Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

Những mẫu chuyện về ngày 30/4/1975

Những mẫu chuyện về ngày 30/4/1975
Nhiều tác giả
mardi 30 avril 2019
Danquyen

Bài thơ sau đây được nhặt từ túi áo một chiến binh miền Bắc tử trận tại chiến trường miền Nam những năm 1969. Trong hồi ký của tử sĩ nầy, người ta còn biết anh là con của bà Trần Thị Phấn ở Hải Dương. Bài thơ nầy được đăng trên báo chí VNCH thời đó. Bài thơ không ghi tên tác giả, được một thường dân miền Nam mến thương cảnh ngộ và ghi lại.

"Từ buổi con lên đường xa mẹ
Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào Trung
Non xanh núi biếc chập chùng
Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ
Tuổi thanh xuân cuộc đời như hoa nở
Vì hòa bình đâu ngại bước gian nguy
Mấy tháng trời, ngày nghỉ đêm đi
Giày vẹt gót áo sờn vai thấm lạnh
Có những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh
Mẹ hiền ơi con nhợt nhớ quê mình
Khói lam chiều, giàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ mái đình xưa, ôi nhớ quá!
Vào nơi đây tuy đất người xa lạ
Nhưng miền Nam vẫn cùng một quê hương
Vẫn hàng dừa xanh, vẫn những con đường
Vẫn hương lúa ngọt ngào
Tiếng tiêu gợi nhớ 
Con trâu về chuồng
Ðã qua buổi ban đầu bỡ ngỡ
Con nhìn ra nào giải phóng gì đâu?
Buổi chợ đông vui, đồng lúa xanh màu
Mái chùa cong buông hồi chuông tín mộ
Lớp học tưng bừng những đàn trẻ nhỏ
Ðang nhịp nhàng vui hát bản đồng ca
Và sau vườn luống cải đã vàng hoa
Ðàn bướm nhỏ rủ nhau về hút mật
Xóm dưới làng trên niềm vui ngây ngất
Sao người ta bắt con phải đốt xóm phá làng
Phải gài mìn gieo tang tóc thương đau
Ðã nhiều lần tay con run rẩy
Khi gài mìn để phút sau bỗng thấy
Xác người tung và máu đổ chan hoà
Máu của ai
Máu của bà con ta
Máu của người như con như mẹ
Ðêm hôm ấy mắt con tràn lệ
Ác mộng về, con trằn trọc thâu canh."
(Bạn đọc Nguyễn Anh Tuấn sưu tầm)




Chuyện những người lính 

Chuyện anh Bình.

Qua anh Vinh, một cựu binh thành cổ Quảng Trị, tôi được số điện thoại của anh Bình. Trong những ngày vội vã về Sài Gòn sửa nhà cho Má, tôi tranh thủ liên lạc với anh.
Bình từng là hạ sỹ quan thủy quân lục chiến Quân lực VNCH, bị cụt cả hai chân trong trận chiến nồi da xáo thịt ở Thành cổ Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa 1972. Hiện nay, anh hàng ngày ngồi xe lăn bán vé số ở khu vực quanh trường đua Phú Thọ. Nhận được điện thoại của tôi, anh mừng lắm, tuy không hề quen biết nhau. Tôi muốn biết hiện anh ở đâu để chạy xe Grab đến. Anh nói tôi: Khi nào đi cứ gọi, tôi sẽ chỉ cho anh là tôi đang lăn bánh nơi nào.
Chiều hôm qua, chúng tôi hẹn nhau trước cửa chung cư Phú Thọ, đường Lê Đại Hành. Thanh toán xong tiền Grab, tôi gọi điện xem anh ở đâu, thì nghe anh nói: „Cứ đứng đó, tôi thấy anh rồi!“. Từ bên kia đường, một người đàn ông ngồi xe lăn băng tới.
Khuôn mặt rạng rỡ của anh, đôi giày da lắp vào đôi chân cụt và cặp nạng trên chiếc xe lăn đã làm tôi xúc động. Tôi rủ anh vào một quán cà phê đầu phố để trò chuyện. Bình nhỏ hơn tôi 3 tuổi nên kêu anh xưng em. Tôi khâm phục sự uyển chuyển, thao tác nhanh nhẹn, kết hợp xe, nạng và đôi tay trong mọi địa hình của anh. Bình đã sống 47 năm bằng phần còn lại của thân thể, nhưng anh không hề là kẻ „phế“, cả về thể xác lẫn tinh thần.
Tôi nói vậy vì Bình không nhận mình là „thương binh“. Anh nói „Em chỉ là phế binh“.
- Sao vậy?
- Đó là cách phân biệt người lính bị thương ở hai trận tuyến hồi giờ – Bình cười- Em quen với cái danh hiệu đó rồi. Vả lại ngày nay, những cán bộ tuy gọi em bằng từ đó, cũng không còn ác ý như xưa nữa. Họ không còn miệt thị chúng em là đồ „Ngụy“, là lũ „Bám càng“ như xưa. Những năm đầu sau 75, tuy em tàn phế như thế này mà cứ đến 30.4 hay 2.9 là em cũng bị tập trung cùng các anh em „ Ngụy“ đến một nơi. Họ nhốt tụi em 3-4 ngày, bắt gia đình ngày mang cơm đến nuôi, rồi hết ngày lễ trả về nhà. Giờ thì cảnh đó đã may mắn chấm dứt rồi.
- Các anh và những người miệt thị, hành hạ các anh chỉ khác nhau ở sự may rủi. Nếu họ sinh ra ở miền Nam còn anh sinh ra ở miền Bắc thì tình cảnh lại ngược lại thôi – Tôi trầm ngâm.
- Dạ cái số mình nó vậy mà anh. Bình cười hiền khô. 
Trong cả câu chuyện của Bình tôi không hề nhận thấy sự hận thù đối với những người đã ngược đãi anh. Đối với cả những người đã bỏ rơi các anh, từ đó đến nay chưa hề có ai đứng ra xin lỗi về việc họ bỏ đất nước, bỏ chiến hữu ở lại, anh cũng không giận họ. Anh coi tất cả đều là số phận, của từng con người, của cả dân tộc.
Số phận đã đưa cậu thanh niên Bình gia nhập Quân lực VNCH, như là nghĩa vụ của mỗi công dân đối với nhà nước. Viên hạ sỹ thủy quân lục chiến đã bị pháo cối băm nát đôi chân trong trận đánh một mất một còn với những người đồng bào ở bên kia chiến tuyến. Bình hoàn toàn tỉnh táo khi được máy bay trực thăng chở đến quân y viện ở Huế. Sau này, đồng đội nói với anh rằng, những người bị thương vẫn tỉnh táo mà sống sót như anh xưa nay là hiếm. Để cứu anh, các bác sỹ phải cắt cả hai chân đến gần đầu gối.
Bình giải ngũ với chứng nhận thương tích 100%. Tuy cảm thấy tuyệt vọng với tương lai của mình, anh vẫn thoát được mối lo vật chất. Chính quyền VNCH cấp cho anh mức lương thương binh hơn 10 ngàn đồng thời đó, khoản tiền khá hậu hĩnh cho phép người thương binh không phải lo cho cuộc sống đến cuối đời.
Ngày 30.4.1975, Bình buồn vì sự sụp đổ của chế độ đang nuôi mình vì đã đổ máu cho nó. Nhưng cũng như hàng triệu người Việt khác, anh mừng vì chiến tranh kết thúc. Anh mừng vì sẽ không còn ai phải chịu những mất mát như anh. 
Nhưng chỉ ít ngày sau, anh biết quyển sổ lương thương binh của anh đã mất giá trị. Khủng khiếp hơn thế nữa, nhân phẩm của người thanh niên 21 tuổi cũng bị mất. Những gì xảy ra sau đó, khỏi cần kể. Chỉ biết rằng biến cố đó đã xô đẩy anh đến chỗ lê lết đi ăn xin trên đường phố Sài Gòn, dưới ánh mắt thương xót của người này và trong sự ghẻ lạnh, khinh bỉ của kẻ khác. 
Trong cái thảm cảnh đó, niềm an ủi duy nhất của anh là: Mình vẫn may hơn nhiều đồng đội khác đã tan xác nơi chiến trường. 
Niềm tin vào cuộc sống không bao giờ tắt đã khiến Bình gượng dậy, quyết rũ bỏ kiếp ăn xin để trở thành người bán vé số. 
Rồi niềm tin đó được sưởi ấm thêm lên, khi có một người con gái đem lòng yêu thương anh bán vé số tàn phế. Hạnh, cô công nhân nghèo, quyết chung sống với anh, 10 năm sau ngày anh bị mất quyển sổ lương thương binh, bị tước quyền làm người bình thường. Hạnh cũng bỏ nghề công nhân, theo Bình rong ruổi bán vé số. Cuộc đời vé số của gia đình nhỏ bé đó đã kết hoa trái và Hạnh tặng Bình một cháu trai.
Cho đến hôm nay, khi Hạnh đã về già, bị bệnh tật hoành hành, không còn làm việc được nữa, Bình vẫn coi Hạnh là cứu tinh của đời mình và anh vẫn hàng ngày đi bán vé số để nuôi cô. 
Tôi hỏi: Cháu trai có giúp được gì cho bố mẹ không?
-Chúng em khó khăn quá, không có điều kiện nuôi cháu ăn học đến nơi đến chốn, vả lại với cái lý lịch „con lính ngụy“ cũng khó cho cháu anh à. Nay cháu đã 30 tuổi và chỉ đi làm bảo vệ cho các cửa hàng, đủ cho cuộc sống của cháu thôi anh. Quan trọng nhất là cháu biết thương ba má nghèo.
Bình lạc quan với cuộc đời vì những tình thương đó. Chiếc xe lăn anh đi, cũng do các linh mục và tín đồ dòng thánh „Chúa cứu thế“ quyên tặng. Anh kể: nhiều người nhìn thấy em, họ mua vé số mà không cần trúng, họ chỉ mua cho em! 
Trong các tình cảm đó. Bình nhớ nhất tình cảm của anh Phong.



Chuyện anh Phong
Vào một ngày nọ, Bình gặp một cặp vợ chồng người Bắc sang trọng. Anh Phong, một doanh nhân nhỏ ở mũi Né cùng vợ vào Sài Gòn chơi. Tình cờ Phong gặp Bình và cả hai người đều linh cảm thấy có gì đó gắn bó họ với nhau.
Phong là anh bộ đội miền Bắc, cũng bị thương trong trận giành giật thị xã Quảng Trị hè 1972. Máu của hai anh đã cùng đổ chỉ cách nhau vài mét chiến hào.
Nhưng họ gắn bó với nhau không chỉ vì cùng chứng kiến một thảm cảnh, mà còn vì cùng chia sẻ với nhau một giá trị: Tình người!
Phạm Hùng Phong sinh 1953, nhưng may mắn hơn Bình là tại Hà Nội. 17 tuổi Phong cũng đi nghĩa vụ quân sự như Bình, nhưng may mắn là đi giày vải và đội mũ cối. Chiến tranh đã đẩy cả hai anh đến Quảng Trị để bắn giết nhau. 
Trich hồi ký của Vinh Nguyen ở Dortmund (Đức), đồng đội của Phong:
„.. Phong bị trúng 2 mảnh đạn, một mảnh vào đầu, một mảnh xuyên thái dương vào sau mắt phải, ngất đi. Do nằm cạnh cửa hầm, sau đó anh còn bị 2 phát đạn AR15 bắn thẳng vào cẳng chân.
Khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trong một chiếc lều bạt của Thủy quân lục chiến (TQLC). Mấy người lính nói giọng miền Nam và giọng Huế đang lao xao quanh anh. Một người lính đeo túi cứu thương cắm phập mũi kim vào vai anh, tiêm 1 liều chống uốn ván, rồi tiến hành băng bó các vết thương. Họ nói trong khi lục soát trận địa, thấy anh còn thoi thóp thở, họ đã khiêng anh về đây. Chắc quân ta tưởng anh đã chết nên khi rút đã bỏ lại. Sau này gia đình anh còn nhận được Giấy báo tử là anh đã hy sinh ở mặt trận phía Nam. Sau khi bị thẩm vấn qua loa, anh khai là Binh nhì thuộc Trung đoàn 48, F320B, họ đưa anh lên xe tải cùng 1 số tù binh khác và chở về Huế. Trong số tù binh đó anh nhìn thấy khoảng 10 đồng đội cùng C1 E48, có cả Đại đội trưởng Mai người Hải phòng, Trung đội trưởng Đông, và cậu Sơn cùng đơn vị huấn luyện.... Nhưng tất cả đều khai là lính mới, mới được bổ sung vào Thành đêm qua, và không ai biết ai cả. 
TQLC chở anh vào nằm ở Bệnh viện Nguyễn Tri Phương 2 ngày, thấy vết thương khá nặng, họ lại đưa anh ra sân bay Phú Bài tải thương về Đà nẵng. Trên chiếc máy bay C130, ghế ngồi đã được tháo hết, khoang máy bay được cải tạo thành những giá để băng ca, có 5 tầng giá như vậy. Băng ca với thương binh được đẩy vào theo đường ray, rồi xếp lên các giá như xếp sách trong thư viện. Hạ cánh xuống sân bay Đà nẵng, trong khi chờ xe tải ra chở đi, anh tò mò ngắm nhìn cảnh vật xung quanh. Đúng là 1 thế giới khác hẳn, ồn ào ầm ĩ, đầy ngập vật chất và kỹ thuật hiện đại. Anh lạ lẫm nhìn mấy cô gái ăn mặc hở hang, không hiểu là điếm hay nhân viên sân bay, đang ưỡn ẹo cạnh mấy người lính Mỹ. Những người lính Mỹ này vừa hết hạn phục vụ và đang chờ máy bay để về nước.
Xe tải nhà binh chở anh về Tổng y viện Duy tân điều trị. Đó là 1 Quân y viện rất lớn, chủ yếu điều trị thương binh VNCH, nhưng cũng có một khu dành riêng để điều trị thương binh tù binh CS. Khu vực này có Quân cảnh canh gác, còn lại thì không có gì khác biệt trong cách đối xử. Các anh được hưởng quy chế Tù binh của Liên Hợp Quôc, 1 USD/ ngày, còn các chế độ bệnh viện, thuốc men, ăn uống...thì cũng như Thương binh VNCH vậy
Chân anh Phong bị gẫy nên phải bó bột, người ta còn khoét 1 lỗ để thay băng cho vết thương phần mềm ở cẳng chân. Một lần thay băng thấy có dòi, viên Bác sỹ Quân y đã thẳng tay tát người Y tá vì tội không sát trùng kỹ vết thương. Bác sỹ Quân y này tên Khánh, vốn là người Bắc di cư, quê ở phố hàng Đào Hà nội. Thấy anh Phong nói mình cũng là người Hà Nội ở Phố Phan Bội Châu, ông tỏ ra có cảm tình với anh. Ông đã làm tất cả để anh không bị cưa chân và khoét mắt. Sau này, vào năm 2010, có dịp sang Mỹ, anh đã tìm đến Quận Cam dò tìm Bác sỹ Khánh để tri ân. Nhưng tiếc thay, đáy biển mò kim, không thể nào tìm được.“ [1]
(Hết trích)
Anh Phong mong muốn nhờ bạn bè FB tìm hộ bác sỹ Khánh, nghe nói đang định cư bên Mỹ. Tất cả chúng ta ở đây, ai cũng mong cuộc hội ngộ này xảy ra. 
Sau khi đọc bài về anh Bình thương binh TQLC, Phong gọi điện cho tôi, kể về những trải nghiệm của anh trong thời gian điều trị ở Tổng y viện Duy Tân (Đà Nẵng). Ở đó, các thương bệnh binh Bắc Việt được điều trị trong một khu riêng có hàng rào thép gai, do quân cảnh canh gác. Nhưng chiều chiều, các thương binh VNCH vẫn kéo đến bên hàng rào bắt chuyện với các tù binh Việt Cộng và họ hay mang thuốc lá cho các anh. Phong và nhiều anh em tù binh khá ngỡ ngàng trước sự thân thiện của những người đồng bào từ phía bên kia.
Trích hồi ký …“Phong bị thương, bị bắt ngày 15.9.1972 và may mắn chỉ nằm trong tay đổi phương có 6 tháng. Tháng 3 năm 1973, sau khi Hiệp định Paris ký kết, Phong cùng đồng đội được máy bay chở ra trao trả ở bờ sông Thạch hãn. Khỏi phải nói gia đình anh mừng rỡ đến mức nào, vì trước đó nhận được Giấy báo tử, họ đã lập bàn thờ làm lễ truy điệu cho anh. Mẹ anh đã khóc hết nước mắt, tinh thần lẫn thân thể suy sụp trầm trọng, thì nay lại thấy anh từ cõi chết trở về. Tất cả bạn bè và người thân ai cũng mừng rỡ cho anh.
Xuất ngũ về với đời thường, anh phải lăn lộn làm đủ nghề để sống. Bán nước ở hè phố, làm thuê, vay tiền đi buôn chuyến Hà nội-Sài gòn, rồi bị lừa trắng tay, ôn thi và đỗ Đại học, xin vào làm cơ quan nhà nước...cái gì anh cũng trải qua. Nhiều lần vết thương cũ tái phát, có lần phải vào Viện 108 mổ dùng nam châm điện để hút mảnh đạn từ sau mắt ra...[2]
(Hết trích)
Để tránh những cơn đau hành hạ các vết thương khi trái gió trở trời ở miền Bắc, Phong phải vào Nam làm ăn và cuối cùng đậu lại ở Mũi Né, nơi anh gây dựng được một cơ sở nghỉ mát nhỏ cho khách du lịch.
Một lần, hai vợ chồng Phong ngồi uống cà phê ở Sài Gòn, bỗng gặp một người bán vé số lết đi từng bàn để mời khách. Đó là Bình. Chiếc mũ lưỡi trai rằn ri của TQLC trên đầu người bán vé số bỗng gợi lại cho Phong những ký ức cũ. Trong suốt bao năm qua, anh không bao giơ quên ơn cứu mạng của những người lính quần áo rằn ri đó. Hai vợ chồng Phong liền mua mấy vé số của Bình để bắt chuyện và hai người linh bỗng kể lại cho nhau những kỷ niệm về trận đánh đó. Cả hai đều nhận ra là mình đang nói chuyện với người mà hồi đó có thế đã xả súng bắn sang phía mình, vì hai câu chuyện khớp với nhau kinh ngac về thời gian và địa hình. 
Phong nói với Bình: “Không có lính TQLC cứu tôi, đưa về viện Nguyễn Tri Phương gần đồn Mang cá ở Huế , rồi nặng quá phải dùng máy bay đưa vào Tổng y viện Duy tân ở Đà Nẵng nằm 2 tháng ...thì tôi đã chết rồi”. Cùng bị thương vào chân, nhưng các bác sỹ VNCH chỉ cứu được đôi chân của anh tù binh Việt cộng. Nhìn đôi chân cụt của Bình, nghĩ đến vận may của mình, Phong ngậm ngùi xót xa.
Cùng đổ máu vì nghĩa vụ công dân, nhưng chỉ anh thương binh Bắc Việt được xã hội công nhận. Sự bất công đó phản lại đạo lý của những người Việt Nam bình thường như Phong và Bình. 
Chống lại bất công, hai anh đã gắn kết với nhau từ cuộc gặp đó. Chính Phong đã gọi điện cho Bình nói là có anh Thọ ở Đức về đang muốn gặp anh ta.
Tôi xin cảm ơn các anh.
Köln 30.3.2019


Chuyện anh Ngọc
Nhân ngày 30.4, tôi sẽ sưu tầm và kể lại những chuyện có liên quan đến cuộc chiến tranh đã qua, mong tìm lại được những người con Việt Nam bị lãng quên. Tôi đã tìm được anh Bình, anh Phong. Nay tôi kể về anh Ngọc ở Hà Tĩnh, một nhân vật có thật trong „Đừng kể tên tôi“ của Phan Thúy Hà. 
Anh Ngọc là sỹ quan của sư đoàn 320, bị thương vào ngày 29.4 tại Củ Chi, trước khi tiến vào Sài Gòn. Điều cho đến nay anh không giải thích nổi là sau khi trúng đạn, anh vẫn chiến đấu tiếp và 3 binh sỹ VNCH ra đầu hàng anh, hai người cao to mạnh khỏe, một người bị thương. Lúc đầu họ không biết anh Ngọc đã trúng đạn, nhưng khi anh bắt họ dìu anh đi về phía đơn vị ở chợ Tân Quy, Củ Chi thì họ thấy máu chảy đầm đìa ttrên lưng anh. 
Tại sao 3 người lính còn vũ khí mà không thủ tiêu một thương binh Việt Cộng, ngược lại họ đã cõng anh đi 20 phút trong khói lửa. Điều này ám ảnh anh Ngọc cho đến hôm nay. Anh vẫn muốn tìm ra ba người lính đó để cảm ơn.
Trích „Đừng kể tên tôi“
Hai mươi phút sau, đám tù binh đưa tôi về đến tận nơi anh em đang nổ súng….
…. Tôi nghĩ mình sẽ không qua khỏi. Muốn nói nhiều hơn nữa. Nhưng rồi ngất xỉu khi nào không biết.
Lúc tỉnh lúc mê tôi nghe tiếng anh Hường đang quát tháo tù binh vì họ kêu đau chân đau vai. Hai tù binh đang khiêng tôi đi. Họ bị lột giày và chỉ mặc quần áo lót.
Tôi thiếp đi.
Trời xẩm tối. Tôi lại tỉnh. Thấy mình đang nằm trong một cái chợ. Xung quanh nhiều người dân.
Một người phụ nữ giọng hốt hoảng: Các chú bộ đội ơi cho tôi tiếp máu người này nhé, người này thiếu máu trầm trọng, yếu quá rồi.
Người phụ nữ mang chai máu khô đến. Cột chai máu vào cái cột đình của chợ. Người dân tản ra để chị thao tác truyền máu cho tôi.
Một bác đánh xe lam đến: Bộ đội cho tôi giúp một tay với. Cần chở thương binh đến bệnh viện nào tôi chở đi.
Anh y tá nghe hợp lý. Bảo bác xe lam chở tôi tới phẫu quân y trung đoàn.
Họ đặt nguyên cả đòn cáng ngang xe lam và mang theo chai máu đang truyền.
Đến nơi họ cáng tôi xuống, đặt ngang trên miệng hố pháo 120 ly của đơn vị hỏa lực vừa rời khỏi.
Anh y tá đi cùng tôi đến đây nói với hai anh vận tải: Các anh khẩn trương đưa anh này lên tuyến sư đoàn.
Hai anh vận tải khiêng tôi chạy. Tôi nằm trên cáng lúc tỉnh lúc mơ. Một tiếng dằn mạnh đau nhói. „Từ từ các anh ơi tôi không thở được nữa. Đau quá các anh ơi đau quá các anh ơi.“ Tôi rên ư ử không thành tiếng.
Một trong hai người nói to: Đừng rên nữa, bọn tao đang cố hết sức đây.
Bất ngờ tôi nằm xoài giữa đám ruộng. Trời mưa, đêm tối. Các anh chạy nhanh quá vấp ngã. Tôi đau điếng. Vừa đau vừa rét. Một trong hai người lại nói: Chú mày thông cảm, đường trơn quá không nhìn thấy gì. Chú mày sẽ được cứu sống, không chết đâu mà lo. Bọn tao đang đi tắt cho nhanh.
Rồi họ lại bước chậm. Họ đang dò đường. Chân người đi trước giẫm phải cái ba lô. Họ dừng lại, lục tìm được tấm ni lông trùm lên người tôi. Tấm ni lông trùm lên tôi ấm hẳn.
Người đi trước nói như reo: Dưa hấu mày ơi, ăn đã.
Đường tắt qua ruộng dưa hấu. Hai người lần nữa thả phạch cáng xuống giữa ruộng. Tôi nói hai anh đặt chiếc mũ lên đầu cho dễ thở hơn, nằm phẳng thế này tôi không thở được. Họ đặt mũ vào gáy tôi. Họ đi tìm dưa hấu. Họ đi tìm dưa hấu ăn trong bao lâu tôi không biết.
- Chết cha không biết thằng thương binh đâu rồi.
- Tao và mày đi tìm hai hướng. Nhớ xát chân vào mặt đất khỏi bước qua cáng mà không biết.
Tôi nghe hai anh nói với nhau mà không sao lên tiếng được. Tôi ở đây. Các anh không tìm được chắc tôi chết ở đây trong đêm nay.
- Ơi thằng thương binh. Mày đang chỗ nào rên thật to lên.
- Bây giờ phải bảo nó rên thật to rồi ghé tai xuống đất nghe cho rõ.
- Ơi thằng thương binh sao khi cần rên mày không rên. Mày rên thật to để tao ghé tai xuống đất xem mày nằm ở góc nào. 
Tôi không rên được, không làm sao rên được. Tôi còn sức đâu nữa mà rên hở các anh.
- Ơi thằng thương binh nếu mày chưa chết thì mày cố rên lên để bọn tao còn biết.
Tôi bắt đầu rên được. Tôi rên. Rên to. Bao nhiêu sức dồn hết vào mà rên.
- Rên tiếp đi nữa thằng thương binh ơi.
Tôi lịm đi.
Tôi nghe hai cái tát bộp bên tai rồi mở mắt. Tôi đang nằm trên bàn mổ. Bàn mổ là tấm liếp tre trải ni lông dựng lên trên sáu cái cọc tre. Đây là bệnh viện dã chiến cơ động.
- Quần áo đâu?
- Không biết.
- Lấy cho anh ta cái quần đùi.
Anh y sĩ mặc chiếc quần cho tôi. Tôi nhìn thấy đèn măng sông sáng. Hai anh vận tải khiêng tôi đến đây lúc mười giờ đêm.
Và giờ hai anh y tá khác khiêng tôi đến hầm phẫu. Hầm phẫu nửa chìm nửa nổi có treo một chiếc đèn bão.
Trên thảm rơm thương binh nằm san sát. Tất cả đều im lặng.
Tất cả đều im lặng. Tôi cũng im lặng. Nhìn ra ngoài trời đã hửng sáng.
Y tá đặt tôi ngồi giữa hai thương binh. Một người vừa tắt thở. Họ khiêng người đó ra và tôi thay vào chỗ trống.
Đầu óc tôi đã tỉnh táo. Tôi đau không nằm được. Nằm thì không thở được. Cứ ngồi hai tay ôm đầu gối. Buồn ngủ cứ thế mà ngủ.
Lúc này là tám giờ sáng ngày 30 tháng 4. Trong người tôi lên từng cơn rét.
Tôi nhìn sang người anh đang nằm bên cạnh. Từ khi tôi vào đến giờ anh vẫn ngủ say.
Tôi rét run cầm cập. Nhìn thấy anh đang gối đầu lên cái bọc chiến đấu. Đó là cái bọc của người lính mỗi lần ra trận mang theo bên người. Cái bọc vẫn còn căng. Tôi đoán trong đó có quần áo dài hoặc cái gì đó để đắp. Trên người tôi lúc này vẫn chỉ một chiếc quần đùi. Tôi lay anh dậy để xin mượn. Lay mãi. Tay tôi sờ vào vai anh. Sao lạnh thế này. Tôi mò xuống tay anh xuống chân anh. Lạnh ngắt. Anh đã chết từ khi nào. Cơ thể đã cứng đi rồi.
Tôi nhìn anh nói nhỏ: Anh ơi ta đều lính cả. Anh đi rồi thì anh có cái áo cái quần dài nào cho tôi. Tôi rét quá. Anh cho tôi xin anh nhé. Nói xong tôi đỡ đầu anh lấy cái bọc.
Trong bọc vẫn đầy đủ các loại đồ phục vụ chiến đấu. Tôi chỉ xin anh bộ quần áo dài. Buộc lại gọn gàng, kê lên đầu cho anh như khi nãy.
Y sĩ đi qua. Tôi báo ở đây có người chết rồi.
Nhân viên đưa cáng khiêng anh đi. Chỗ tôi ngồi rộng hơn một tý.
Mười phút sau y tá lại cáng một người khác nằm xuống chỗ anh. Khiêng một anh thương binh vào, khiêng hai cái xác ra. Chốc chốc lại như vậy. Đơn vị quân y của sư đoàn biết mấy chục cái lán như thế này.
Anh đi rồi. Hai hàng nước mắt tôi đầm đìa. Xót xa đồng đội. Chết cô đơn lạnh lẽo. Anh tên gì quê anh đâu người thân của anh là ai. Đêm qua nếu tôi không may thì cũng giống như anh vậy thôi.
Ba tháng sau bình phục trở về đơn vị tôi được anh y tá cho biết người phụ nữ truyền máu cho tôi là bác sĩ có phòng mạch riêng ở Tân Qui, huyện Củ Chi. Chị cùng người dân tình nguyện đi cấp cứu thương binh.
Một chiều chủ nhật tôi nhờ anh y tá đưa đến nhà chị nói lời biết ơn người đã cứu mạng. Chúng tôi đến vừa khi chị đang dắt xe ra khỏi cổng. Anh y tá giới thiệu tôi và nói qua lý do sao chúng tôi lại đến nhà.
Khác hẳn với vẻ hốt hoảng hôm cấp cứu tôi, khuôn mặt chị lúc này nhìn thật xa cách và thờ ơ. Hai anh em tự nhiên lúng túng. Chị nói: các chú bộ đội cứ chờ đây, hoặc đi đâu đó một lúc rồi quay lại, chị lên Sài Gòn có chút việc rồi về.
Ngồi chờ chị ở quán nước sát bên nhà một tiếng đồng hồ chị vẫn chưa về. Chúng tôi phải về đơn vị.
Chủ nhật tuần sau tôi lại đến. Cửa đóng. Tôi sang quán nước hôm trước ngồi. Trò chuyện một lúc người bán nước cho biết chị đã theo đường vượt biên cách đây hai hôm rồi. Chồng chị là đại úy Việt Nam Cộng hòa bị giết năm 1968. Bao nhiêu năm nay chị một mình nuôi con…
(Hết trích)
Kính mong mọi người share bài này để càng nhiều người đọc càng tốt. Sự việc xảy ra ở thôn Tân Quy, Củ Chi trong ngày 29 và 30.4.1975. Hy vọng chị bác sỹ đã tiếp máu và ba anh linh VNCH đọc được sẽ nhận ra anh Ngọc.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét