là dùng lực lượng xung kích (biệt
động) chiếm lĩnh các mục tiêu. Sau biệt động tới thanh niên, sinh viên để hỗ
trợ, trang bị súng cho biệt động giữ mục tiêu. Mục tiêu đây là cửa mở, chiếm
cửa mở để đại quân (bấy giờ dùng đại quân nhưng sau này không đúng), các tiểu
đoàn mũi nhọn tiếp ứng, vào chiếm hẳn mục tiêu”.
Đúng giờ G,
các chiến sĩ biệt động đồng loạt tấn công vào năm mục tiêu chiến lược quan
trọng. Đội 3 đánh Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn. Đội 4 đánh chiếm đài phát thanh.
Đội 5 đánh Dinh Độc Lập. Đội 6 và 9 đánh Bộ Tổng tham mưu. Đội 11 đánh chiếm
Tòa Đại sứ Mỹ. Nhiệm vụ chiếm và giữ cửa mở được lực lượng biệt động Sài Gòn
hoàn thành, thậm chí hoàn thành vượt mức thời gian được giao. Thế nhưng vào
phút chót, đại quân - các tiểu đoàn mũi nhọn đã không thể xuất hiện để tiếp
ứng. Khi buộc phải đơn thương độc mã chiến đấu giữa vòng vây kẻ thù đông hơn
gấp bội lần thì sự hy sinh của họ dường như là một tất yếu. 88 chiến sĩ trực
tiếp tham gia chiến đấu thì có đến 56 người đã hy sinh, số ít còn lại hầu hết
đều rơi vào tay giặc và bị đày ra Côn Đảo.” (báo Pháp Luật,TpHCM,03/02/2013)
Đại quân là lực lượng chính quy miền Bắc được ngụy
trang dưới cái tên “quân giải phóng” mà theo lời cáo giác của Bà Dương Quỳnh
Hoa, nguyên Bộ trưởng Y tế của cái gọi là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam (hay Mặt trận Giải
phóng miền Nam) đã “chủ ý” đẩy “lính Việt Cộng” miền Nam vào chỗ thiêu thân
trong trận Mậu Thân !
Không có tài liệu nào để lại cho biết số thiệt hại của
quân miền Nam là bao nhiêu nhưng chắc là nhiều lắm !
Sau đây là lời nhìn nhận của bà Lê Phong Lan căn cừ
theo lời kể của những người sống sót : “Do
thời gian hành quân gấp rút, địa hình trắc trở, nhiều đơn vị vừa hành quân vừa
đánh địch nên phần lớn không kịp thời gian theo đúng kế hoạch. Thêm vào đó,
tuyến phòng thủ của địch ở vùng ven khá mạnh nên dù chiến đấu rất anh dũng
nhưng hầu hết các tiểu đoàn mũi nhọn và các đơn vị bộ đội địa phương trên năm
mũi tấn công vào Sài Gòn đã không thể thực hiện nhiệm vụ tiếp ứng cho lực lượng
biệt động đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu trong nội thành. Quân số các tiểu
đoàn cũng bị thương vong nặng sau mỗi trận đánh, có tiểu đoàn chỉ còn lại 1/5
đến 1/10 quân số.
Đại tá Vũ Ba, nguyên cán bộ tham mưu Miền, kể ngày
mùng 5 tết Mậu Thân, tại sở chỉ huy cơ bản đóng ở phía sau, Tư lệnh Hoàng Văn
Thái không nhận được báo cáo từ chiến trường gửi về. Biết tình hình chiến
trường rất căng thẳng và gây cấn, vị tư lệnh liền phái ông xuống chiến trường
gặp tướng Trần Văn Trà để báo cáo nguyên văn rằng: “Dựa vào tin tức của các đài
phát thanh phương Tây, như anh đã biết, ta có thể đánh giá là bước đầu cơ bản
ta đã giành được thắng lợi. Thắng lợi chiến lược quan trọng. Ý nghĩa thắng lợi
to lớn đến đâu, hiện giờ ta chưa có thể hình dung được”. (báo Pháp Luật,TpHCM,03/02/2013)
Cuối cùng, bà Lê Phong Lan
được phép tiết lộ tổng số thương vong của quân CS trong trận Mậu Thân : “Để làm nên chiến thắng vô giá
của sự kiện Mậu Thân 1968, quân dân ta đã phải gánh chịu những hy sinh, mất mát
to lớn. Theo thống kê của Cục Tác chiến, mặt trận đường 9 có gần 4.000 liệt sĩ,
mặt trận Trị Thiên có gần 5.000 liệt sĩ. Con số tương ứng ở đồng bằng Khu 5 là
gần 11.000 liệt sĩ, Tây Nguyên gần 3.500 liệt sĩ, Khu 6 gần 1.300 liệt sĩ, Khu
10 gần 500 liệt sĩ, Đông Nam Bộ gần 14.200 liệt sĩ, Khu 8 khoảng 2.500 liệt sĩ,
Khu 9 hơn 3.500 liệt sĩ.
Tổ quốc và dân tộc Việt Nam đời
đời ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ, trong đó có gần 45.000 người đã ngã
xuống trong Mậu Thân 1968 để Tổ quốc mãi trường sinh.” (báo Pháp
Luật,TpHCM,05/02/2013)
Tuy nhiên, theo tin đồng minh của VNCH thì họ ước lượng đã có từ 85,000
đến 100,000 quân Cộng sản bị loai khỏi vòng chiến sau 3 đợt tấn công trừ
tháng 01 cho đến tháng 9/1968.
Thương vong của
qquân đội đồng minh có trên 6,000
tử thương, ngót 30,000 bị thương và trên 1,000 quân bị mất tích.
Tổn thất thường dân trong vụ Mậu Thân không có thống
kê chính thức, nhưng riêng ở mặt trận Huế thì đã có từ 5,000 đến 6,000 người
chết và mất tích, đa số bị quân Cộng sản thảm sát bằng nhiều hình thức, kể cả
chôn sống hay đập đầu cho chết vì muốn tiết kiệm đạn để chiến đấu như đã diễn
ra ở khu vực Khe Đá Mài thuộc vùng núi
Ðình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa.
Phiá Cộng sản Việt Nam thì đã liên tiếp phủ nhận trách nhiệm và đổ lỗi
cho bom đạn của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà gây ra như lời bà Lê Phong Lan
nói trong cuốn phim .
Nhưng liệu sự dối trá này có bịp được những người dân
Huế còn sống sót hay thân nhân của những oan hồn hãy còn vất vưởng đó đây ở 23
địa điểm họ bị hành quyết bởi lính Cộng sản ?
Phạm Trần
(02/013)
______________________________________________________
TÀI LIỆU
Hoàng Phủ Ngọc Tường: Tội phạm Mậu Thân Huế
________________________
Hố chôn người ám ảnh
T Trần Đức Thạch
Tháng 04/1975, đơn vị chúng tôi (Sư đoàn 341 thường
gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự
Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do
hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn, nhằm không cho các đơn vị
quân lực Việt Nam cộng hoà tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư
đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến
hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời kêu gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những
loạt súng AR15.
Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp
giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung toé giữa vườn cam sau ấp
Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người
lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận
cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến
trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những
người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ
đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh quân lực Việt Nam
Cộng Hoà bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.
... Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi
có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. Ấp
nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ
vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng
loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát.
Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả
rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược
làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.
- Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8
đây!
Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa
mới chịu ngừng.
Tôi quát:
- Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả
mình.
Mấy ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả
lời tôi:
- Anh ơi! đây là lệnh.
- Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang
chết chất đống kia kìa!
- Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em
“giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!
- Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông
không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách
nhiệm!
Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay
lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me
đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên
đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi giật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình
băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều.
Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau.
Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:
- Ai bắn đấy?
- Đại đội phó Hường đấy anh ạ!
- Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang
ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã
rượi trong cảnh cơm trộn máu. Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi
dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ ngụy ác ôn chứ hành động dã
man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù
vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống
sót lại. Bảo chị em phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là
không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi
có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam,
máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:
- Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng
bắn lắm!
- Không lo, có tôi đi cùng!
Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị
bộ đội cụ Hồ sát hại:
- Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp
anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần
đến.
Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột
lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở
hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác
người chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa
ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy
tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không
được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết.
Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho
đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc
theo tiếng gọi lương tâm của mình. Bằng mọi lỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào.
Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi
tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần
ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca
ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ: “Tại sao người ta giết người la
liệt rồi bỏ mặc? Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”
Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không
tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội
nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng
ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải
chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:
- Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ,
tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa
cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.
- Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó
đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những
điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh
cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.
*
Đã mấy chục năm qua, khi hàng năm, khắp nơi tưng bừng
kỷ niệm chiến thắng 30/4 thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn
sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như
thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời
tạ tội. Vô hình dung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội
ác. Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tuỷ câu chuyện này. Nỗi đau
đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhoà được. Còn những người tham gia cuộc
tàn sát ấy nữa có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân huy chương
do Đảng và Nhà nước trao tặng sau này chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm
kể lại câu chuyện bi thương này.
*
Sau ngày 30/04/1975 tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi
áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run
người, mặt tái mét:
- Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này
quy cho phản động là chết cả nút.
Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là đảng viên. Nhưng điều
bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội
cụ Hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập...
Thời gian trôi, tôi từ một chàng lính trẻ măng ngày
nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói
được câu chuyện lẽ ra phải nói . Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè
tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả
thật, sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng
bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị
thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.
Trần Đức Thạch
Cựu phân đội trưởng trinh sát
Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 266
Sư đoàn 341 - Quân đoàn 4 [CSVN)
Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 266
Sư đoàn 341 - Quân đoàn 4 [CSVN)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét