VỀ
MỘT CON NGƯỜI TRONG TÙ
Lê Thăng Long
Lê Công Định đã về. Niềm vui sắp được gặp lại bạn tràn
ngập. Những điều tốt đẹp đang mở ra. Nhưng nhớ đến một người bạn khác vẫn còn
trong vòng lao lý mà chạnh lòng. Có lẽ thời điểm mà những người xa nhà khắc
khoải nhất là Tết. Đã trải qua 3 cái Tết trong tù tôi hiểu rõ cảm giác đó. Những
người ở ngoài nhưng phải xa quê hương vào những ngày Tết còn không tránh được
nỗi nhớ nhà. Những người phải vào tù vì tình yêu quê hương thì bị chia cắt với gia đình vào
những thời khắc xum vầy thiêng liêng là một nỗi đau với họ.
Phân trại 1 trại giam
Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nằm lọt trong một vùng rừng núi xa khu dân cư. Ở đó
suốt ngày không nghe được tiếng xe cộ. Thỉnh thoảng tiếng xe lửa vọng từ xa
xình xịch là thứ âm thanh duy nhất mang đến cảm giác ngoài đời. Ngày đầu tiên
đến trại giam này gợi lại
cho chúng tôi mọi ký ức thời chiến tranh, bao cấp và hợp tác hóa nông nghiệp.
Năm giờ sáng hồi kẻng thứ nhất đánh thức mọi người dậy, chỉ có 30 phút cho một buồng giam từ 50 đến 80
người phải xong việc vệ sinh cá nhân. Năm giờ ba mươi hồi kẻng thứ hai báo hiệu cho mọi
người phải xuất buồng điểm danh. Sáu giờ đến
sáu giờ ba mươi sáng là thời gian xuất trại cho những ai phải đi ra xưởng lao
động. Đó cũng là lúc mà loa phóng thanh đọc thành tích thi đua lao động của
ngày hôm trước rồi tiếp theo là những tiêu chuẩn cho nếp sống văn minh mới trong trại giam. Mỗi
tuần vào sáng thứ hai, các tù nhân còn phải
tập trung vào hội trường ngồi xổm dưới đất nghe giáo huấn đạo đức. Có lúc còn được phát động
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Kết quả là mọi người phải làm một bản thu hoạch bằng việc chép lại mẫu có
sẵn. Hôm nào có tù nhân vi phạm nội quy trại giam và bị xử lý kỷ luật thì sẽ bị đọc tên công khai trên loa
phóng thanh. Lâu lâu có tiếng bom mìn khai thác đá ở đâu đó gần đấy vang rền và chấn động cả khu vực trại
giam, tạo ra cảm giác không khác gì đang sống trong vùng khói lửa. Chưa kể giữa đêm nghe hàng loạt tiếng
đạn xé không
khí tĩnh lặng mà cứ ngỡ như đang bị bố ráp. Mãi sau này mới biết được mỗi khi
nghe tiếng súng như vậy là có đơn vị nào đó bên ngoài về để kiểm tra đột xuất “quân số”.
Ngoại trừ những âm
thanh nói trên, còn lại là một không gian tĩnh lặng ban ngày và u tịch về đêm.
Nếu không có những bức tường cao với hàng rào thép gai thì nơi đó là một khung cảnh đẹp.
Trong khu cách ly chỗ chúng tôi ở, do không bao giờ bị chúng tôi bẫy nên chim
muông về rất nhiều. Trong khu này
có 5 cây xoài đã cho quả, là nơi của bầy se sẻ thường về tụ tập để ăn những hạt
cơm chúng tôi rải cho chúng. Hướng Nam sừng sững một quả núi Gia Lào. Trên đỉnh
núi có một ngôi chùa cùng tên, tương truyền là rất linh thiêng nên có nhiều
khách thập phương thăm viếng. Vào mỗi chiều từng đàn chim vỗ cánh bay về ngọn
núi. Có lẽ đó là nơi nghỉ đêm của
chúng. Có nhiều loài chim nhưng nhiều nhất là quạ. Hồi nhỏ mọi người hay nói
rằng nghe tiếng quạ kêu là có người chết. Còn bây giờ ở đây thì quạ kêu thường
xuyên và thỉnh thoảng thì nghe tin có người tù qua đời. Cũng không hiếm trường
hợp không có thân nhân nhận xác về nên họ đem chôn ở khu nghĩa địa của trại
giam. Nhiều năm trước nghe nói đó là một khu hoang tàn nhưng từ lúc ông Nhâm về
làm giám thị thì đã cho xây dựng lại, đắp xi măng các ngôi mộ và dựng bia nên
khang trang hơn nhiều. Ông Nhâm cũng là người được các tù nhân ở đó quí mến vì
đã áp dụng những chính sách thoáng hơn nhiều thời của giám thị trước đó - bị
gọi là thời phát xít. Nhưng lúc tôi còn ở đó thì ông Nhâm đã bị đình chỉ công
tác vì những chính sách như vậy bị cho là gây ra sai phạm. Sau đó ông ấy bị
chuyển đi nơi khác.
Cứ
mỗi khi nghe thấy có người chết thì tâm trạng chúng tôi lại bồi hồi thương tiếc
cho những cảnh đời phải kết thúc trong tù. Một lần biết tin có một tù nhân
chính trị qua đời ở khu trạm xá bên cạnh vì bệnh hoạn và thiếu thốn. Lòng cứ
thắt lại. Biết được ông về đây chưa được 6 tháng, chưa một lần được gặp mặt và nói chuyện, thì giờ
ông đã về
nơi chín suối. Hơn một ngày sau nghe nói gia đình vẫn chưa thấy lên nhận xác
về. Chúng tôi lâu nay vẫn tìm cách gửi đồ ăn, thuốc lá, thuốc bổ qua cho ông nhưng cũng không được
nhiều vì bị kiểm soát gắt gao. Đến cái tên của ông mà cũng không biết được
chính xác. Người thì nói
Vạn, người thì nói Rạng. Ông bị kết án vì treo cờ, cờ gì chúng tôi cũng không rõ. Nhưng chắc chắn một điều là ông
thuộc nhóm A – cách mà trại
giam phân loại những người tù chính trị. Không biết có bao nhiêu thân phận đã
đấu tranh và ra đi trong âm thầm lặng lẽ như vậy. Chắc cũng không ít.
Đêm
về nơi đây thường rất lạnh. Đất Xuân Lộc này ban ngày nắng như đổ lửa nhưng đêm
khuya thì trời lạnh và thường có gió lùa. Chăn ở đây phát cũng khá dầy nhưng có những đêm vẫn không
đủ ấm, phải mặc thêm quần
áo. Vào mùa mưa thì tiếng ếch nháy, ểnh ương kêu inh ỏi phá tan không gian u
tịch. Mùa nắng thì côn trùng vo ve như một bản hòa tấu giữa trời đêm. Cũng có
những lúc không hiểu lý do gì mà ban đêm hoàn toàn vắng lặng, không có cả tiếng
lá cây xào xạt. Vào những đêm như vậy anh Thức thường không ngủ, nhìn ra cửa sổ
qua song sắt nhà tù. Anh vốn vẫn ít ngủ lúc còn ở ngoài đời. Đêm khuya thường
lên sân thượng ngắm trời và suy tư. Không gian chật hẹp trong phòng giam không
ngăn được tâm hồn anh phóng ra khoảng trời rộng lớn. Thỉnh thoảng tôi vẫn bị
anh đánh thức dậy giữa khuya để cùng ngắm một cảnh trăng đẹp, một ngôi sao lấp
lánh sáng lạ thường hoặc để chia sẻ về một ý tưởng mới. Thức là người yêu thích
thiên nhiên và hay chiêm ngưỡng, khám phá những điều kỳ diệu của chúng. Khi còn
bị tạm giam ở B34, cửa sổ phòng giăng kín lưới mà anh vẫn nhìn ra được những vẻ
đẹp của thiên nhiên ở ngoài. Giữa những bức tường giam thô ráp vô hồn, nhưng
tình yêu thiên nhiên đã truyền cho anh cảm hứng nên những câu thơ tả cảnh:
Bồ đề
xao nắng hoàng hôn đỏ
Mây
tía trôi quyện chuông trời
Chim
đàn đàn về nương lá Phật
Khúm
núm kêu gợi nhớ chùa xa
****
Màn
đêm trì kéo bình minh xuống
Vầng
dương cố vượt núi mây đen
Mây
lành đỏ rừng tàn sương tối
Sáng
lạ vầng đông ló mặt trời.
Lúc
mới về trại giam Xuân Lộc, ba chúng tôi bị đưa ngay xuống khu cách ly. Đây là
khu vực thiếu sự chăm sóc và dọn dẹp lâu năm nên rất dơ bẩn hôi hám. Nó được
dùng để làm nơi đổ rác, chất đống hàng năm trời, đầy ruồi nhặng, giòi nhung
nhúc. Có một đường mương xây bằng xi măng để dẫn nước thoát từ khu trạm xá
nhưng lâu ngày không ai khai thông nên trở thành môi trường lý tưởng cho muỗi
và các mùi hôi thối sinh trưởng. Cỏ um tùm, dây leo dại bò tràn lan ra cả lối
đi. Xác chuột chết rất nhiều, những con còn sống thì to bằng bắp chuối. Các bụi
rậm là nơi ẩn mình lý tưởng của các loài rắn ráo, rắn ngũ hành. Nói thật là
nhìn cảnh tượng đó không thể không có cảm giác rằng họ muốn để chúng tôi trong
một môi trường ô nhiễm. Nhưng anh Thức nghĩ khác. Anh đề nghị họ để chúng tôi
dọn dẹp làm sạch lại khu vực này. Không ngờ họ lại rất hoan nghênh ý tưởng đó
nhanh chóng. Trong vòng gần 2 tháng chúng tôi vét mương, làm cỏ, tải núi rác ra
thành từng cụm nhỏ phơi khô để đốt. Dù làm một công việc chưa bao giờ có kinh
nghiệm nhưng Thức chỉ huy tiến hành nó theo một bản thiết kế hẳn hoi. Lúc đó
chưa có giấy viết gì nhưng anh vẫn tính toán mọi thứ thật chi tiết, qui hoạch
rõ ràng từng cụm trồng rau cải, trồng hoa và các loại dây lêo có trái như khổ
qua, đậu rồng. Bùn dưới mương được vét lên đắp dọc hàng rào B40 để trồng các
loại hoa dại dây leo nhiều màu sắc rực rỡ rất đẹp. Đó cũng là nơi để trồng rau
dền cơm ăn rất ngon và bổ máu. Từ một rãnh mương hôi hám với đầy bọc ni lông,
vỏ chai và các loại phế thải y tế chúng tôi biến nó thành một con kênh nhỏ,
nước trong. Thế là tự nhiên nó trở thành nơi tắm mát của lũ chim.
Chỉ
trong 3 tháng mà chúng tôi đã trồng được hơn 40 loại rau, củ, quả từ những cây
mọc dại và hạt giống gia đình gửi vào. Ăn không thể nào hết, vừa gửi cho các
anh em tù nhân khác, vừa gửi về cho gia đình. Gia đình chúng tôi đã rất vui khi
ăn những sản phẩm đó - một niềm hạnh phúc thực sự. Các cán bộ trại giam khi
muốn có rau sạch vẫn xuống xin một ít. Mà đúng là hoàn toàn sạch, đến cả phân
hóa học cũng không dung tới. Khu vườn sân trước thì lúc về còn đầy gạch đá xà
bần. Chúng tôi gom sạch rồi trồng hoa hồng, vạn thọ và một số loại cây cảnh,
biến khu cách ly thành một không gian sống có thể hưởng thụ được. Mỗi sáng sau
khi làm vườn xong, ngồi ngoài sân uống trà, cà phê ngắm hoa và chim chóc tắm
mát hót líu lo là một sở thích chưa có được lúc ở ngoài đời.
Điều
thú vị nữa là nấu ăn. Anh Thức chưa từng nấu ăn một lần ngoài đời, tôi thì càng
mù tịt. Anh Định có biết đôi chút nhưng nấu không ngon. Nhìn 3 anh em sụt cân
thảm hại sau thời gian tạm giam ở B34, Thức xung phong làm đầu bếp và tuyên bố:
"Chúng ta phải hồi phục nhanh chóng". Lúc đó tôi và anh Định đều nghi
ngờ vì lúc còn ở ngoài Thức rất không thích vào bếp. Nhưng tất cả đều bất ngờ
sau đó. Lúc đầu thì anh chế biến những gì đang có thành những món chẳng có
ngoài đời nhưng ăn rất ngon vì lạ miệng. Sau đó dần dần đến các món "chính
qui" như phở, hủ tiếu Nam vang, cả mì Spagheti, v.v... Định là người sành
ăn mà phải công nhận là ngon và giống khẩu vị chuẩn. Có một món rất ấn tượng mà
Thức tự chế ra, chúng tôi đặt tên là mì gió Trần Đông Chấn. Mỗi khi muốn nấu
một món gì mới Thức lại hỏi tôi và Định ráng nhớ lại nó có hương vị thế nào,
phân tích xem nó gồm những gia vị gì. Rồi anh pha thử tới lui vài lần đến khi
gần đạt thì bắt đầu nấu. Gia đình gửi cho khá nhiều nguyên liệu nhưng cũng
không thể đủ được như ngoài đời. Nhưng Thức luôn chế ra được từ những cái có
sẵn. Tôi đoan chắc rằng các bà vợ mà nhìn thấy cảnh tôi rửa rau, anh Định thái
bắp cải, anh Thức đứng bếp, v.v... thì phải rất khoái chí. Hơn một tháng sau,
trước khi anh Định về Chí Hòa thì đã hồng hào trở lại, lên ít nhất 5 kg. Còn
tôi thì cứ tăng cân đều đặn, có lúc lên gần 80 kg, phải cố tập thể dục rất
nhiều mới không bị chọc là béo. Anh Thức cũng phục hồi rất nhanh và trở nên rắn
chắc. Tôi tin chắc rằng sau này về Thức có thể trở thành đầu bếp giỏi nếu muốn.
Đây
là thời gian tôi học hỏi được nhiều nhất trong đời. Khi còn anh Định ở đây tôi
được nghe rất nhiều về những kiến thức luật học, về triết học và cả quan hệ
quốc tế. Cách ứng xử thâm thúy của anh cũng là điều phải có thời gian gần nhau
liên tục mới học hỏi được. Với anh Thức thì cách thức giải quyết vấn đề một
cách chiến lược cùng với kiến thức kinh tế, chính trị, xã hội sâu rộng của anh
thì có thể học mãi mà không hết. Cũng nhờ hai người mà tôi tập tành làm thơ và
cuối cùng cũng làm được.
Hơn
một tháng trước khi ra tù, tôi được chuyển khỏi khu cách ly lên khu chung ở với
các anh em tù hình sự. Ở đây tôi lại biết thêm một điều là nhiều anh em này rất
quí mến anh Thức. Lý do rất đơn giản: "Nhờ các anh ở dưới đó mà tụi em ít
bị no đòn", họ nói. Cạnh khu cách ly là khu kỷ luật để cùm và giam riêng
những ai vi phạm nội quy trại giam. Muốn vào khu kỷ luật phải đi qua khu cách
ly. Trong khu này có một phòng làm việc dành để tra hỏi những người vi phạm
trước khi quyết định đưa vào khu kỷ luật. Thời gian đầu chúng tôi hay nghe
những người tù khóc xin cán bộ đừng đánh khi bị tra hỏi. Khi có tra hỏi thì họ
không cho chúng tôi đi về phía cuối dãy nhà chỗ có phòng làm việc.
Nhưng
sau một vài lần nghe tiếng kêu la, anh Thức vẫn cứ bước tới. Thấy cảnh tượng đó
anh bảo: "Các cán bộ không nên làm vậy. Luật không cho phép". Họ cũng
ngại nên dừng tay rồi sau đó vào phòng chúng tôi giải thích rằng mấy tù nhân đó
thường vi phạm và rất cứng đầu, gây mất an ninh trật tự trong trại. Thức bảo
không thể vì mục đích đúng mà dùng phương pháp sai. Luật tố tụng hình sự nghiêm
cấm không dược dùng nhục hình dưới bất kỳ hình thức nào. Sau lần đó chúng tôi
không nghe thấy tiếng các tù nhân vi phạm nội quy bị đánh nữa. Cũng nói thêm
rằng theo các anh em tù hình sự đã ở qua nhiều trại giam thì trại Xuân Lộc này
tình trạng đánh đập tù nhân là ít hơn nhiều so với các trại khác.
Tết
này đã là lần thứ tư Thức phải đón trong tù. Điều kiện sinh hoạt của anh 7
tháng nay đã không còn được như trước. Anh bị biệt giam suốt ngày trong
một căn phòng nhỏ chỉ mở cửa vào lúc chia cơm. Không còn được làm vườn, nấu ăn,
không cả sách báo tập viết. Một mình giữa 4 bức tường là một thách thức không
nhỏ. Vừa rồi tôi nhận được tin là anh Phương, một người tù chính trị cũng ở
phân trại 1 trại giam Xuân Lộc, cách đây một vài tháng bị chuyển từ khu chung
xuống biệt giam ở khu cách ly giống anh Thức. Chưa đầy một tuần sau anh đã đập
đầu tự tử vì quá bức bách. Nhưng cũng may anh được cấp cứu kịp thời. Thời gian
ở khu chung trước khi về, tôi cũng quen biết anh Phương. Anh đã ở tù 12, 13 năm
rồi, không có người thăm nuôi nên anh sống bằng cách giặt đồ thuê. Tính anh vui
vẻ cởi mở nên được nhiều người thích. Án của anh hình như là 16 năm.
Thức
là người luôn tìm được cách cân bằng tinh thần của mình trong mọi hoàn
cảnh để không bị rơi vào trạng thái tiêu cực, luôn tìm được nguồn an lạc từ
trong cho dù xung quanh là những điều không thuận lợi. Thời tạm giam ở B34 còn
khắc nghiệt hơn nhiều nhưng anh vẫn ra khỏi đó với một tinh thần tươi mới và
những bài thơ thật hào khí và lãng mạn. Nên tôi tin rằng hiện giờ anh cũng
không buồn. Tuy vậy vẫn không khỏi chạnh lòng vì biết anh đang rất nhớ nhà, nhớ
những người thân thương, nhớ bạn bè và quê hương đang còn thổn thức. Giao thừa
này tôi sẽ thức cùng bạn vì lúc đó bạn sẽ thả hồn theo đất nước để làm một bài
thơ khai bút đầu xuân.
Mừng
năm mới Quý Tỵ, nguyện ước cho tự do của anh và cũng nguyện làm hết sức mình để
anh sớm trở về.
Lê
Thăng Long
27
Tết Quý Tỵ 2013
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét