Nỗi buồn
của ông Hữu Thọ
Friday,
February 15, 2013 5:48:59 PM
Ngô Nhân Dụng
Ngô Nhân Dụng
Trong một bài phỏng vấn trên tạp
chí Giáo Dục cuối tuần qua, ông Hữu Thọ đặt câu hỏi: “Tình trạng thụ
động của gần 20 triệu đảng viên Ðảng Cộng sản Liên Xô trước tình trạng
tan rã của Liên bang và sự sụp đổ của Ðảng nói lên điều gì?”
Nói lên điều gì? Ðây là một thắc mắc chính đáng. Ðối với một người
còn là đảng viên cộng sản, nhắc đến cái chết của Liên Xô phải thấy đau
đớn. Giống như một người có 20 triệu đứa con, mà khi té ngã vỡ đầu thì
không đứa con nào chịu nhúc nhích một ngón tay để cứu bố. Tình cảnh não
lòng thật. Lúc Ðảng Cộng sản Liên Xô đã chết mà cũng không có đứa con
nào làm đám tang để nhận một vòng hoa phúng điếu. Ông Hữu Thọ vẫn thắc
mắc: “Vì sao hơn 200 triệu dân Xô viết không bảo vệ Ðảng trong lúc nước
sôi lửa bỏng?” Cả nước Nga chỉ thở ra nhẹ nhõm; không còn ai muốn trở
lại kiếp sống cũ.
Ðặt câu hỏi “Vì sao” nhưng hầu như trong cả bài phỏng vấn đăng trên
báo Giáo Dục, ông Hữu Thọ không đưa ra câu trả lời nào, mặc dù ông cho
biết đã đọc rất nhiều sách viết về cuộc sụp đổ của Cộng sản Liên Xô.
Người đọc chỉ có thể đoán ý tưởng ông định dùng để trả lời cho câu hỏi
đó, khi ông đưa ra những đề nghị để giúp đảng Cộng sản Việt Nam tránh
khỏi tình trạng Liên Xô. Các đề nghị của ông, tóm tắt lại, là phải làm
sao cho các người lãnh đạo đảng đảng viên tốt hơn, các đảng viên cũng
tốt hơn, thì đảng sẽ tránh khỏi tan rã.
Về giới lãnh đạo, ông Hữu Thọ nhận xét thế này: “Một số người lãnh
đạo đã ngày càng không muốn nghe những lời nói thẳng, chỉ muốn nghe lời
khen bùi tai do đó quy tụ chung quanh những người thiếu trung thực.” Nói
chung về các đảng viên thì ông thấy có sai lầm, “sai lầm trong chọn
lựa, sử dụng cán bộ, sai lầm trong việc rèn luyện đội ngũ dẫn tới suy
thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống.” Trên báo Nhân Dân, mà ông đã từng
chỉ huy, hồi năm ngoái ông Hữu Thọ mới viết bài “Ngậm miệng ăn tiền;”
trong đó ông than rằng nhiều cán bộ, đảng viên đã chọn thái độ “im lặng
bỏ qua, không can gián, không góp ý phê bình những sai sót của lãnh
đạo.” Ông còn nói, “không ít người né tránh chọn thái độ ngậm miệng,
chọn cách yên phận trong canh bạc cơ hội.”
Những nhận xét này thì cả nước biết cả rồi. Người dân còn biết nhiều
hơn nữa kia. Những câu hỏi vẫn là: Làm thế nào để Ðảng Cộng sản Việt Nam
thoát khỏi những cái tật kể trên, ngõ hầu cứu cho đảng không theo gót
Liên Xô? Cứ theo những lời ông Hữu Thọ nói, thì chỉ có một cách là “rèn
luyện” và “học tập.” Học tập cái gì? Chỉ thấy ông nhắc đến một điều là
tránh chủ nghĩa cá nhân. Thay đổi con người trong đảng, giúp họ không
nghĩ đến lợi riêng nữa, thì chắc đảng sẽ thoát chết.
Ðọc những lời ông Hữu Thọ nói chúng ta càng tin thêm là chắc chắn
đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tan rã. Không cách nào thoát được. Ông Hữu Thọ
là một lý thuyết gia số một trong đảng, ông từng chỉ huy cái miệng của
đảng là báo Nhân Dân, lại đứng đầu ngành văn hóa, tư tưởng. Nhưng cách
suy nghĩ của ông hoàn toàn ngược lại với phương pháp nghiên cứu của ông
Karl Marx. Marx luôn luôn nghĩ rằng kinh tế quyết định, văn hóa, tư
tưởng con người đều bị kinh tế cuốn theo. Khi phân tích xã hội tư bản và
tiên đoán là nó sẽ tan rã, Marx không bao giờ nói là kinh tế tư bản sẽ
chết vì con người trong đó không chịu “học tập tốt chủ nghĩa tư bản!”
Nếu sống vào thời nay, chắc Karl Marx sẽ phân tích xem trong cơ cấu xã
hội Liên Xô có cái gì không ổn, mới gây ra cảnh 20 triệu đảng viên và
200 triệu người dân hoàn toàn thờ ơ khi chế độ cộng sản sụp đổ. Ông Hữu
Thọ đặt câu hỏi hiện tượng đó nói lên điều gì? Nhưng trong cả bài phỏng
vấn ông không nhận ra nó nói lên cái gì cả. Ông không rút ra được một
bài học thích đáng.
Lý do chính khiến chế độ Xô Viết sụp đổ là cả guồng máy kinh tế,
chính trị, tư tưởng đã dần dần tê liệt trong hơn bốn chục năm. Các người
quản lý nhà máy cho đến các công nhân không ai quan tâm đến việc gia
tăng hiệu năng sản xuất mà chỉ lo làm sao báo cáo cho phù hợp với các kế
hoạch, chỉ tiêu. Nếu cần thì nói dối. Các cán bộ cũng chỉ tìm cách thi
đua thành tích chứ không cần sự thật. Tình trạng toàn thân xơ cứng đó
khiến đến cái đầu cũng mắc bệnh xơ cứng. Dối trá trở thành một nếp sống;
không còn ai tin vào chủ nghĩa giáo điều nữa. Khi chính những cơ xưởng
sản xuất vũ khí cũng dần dần xơ cứng, giống như trong nhà máy làm giầy
hay làm tủ lạnh, thì chính ông trùm KGB Andropov thấy phải thay đổi từ
trên xuống dưới. Ông kêu một người trẻ hăng hái là Gorbachev về giao cho
nhiệm vụ đó. Sau cùng Gorbachev cũng bó tay, vì xã hội Liên Xô hư hỏng
từ nền tảng, tình trạng tan rã dù có trì hoãn cũng không thể ngăn chặn
được.
Vậy tại sao khi chế độ tan rã, các đảng viên không ai thèm đưa tay ra
cứu? Bởi vì họ lo cho con cháu. Họ đã thấy, đã biết, đã sống trong chế
độ, họ hiểu rằng bất cứ cái gì lên thay thế cũng tốt hơn tình trạng họ
đang sống. Họ không muốn con cháu sau này sẽ phải đóng tuồng sống trong
giả dối như họ nữa. Khi 20 triệu đảng viên, được hưởng đủ thứ đặc quyền
mà còn nghĩ như vậy thì 200 triệu dân Nga đâu có thiết tha gì với đảng
Cộng sản? Sau 70 năm sống dưới chế độ cộng sản người Nga chỉ muốn quay
trở về sống cuộc đời bình thường, không cần mỗi ngày phải hô những khẩu
hiệu mà chính họ cũng không tin.
Các đảng viên Xô Viết không thiết tha với đảng vì chính họ sống cảnh
xã hội tan rã từ nền tảng, ngay trong đầu của họ, mỗi ngày, suốt mấy
chục năm từ năm 1956 khi Khrushchev vén màn cho mọi người thấy tấn tuồng
Stalin lừa lọc, đẫm máu, man rợ như thế nào. Họ nhìn thấy rõ tất cả các
khẩu hiệu, giáo điều, tư tưởng, kế hoạch, chỉ tiêu, đều là một trò dối
trá có hệ thống.
Ông Hữu Thọ còn tự hỏi: “Vì sao gần 20 triệu đảng viên của Liên Xô
không giữ nổi sự sụp đổ của Ðảng, trong khi (vào thời Ðại chiến Thứ hai)
chỉ có hơn 5 triệu đảng viên đã là nòng cốt đoàn kết toàn bộ các dân
tộc sống trong Liên bang cho cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại chống chủ
nghĩa phát xít thắng lợi vẻ vang?”
Ông Hữu Thọ hiểu lầm dân Nga khi họ quyết tâm chống Ðúc Quốc Xã.
Trong Ðại chiến Thứ hai, dân Nga đã đánh bại quân Ðức; nhưng yếu tố
quyết định không phải là nhờ chủ nghĩa Cộng sản. Họ chiến đấu vì tinh
thần yêu nước. Trong thời chiến, chính quyền Nga không đề cao chủ nghĩa
cộng sản nữa mà chỉ kêu gọi bảo vệ Mẹ Tổ Quốc. Cũng như người Việt Nam
đã đoàn kết kháng chiến chống Pháp vì yêu nước chứ không phải vì một chủ
nghĩa xa xôi nào cả!
Nhưng phải cảm ơn ông Hữu Thọ đã nhắc đến hiện tượng 20 triệu đảng
viên cộng sản Liên Xô hoàn toàn thờ ơ khi chế độ Xô Viết tan rã. Ðó là
một sự kiện lịch sử không thể nào nhắm mắt, bịt tai không biết tới được.
Và những người biết cái đầu cũng không thể nào làm ngơ không suy nghĩ
nguyên nhân vì sao có hiện tượng đó. Nhờ ông, các đảng viên cộng sản
Việt Nam sẽ suy nghĩ và phải thấy đảng của họ không thể nào sống mãi
được.
Vì chúng ta không thể giả thiết là 20 triệu đảng viên cộng sản Liên
Xô đều là những người kém thông minh. Cũng không thể giả thiết là họ đều
hèn nhát, ích kỷ. Ít nhất, phải coi họ là những người bình thường, như
chúng ta. Họ lãnh đạm, bỏ rơi đảng cộng sản bởi vì trong lòng họ đã sẵn
sàng từ mấy chục năm rồi. Chỉ cần dùng lương tri bình thường, họ cũng
biết đảng Cộng sản phải tan rã. Họ còn lo là chế độ mà kéo dài thì đời
con, đời cháu họ sẽ phải tiếp tục sống trong dối trá và chịu cảnh thiếu
thốn như chính họ.
Nhưng vấn đề chính không phải là con người các đảng viên cộng sản đã
thay đổi, không còn tin tưởng vào đảng của họ nữa. Họ không thể giữ được
niềm tin sau khi đã thể nghiệm ngay trong cuộc sống của họ để thấy tất
cả chủ nghĩa, chế độ chỉ là một tấn tuồng dối trá. Người có lương tâm
không thể sống trong dối trá suốt đời mà không tự cảm thấy hổ thẹn.
Chính cơ cấu tổ chức xã hội của đảng cộng sản gây ra tình trạng niềm tin
tan rã.
Như chính ông Hữu Thọ cũng nhận ra; vấn đề chính là cơ cấu: “Chúng ta
là đảng viên,... có khi là đại biểu dự mấy kỳ đại hội Ðảng,... nhưng
sau đó không còn có cơ chế thực tế có hiệu lực nào để tiếp tục đóng góp,
kiểm tra ngay cơ quan lãnh đạo do mình bầu ra.”
Ðảng Cộng sản ở Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam đều được tổ chức
theo lối đó. Trong cơ cấu đảng, và trong cơ cấu xã hội, không có một “cơ
chế thực tế có hiệu lực” nào để những người bên dưới có khả năng kiểm
soát những người nắm quyền. Ðiều này đã được Robert Michels, một nhà xã
hội học Ðức, nhận thấy từ năm 1911. Ông nhận thấy những đảng chính trị
tập trung quyền vào trong tay một nhóm “quả đầu” thì không thể nào sống
theo các quy tắc dân chủ được. Vì những người ngồi trên cùng kiểm soát
tất cả nhân lực và tài nguyên của đảng, tự nhiên họ muốn bảo vệ quyền
lợi đó tới cùng. Phân tích một cách khách quan ai cũng phải công nhận
điều đó là sự thật. Tình trạng đó khiến các đảng Cộng sản không thể nào
tự thay đổi từ bên trong được.
Người phỏng vấn ông Hữu Thọ nhận xét: “thực ra nguy cơ suy thoái đạo
đức, nguy cơ đánh mất dần phẩm chất cách mạng... không phải tới bây giờ
mới xuất hiện mà đã ‘song hành’ cùng với sự phát triển của chúng ta từ
lâu lắm rồi...” Ðiều này đã diễn ra trong đảng Cộng sản Liên Xô, còn
đang diễn ra ở Trung Quốc, Bắc Hàn, cũng như Việt Nam. Tất cả chỉ vì cơ
cấu tổ chức của đảng, và các đảng tổ chức xã hội, ngay từ đầu đã giết
chết khả năng tự cải thiện.
Các xã hội tự do dân chủ có khả năng tự cải thiện vì áp dụng quy tắc
tạo thế cân bằng trong cơ cấu quyền lực để những cơ quan nắm quyền tự
động kiểm soát lẫn nhau. Ðảng Cộng sản không tổ chức theo lối đó. Ông
Hữu Thọ mơ ước đảng ông sẽ có cơ chế khác, “để mỗi đảng viên trở thành
thành viên tích cực, chủ động chứ không thụ động khoanh tay nhìn mất
Ðảng” như ở Liên Xô. Nhưng chính ông cũng không biết cái cơ chế đó như
thế nào? Liệu có thực hiện được không? Một đảng chủ trương chuyên chế
độc tài thì chính nó không thể nào sống theo lối dân chủ tự do được; đó
là một sự thật. Chỉ những đảng bằng lòng cai trị dân theo lối dân chủ
mới có thể tự dân chủ hóa được mà thôi.
Chúng tôi cũng nghĩ như ông Hữu Thọ, là các đảng viên cộng sản Việt
Nam cần “chủ động chứ không thụ động khoanh tay nhìn mất Ðảng.” Họ nên
đóng vai “chủ động” giúp cho đảng của họ rút lui một cách hòa bình. Thế
giới luôn luôn thay đổi. Diễn biến hòa bình chắc chắn tốt hơn là diễn
biến không hòa bình! Nếu được như vậy thì chắc ông Hữu Thọ sẽ hết buồn.
Bởi vì chắc ông cũng thấy cứ tham lam nắm lấy quyền lực để làm gì khi
không ai còn hãnh diện về chính đảng mình nữa? Khi nhìn lại ai cũng thấy
“nguy cơ suy thoái đạo đức, đã ‘song hành’ cùng với sự phát triển của
chúng ta từ lâu lắm rồi.” Có thể nói, trong suốt lịch sử đảng! Càng phát
triển, càng nắm quyền lâu ngày, thì lại càng suy đồi! Một cái đảng như
vậy thì tiếc làm gì nữa? Cho nên các đảng viên cộng sản giờ phải lo giúp
đảng giải thể một cách nhẹ nhàng, êm đẹp; hơn là “thụ động khoanh tay”
nhìn nó chết bất đắc kỳ tử như ở Liên Xô. Ðược như vậy thì may mắn cho
chính họ, cũng như cho người dân Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét