Thứ Hai, 13 tháng 5, 2019

Người Thượng ở Tây Nguyên (Kỳ 1,2,3)


Người Thượng ở Tây Nguyên – Kỳ 1: “Cổ tích” luật tục
30/04/2019



 

Người Thượng ở biên giới Việt Nam - Cambodia nămm 1973. Ảnh: Jacques Teyssier.
0
SHARES
Bốn mươi bốn năm sau biến cố 30/4, Tây Nguyên hôm nay không còn là miền Thượng của ngày trước. Rừng và các làng của người Thượng đau đớn nhường chỗ cho các nông, lâm trường, đập thuỷ điện.
Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng cần ít nhất 100 năm để khôi phục rừng ở Tây Nguyên, trong đó có một việc rất quan trọng là phục hồi các làng của người Thượng để họ giữ rừng như xưa kia.
Người Thượng có cách giữ rừng riêng của mình. Họ sống bền chặt với rừng. Rừng chở che và nuôi sống họ. Rừng là cuộc sống của người Thượng từ lúc sinh ra đến lúc lìa đời. Không còn rừng thì họ chẳng còn là mình nữa.
Chúng tôi thấy rằng hiểu biết người Thượng có lẽ là cách ngắn nhất để hiểu Tây Nguyên. Với nỗ lực đó, Luật Khoa tạp chí xin gửi đến bạn đọc lần lượt các bài viết tổng hợp từ nhiều tài liệu và ý kiến các chuyên gia về vai trò của người Thượng đối với rừng và đất đai ở Tây Nguyên ngày xưa, trước và sau biến cố 30/4.
Miền đất huyền ảo
Tây Nguyên đầu thế kỷ XX phủ một màu xanh bạt ngạt của núi rừng. Trên vùng đất hoang sơ ấy là nơi sinh sống của hàng nghìn ngôi làng của những sắc tộc bản địa. Trông họ rất khác với người Annam : da đen, đóng khố, đi chân chất, cà răng, căng tai, ăn bốc… Họ sống thành từng làng, gắn bó bền chặt với nhau.
Hàng trên từ trái sang là đàn bà người Hoa, đàn ông người Hoa ở Sài Gòn và người phụ nữ Cambodia. Hàng dưới người phụ nữ Annam, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản và hai người đàn ông người Stiêng. Ảnh: Hippolyte Arnoux và Emile Gsell, xuất bản năm 1880.
Người Annam và người Pháp gọi chung họ là Mọi. Từ này được hai nhà nghiên cứu Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi giải thích trong cuốn “Mọi Kontum” in lần đầu năm 1937, từ Mọi có lẽ có nguồn gốc từ tiếng Ba-na là “tơ-moi” để chỉ những người khách đến làng của người Ba-na, ví dụ tơ-moi Xơ-đăng, tơ-moi Gia-rai có nghĩa là khác Xơ-đăng, khách Gia-rai. Người Việt bắt chước cũng gọi theo nhưng tiếng Việt thì độc âm nên lâu dần bỏ chữ “tơ” chỉ còn lại từ “moi” để chỉ người bản địa ở Tây Nguyên.[1]
Cách gọi này đến sau năm 1945 thì bỏ hẳn vì dễ mang tính miệt thị, thay vào đó bằng cách gọi theo địa phương là “người Tây Nguyên” hay “người Thượng” để chỉ những người sống ở miền thượng du.[2]
Theo hai nhà nghiên cứu trên, dân số mọi lúc đó ước chừng 300.000 đến 500.000 người, chia thành nhiều bộ lạc khác nhau.[3]Trong đó, có ba bộ lạc lớn là Ba-na, Xơ-đăng và Dja-rai (Gia-rai). Trong mỗi bộ lạc lại có những bộ tộc khác nhau. Ví dụ như có người Ba-na chính tông, và các bộ tộc như Bonam, Hrui, Konho, Krem…

Ngoài ra còn có người Lạt, Mạ, Stiêng và Srê ở hai Cao nguyên Lang-biang và Gia-rinh. Người Mnông ở Tây Nam Cao nguyên Đắc Lắk và Tây Bắc Cao nguyên Lang-biang.
Bản đồ của người Pháp in năm 1917 dưới đây cho thấy người Thượng đã chiếm một một phần rộng lớn đất đai vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, còn người Annam (màu đỏ nhạt) chủ yếu ở ven biển Nam Trung Bộ và đồng bằng phía Nam.
Bản đồ các tộc người ở Đông Dương phân chia theo nhóm ngôn ngữ (Nhà xuất bản Monrocq – Paris, in năm 1917). Màu xanh lá là địa bàn của người Ba-na, Mạ, Stiêng, Lạt, Cơ-ho. Màu xám là vùng của người Gia-rai, cùng nhóm ngôn ngữ với người Chăm, Ê-đê, Raglai, và Churu. Màu đỏ nhạt là vùng của người An-nam.
Người Thượng đã đến từ đâu, tổ tiên của họ là ai thì vẫn chưa có đáp án chính xác. Chỉ biết chắc rằng các nhóm dân này đã bị người Chàm khuất phục, trở thành thần dân của Champa. Họ cũng từng sống ở ven biển rồi nhượng lại những vùng đất tốt nhất ở miền duyên hải cho người Chàm, rồi rút dần lên vùng núi cao Trường Sơn – Tây Nguyên.
Nhà nghiên cứu người Pháp có hơn 23 năm sống cùng các bộ tộc ở Tây Nguyên Jaques Dournes cho rằng vì sự hiểm trở của đồi núi vùng này đã làm cho các sắc tộc vốn trước kia là một bị cô lập và hình thành các ngôn ngữ khác nhau, như một truyền thuyết được kể lại: “Ngày xưa tổ tiên chúng tôi nói cùng một tiếng nói, nhưng họ không còn hiểu nhau nữa khi họ phân tán khắp các hướng”.[4]
Về sau khi người Chàm suy yếu, quyền lực rơi vào tay người Annam nhưng người Thượng vẫn được tự do trong khu vực của họ. [5] Núi rừng, sông suối, muông thú vẫn là của người Thượng, họ định kỳ nộp thuế cho triều đình Annam.

Dù họ là ai, đến từ đâu thì người Thượng vẫn được biết đến là những cư dân đầu tiên của Tây Nguyên ngày nay.
Do không có chữ viết nên những thay đổi trong xã hội chỉ được nghiên cứu khi người Pháp và người Việt bắt đầu tiếp cận với khu vực này.
Chính trị của người Thượng
Khi các nhà truyền giáo thâm nhập lên đất Tây Nguyên năm 1850 thì thấy người bản địa ở trong một thời kỳ hỗn độn. Không có hình thái của nhà nước ở đây mà thay vào đó là các làng độc lập với nhau, “dẫu to hay nhỏ, mỗi làng Bahnar (Ba-na) là một tiểu quốc gia hoàn toàn độc lập, không phục tùng dưới quyền thống trị nào khác”, trừ những lúc cần liên kết để chống lại các làng đối nghịch.[6]
Nhà dân tộc học Geogres Condominas cũng đã viết tương tự ý trên về các làng của người Thượng: “Đơn vị chính trị truyền thống tối cao là làng (bboon) tức là nhóm các gia đình tạo thành một khối dân cư trong một khoảng rừng”.[7]
Vì sinh sống theo làng nên người Thượng rất coi trọng tính cộng đồng, họ gắn bó và đoàn kết.

Công sứ Pháp ở Kon Tum Paul Guilleminet cũng là một học giả dân tộc học có tiếng nhận xét về tính cộng động của các làng: “Tập thể cố làm sao cho trật tự được tôn trọng khắp mọi nơi để khỏi bị liên lụy trước sự trừng phạt của thần linh, tập thể buộc mọi người tôn trọng những quy tắc chung để trật tự khỏi bị vi phạm”.[8]
Dù làng lớn hay làng nhỏ đều duy trì mô hình tổ chức tương tự nhau và rất có kỷ luật. Trong mỗi làng của người Thượng có người “chủ làng” (già làng) gọi là pô pin êa (người Ê-đê), pôa (người Srê), tơm polei (người Ba-na, Xơ-đăng) hay gong-plơi (Gia-rai). Ngoài ra, còn có thành viên của hội đồng làng để giúp việc cho già làng.
Cả bộ tộc Ba-na vào đầu thế kỷ XX có chừng bốn trăm làng lớn nhỏ không đều[9]. Làng của người Ba-na có ban hội đồng chăm nom việc của làng. Ban ấy gồm có ông tơm polei (gốc làng) đứng đầu và các ông kră plei (lão làng) giúp việc. Tơm polei là người rất có uy tín, ăn nói linh hoạt, làm rẫy giỏi, hiểu rõ về phong tục và truyền thống của bộ tộc.



      Cha và con trai người Thượng, ảnh chụp năm 1947. Ảnh: Michel HUET/Gamma-Rapho via Getty Images.

 
     Các cô gái người Thượng trước nhà, ảnh chụp năm 1947. Ảnh: Michel HUET/Gamma-Rapho via Getty Images.
    
Các cô gái người Thượng đang dệt vải,

ảnh chụp năm 1947.
Ảnh: Michel HUET/Gamma-Rapho via Getty Images.


 
Những đứa bé và mẹ đang giã chày trước một một ngôi nhà,
 ảnh chụp năm 1947. Ảnh: Michel HUET/Gamma-Rapho via Getty Images)

Khác với xã hội của người Thái và người Mường, già làng và những người trong ban hội đồng làng vẫn phải lao động như mọi người trong làng. Họ không được hưởng đặc quyền gì nhưng lại có trách nhiệm với cuộc sống của dân làng, không cho người dân làm những điều huý kỵ mà thần cấm. Họ có thể là người phân chia ruộng đất, hướng dẫn họ sản xuất, dạy dỗ con cháu nói, xử kiện, chủ trì nghi lễ… Tóm lại là người giúp dân làng duy trì cuộc sống ấm no.
Không có án tù và tử hình
Trong làng, nếu có ai bị ức hiếp thì có thể kiện lên ông tơm polei. Ông ấy sẽ thành lập toà án rồi cùng với các kră polei xét xử.
Việc xét xử được tiến hành dựa theo luật tục. Đây là các quy định đã có từ rất lâu được cộng đồng của làng duy trì. Các bộ tộc khác nhau có luật tục khác nhau, kể cả trong cùng sắc tộc mà ở vùng khác nhau thì luật tục cũng khác nhau đôi chút. Tuy vậy, tinh thần của luật tục ở các bộ tộc là tương tự nhau. Nó gìn giữ sự đoàn kết, tín ngưỡng và củng cố nền văn minh từ đời này sang đời khác.
Giáo sư Phan Đăng Nhật cho rằng những người làm ra và gìn giữ luật tục là những người có uy tín, hiểu biết phong tục tập quán, hiểu biết văn hoá dân tộc, có tri thức bản địa dân tộc về tự nhiên và xã hội. Họ là những người già làng, những người tham gia xử kiện hay không tham gia xử kiện.
Luật tục của các bộ tộc không có án tù hay tử hình. Họ thường chỉ có hai hình phạt: bồi thường và tạ lỗi. Phạt gà với rượu là tội nhẹ, heo với rượu là tội nghiêm trọng hơn, trâu (bò) với rượu là tội rất nghiêm trọng. Ví dụ như người Ba-na khi phạm tội ẩu đả thì phải chịu phạt một con heo và một ghè rượu đối với người bị thương vừa, một hoặc hai con trâu (bò) đối với người bị thương nặng. Nếu là án mưu sát thì người có tội phải bồi thường cho gia đình có người chết năm hay mười con trâu. Vợ hoặc chồng mà có tội với nhau thì cũng phải bồi thường cho nhau.
Dù xét xử nghiêm khắc nhưng xã hội của người Thượng chú trọng sự hòa giải, “giơ cao đánh khẽ”. Nhà nghiên cứu J. Dournes nhận xét rằng: “Ở đây không có ‘luật’ theo nghĩa của thuật ngữ này của phương Tây. Người Gia-rai không có toà án, không nhà tù và không có lực lượng trừng phạt chính qui. Theo truyền thống, xã hội Gia-rai là tất cả sự hòa giải”.[10]
Mỗi lần xét xử, người xử kiện phải làm sao tạo ra sự đồng thuận chung về phán quyết cốt để giữ hòa khí trong làng và xóa đi thù hằn. Ông thường dựa vào các điều sau:
– Các ý kiến về tình hình cụ thể của vụ việc.
– Các quy định của luật tục mà ông đã thuộc lòng.
– Các vận dụng luật trong trong những trường hợp tương tự, mà ông được dự hoặc nghe kể lại.[11]

Cuối cùng, để đạt được sự hòa giải thì phải nhờ đến thần linh bằng một nghi lễ nhất định như trao vòng đồng cho cả hai bên.

Có buổi xét xử của người Gia-rai, khi xét xử xong người xử kiện rót đầy chén rượu bằng đồng rồi cùng với ba người khác là già làng, người có lỗi và người bị thiệt hại cùng nâng bát rượu. Ông xử kiện tuyên bố:
“Tình cảm chúng ta như chén rượu đầy
Hãy rót đầy tình anh em
Rót đầy tình xóm làng
Rót đầy tình yêu thương
Chúng ta chung tay nâng chén rượu đầy
Chung miệng uống cạn chén rượu đầy
Từ nay coi như lửa đã tắt, điếu thuốc đã tàn
Mọi điều xấu đã chấm dứt
Kẻ nào mà,
Tranh đã khô lại đòi trở lại
Rượu (cần) đã nhạt lại đòi ngọt trở lại
Câu chuyện đã xong xuôi lại đòi lật lên
Phải xử phạt theo tục lệ ông bà xưa”[12]
Hay như vụ xử tội ăn cắp ở người Gia-rai mà nhóm làm việc của Giáo sư Phan Đăng Nhật đã ghi lại:
“Câu chuyện xảy ra ở huyện Chư Prông, một nông dân khoảng trung niên vốn hiền lành. Năm đó ông bị phát hiện ăn cắp thóc. Ông lấy của bốn nhà mất khoảng hai gùi thóc (khoảng 80kg). Mấy gia đình bị mất thốc báo với pô phat kđi (tức là già làng hay người xử kiện). Theo luật tục ăn cắp, một phải đền ba, ngoài ra còn phải cúng gà, heo, lợn, rượu. Đó là một cái án khá nặng về vật chất và tinh thần đối với ông. Ông thanh minh là năm vừa qua bị mất mùa gia đình quá thiếu đói buộc lòng phải ăn cắp. Người ta cho biết ông có một con Công người Kinh trả 150.000 đồng mà không chịu bán.
Trong cuộc họp phân xử vụ việc này có hai phái:
Phái thứ nhất gồm chủ yếu những người mất cắp đề nghị kiên quyết xử nặng vì ông có của mà vẫn ăn cắp.
Phái thứ hai chủ yếu là người xử kiện. Sau khi điều tra tình hình, người xử kiện và hội đồng làng, nhân chứng đưa ra cách giải thích như sau:
– Con công là của con trai ông bắn được, nó có công chăm sóc và mỗi lần ông định bán nó khóc lóc không chịu. Theo tình cảm của người Jrai, trong trường hợp này người bố không bao giờ bán của con nếu con không đồng ý. Ngoài con Công, nhà ông bốn miệng ăn, quả không có lấy một củ sắn.
– Khi đi lấy thóc ông không lấy của một người mà lấy của bốn người. Như vậy nguy hiểm, dễ bị lộ nhưng theo ông nói là để chia sự thiệt hại cho nhiều người, coi như ông vay thóc thừa và đến mùa sẽ trả.
Những điều trên đây phù hợp với tâm lý và tập quán của người dân tộc. Mọi người vui vẻ tán thành ý kiến của người xử kiện, kể cả những người bị mất thóc.
Do vậy mọi người chỉ phạt nhẹ gà rượu để cúng Yang yêu cầu ông mùa tới trả đủ thóc cho những người ông đã lấy. Trong bữa rượu không khí vui vẻ hòa thuận.”[13]
Nhưng đừng vội phán xét rằng không có án tù hay tử hình sẽ không đủ sự răn đe người phạm lỗi hay dung dưỡng cho tội phạm. Dân làng rất tôn trọng và bảo vệ luật tục cũng như tín ngưỡng của họ. Một người trong gia đình mà phạm lỗi thì nếu không chấp hành sẽ có sự liên đới trách nhiệm, ví dụ như anh phải bồi thường cho em hay thần linh sẽ trừng phạt cả gia đình người đó hay cả làng. Họ cũng sẽ bị nói nặng lời, bị dân làng xa lánh, thậm chí là bị đuổi khỏi làng nếu không hối cải.
Người tái phạm sẽ bị xét xử lại. Theo luật tục Gia-rai, người ta sẽ kể tội từ lần thứ nhất và hậu quả mà nó đã gây ra là làm cho các Yang trừng phạt làng, “nó để cho đất đai khô cằn, nguồn nước ngầu bùn”, đoạn sau nói về việc tái phạm:
“[…] Trước mặt chúng ta
nó cư xử như một người giàu có
khi người ta quay lưng
nó cư xử như một con chó
Sau khi ra khỏi cổng làng
nó rẽ mọi lối
như chiếc rùi. Khi thì chém bên trái
lúc thì chém bên phải (*)
Chính vì thế mà phải đưa nó ra xét xử.”[14]
(*) Nhưng nó lại tiếp tục phạm tội. Trước mặt mọi người thì nó tỏ ra đàng hoàng, lương thiện nhưng sau lưng mọi người, nó lại phạm tội.
Đó là những vụ việc riêng lẻ. Đối với sự việc chung của làng mà ai cũng bị ảnh hưởng thì ban hội đồng phải họp cả làng để xin ý kiến, già trẻ, trai gái ai cũng có quyền lên tiếng.
Các làng mặc dù độc lập nhưng không cô lập. Làng này vẫn giao tiếp với các làng lân cận nhưng làng nào thì giữ chủ quyền của làng ấy – không được can thiệp vào việc nội bộ. Lỡ như có việc tranh chấp giữa hai người khác làng thì hai bên cùng thành lập một hội đồng chung rồi xét xử.
Mỗi làng đều có sở hữu đất đai của riêng mình. Không làng nào được xâm phạm. Họ dùng gốc cây, con suối hay như tảng đá để đánh dấu đất của làng và thông báo với các làng khác.

Ví dụ như khi đất bị lấn chiếm, người chủ đất của làng Ê-đê – tức là người coi sóc, giữ gìn đất đai của cả làng  – sẽ kể lên ranh giới đất đai, rừng núi của mình, rồi làm lễ cúng đất một con trâu để người ta nhận ra ai là chủ đất.[15]
Luật tục không chỉ đơn thuần là quy định của làng hay ông bà xưa đặt ra, nó phản chiếu văn hoá bản địa và tín ngưỡng của người Thượng tạo nên một cộng đồng hòa thuận, gắn bó.
(Còn nữa)


Trích dẫn:
[1]Người Ba-na ở Kon Tum, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Đình Chi, Nxb Trẻ, trang 93.
[2]Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Văn hoá, Cục xuất bản – Bộ Văn hoá, lưu trữ tại Thư viện tỉnh Kontum, trang 193.
[3]Người Ba-na ở Kon Tum, sách đã dẫn, trang 93
[4]Miền Đất Huyền Ảo, Jacques Dournes, Nguyên Ngọc (Dịch) Nxb Thông tin và truyền thông, trang 35.
[5]Miền Đất Huyền Ảo, sách đã dẫn, trang 36.
[6]Người Bana ở Kon-tum, sách đã dẫn, trang 96.
[7]Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, G.Condominas (1977), bản tiếng Việt của Ngọc Hà và cộng sự, Nxb Văn hoá, trang 377.
[8]Luật tục người Bahnar, Sêđăng, Jrai ở tỉnh Kontum, tập 1, EFEO, 1952, Hanoi, trang 24.
[9]Người Ba-na ở Kon Tum, sách đã dẫn, trang 156.
[10]J. Dournes: Thần luật pháp, trình bày lần đầu tư liệu luật tục của người Jrai ở Đông Dương, Dân tộc học Đông Nam Á, số 7, tháng 10-1988 (tiếng Anh), trang 13.
[11]Luật tục Jrai, Chủ biên PGS.TS Phan Đăng Nhật, Sở Văn hoá – Thông tin Gia lai, xuất bản năm 1999, trang 34.
[12]Luật tục – Một giá trị văn hoá phi vật thể đặc sắc, GS.TSKH Phan Đăng Nhật, Di sản văn hoá số 26.
[13]Luật tục Jrai, sách đã dẫn, trang 32 và 33.
[14]Luật tục Jrai, sách đã dẫn, trang 80 và 81.
[15]Luật tục Ê-đê, Ngô Đức Thịnh và các tác giả, NXB Văn hoá Dân tộc, trang 413.



Người Thượng ở Tây Nguyên – Kỳ 2: Những người giữ rừng số 1
05/05/2019
Luatkhoa

Người Thượng ở biên giới Việt Nam - Cambodia nămm 1973. Ảnh: Jacques Teyssier.

0SHARES


Trong kỳ 1, độc giả đã có cái nhìn sơ lược về tổ chức làng, luật tục và cách vận hành của luật tục trong đời sống của người Thượng. Bên cạnh cách tổ chức đời sống và luật tục, thần linh là một thế lực siêu nhiên đối với người Thượng.

Trong phần này, chúng ta sẽ bước vào thế giới tín ngưỡng của người Thượng trong cách họ đối xử với rừng và đất đai. Nếu thoạt nhìn, người ta sẽ dễ cho rằng đó là những điều mê tín dị đoan, khó hiểu. Tuy nhiên, ẩn đằng sau những điều khó hiểu này là một triết lý để sống bền chặt với thiên nhiên.

Phần cuối của bài này sẽ đưa ra những hiểu biết cơ bản về quyền đất đai của người Thượng – cũng chính là vấn đề lớn nhất ở Tây Nguyên ngày nay.

Bền chặt với thiên nhiên

Người Thượng theo tín ngưỡng đa thần giáo. Họ thờ nhiều thần. Họ tin thần có ở khắp mọi nơi. Khi cầu xin, người Ba-na, Ê-đê hay Gia-rai gọi các thần là Yang, đọc là Giàng.

Người Ba-na tôn thờ nhiều vị đẳng thần như Đấng Nam tạo hoá, Đấng Nữ tạo hoá, Thần sấm sét, Thần lúa, Thần nước, Thần núi… Có những thần thì gắn với tên của các loài thú như Ông Cọp, Voi, Cóc hay như Thần cây, Thần ghè… Lại còn có các hung thần hại người thì cần phải xua đuổi.

Không chỉ tôn thờ các vị thần, người Thượng còn có tục lệ kết nghĩa với các thần. Những người đã kết nghĩa thì phải kiêng cữ nhiều điều. Nếu kết nghĩa với thần lúa thì không được nhổ lúa. Kết nghĩa với thần thú vật nào thì không được ăn thịt thú ấy. Kết nghĩa với thần cây nào thì phải giữ gìn loài cây ấy.

Người Thượng không phải đụng đâu là cũng có thể lập làng. Hễ việc gì kinh động đến núi rừng, đất đai thì họ phải hỏi ý của các thần, khi nào thần đồng ý thì mới được làm. Để biết thần có đồng ý hay không thì họ quan sát các dấu hiệu của tự nhiên như đường chim bay, xác chết của thú rừng hay bằng nhiều cách khác nhau được truyền lại từ đời trước để đoán ý của các thần.

Ví dụ như trong khi đi tìm đất để lập làng. Tối hôm trước đó, người chủ làng Ba-na nằm chiêm bao thấy được điều tốt thì sáng hôm sau mới cùng những người khác đi kiếm đất. Trên đường đi họ nghe tiếng, nhìn đường bay của chim để tìm ra vùng đất phù hợp, ví dụ như nghe tiếng chim bên trái hay bên phải là điếm tốt; hay đường chim bay từ sau ra trước người đứng là tốt, ngược lại là xấu. Đến lúc tìm được khu đất thì họ xin ý kiến của các thần. Họ dùng cây rào xung quanh khu đất. Người chủ làng bỏ năm hạt gạo ra giữa khu đất rồi khấn vái xin các thần báo cho điềm tốt hay xấu. Cả nhóm bỏ ra một nơi khác để ngồi chờ trong vài tiếng đồng hồ. Nếu sau khi quay lại, năm hạt gạo vẫn còn nguyên hay mất đi một, hai hột thì là điềm tốt. Còn nếu mất đi ba, bốn hột hay mất hết thì là điềm rất xấu vì làng mà lập ở đấy thì sẽ bị giặc giã, dịch bệnh, cháy nhà… Kế tiếp họ xin keo pơgang, nếu keo cũng tốt thì họ về báo tin để lập làng.

Phát rừng để làm rẫy cũng thế. Nếu trong lúc phát rừng mà tiếng chim hoặc mang (một loài hươu) kêu thì rất xấu vì chắc thần không cho muốn làm chỗ đó.[1]

Đối với thú rừng thì họ cũng rất tôn trọng, khi một người thợ săn Gia-rai bắn một thú rừng, anh ta phải tạ lỗi: “Xin chư vị tha lỗi vì con phải có cái ăn”.

Trong các loài dã thú thì hổ là động vật linh thiêng. Kể cả những thợ săn Jrai chuyên nghiệp cũng bị cấm tấn công hổ vì họ đã xin sự chở che của Thần rừng cũng chính là Thần hổ nên tấn công hổ là điều cấm kỵ.

Nếu người thợ săn buộc phải giết hổ trong lúc đi săn thì họ phải ngay lập tức làm lễ tang cho hổ để thanh minh cho vụ việc chỉ là ngộ sát, bằng không chính anh ta sẽ làm mồi cho hổ. Lễ tang phải có bốn nhân chứng, hai đại diện cho người thợ săn, hai đại diện cho hổ. Lễ cúng là một ghè rượu và một con lợn; các con trâu đền mạng làm bằng thân chuối để tượng trưng hoặc chiêng nặn bằng đất sét, rồi đọc lời khấn như sau:

“Hôm qua, hôm kia, người này đã giết mày. Bây giờ nó đền nợ. Sự vụ thế là xong. Hãy ở yên, đừng giận chúng tôi. Chúng tôi đã mang tất cả những gì cần để đền bù, đủ số lượng; đừng tấn công chúng tôi, cả con cháu chúng tôi nữa”.[2]
Một góc làng của người Thượng vào những năm 50 của thế kỷ trước. Ảnh: chưa rõ nguồn.

Luật tục Gia-rai vùng Cheo-reo (Plei-ku) quy định việc xúc phạm thần nhà khi chặt một số loại cây như sau:
“Nó nói với môi còn hoẵng và miệng con bê
Nó đòi đào gốc cây tung
Trốc gốc cây thần
Lật gốc cây gạo (*)
Nó nói xấu anh em…
Vì thế mà lều vựa, nhà cửa
Gùi, sọt đề bị đổ vỡ
Vì thế mà bệnh lậu lan đến tận hiên nhà
Bệnh dịch tràn vào tận buôn.”[3]
—–
(*): Cây tung, cây thần, cây gạo,… là những cây thiêng liêng của người Gia-rai. Đòi đào gốc các cây đó là xúc phạm đến thần linh.

Như vậy, dù sở hữu đất đai nhưng không có nghĩa họ có toàn quyền khai thác rừng hay giết hại muông thú. Tín ngưỡng đa thần của người Thượng đặt ra các giới hạn trong cách cư xử với thiên nhiên. Do vậy mà lối sống của người Thượng là một đời sống rất nguyên tắc để duy trì một trật tự hòa thuận với thiên nhiên. Nhà nghiên cứu người Pháp J. Dournes cho rằng các mối quan hệ này [giữa thần linh, con người và thiên nhiên] như một sợi dây bền chặt. Người nào làm đứt các mối quan hệ hài hòa này, cuộc sống sẽ bị đe doạ.

Không hề lãng phí cũng chẳng tàn phá

Người Ba-na cũng tin vào số mạng, họ gọi đó là “ai” hay “Pun ai”; “ai to” có nghĩa là người đó có mạng lớn, của cải sẽ tự tìm đến; “ai nhỏ” là kẻ yếu, khó mà được giàu sang. Cho nên người Ba-na không bao giờ cất nhà quá to, phát một đám rẫy quá rộng, trước đến nay ông cha làm như thế nào thì tuân theo như thế ấy.

Người Thượng không đụng đến các loại cây công nghiệp cho đến khi người Pháp thành lập các đồn điền ở Tây Nguyên.

Làm rẫy là nghề chính của người Thượng. Bao nhiêu đời người Thượng vẫn đốt rừng làm rẫy. Họ chọn một khu đất rồi xin thần linh để phát rẫy. Không chỉ làm rẫy, họ còn biết trồng lúa và trồng cây hoa màu.

Không có máy móc, chỉ có nông cụ đơn sơ nên cách làm rẫy của họ cũng rất đơn giản. Khi trồng lúa họ cũng không xới đất lên như người Việt hay làm. Họ dùng một cái que chọc lỗ, bỏ hạt lúa vào rồi chờ ngày thu hoạch. Người Thượng thông thường bắt đầu phát rẫy vào tháng Hai hay tháng Ba đến tháng Chín thì mới gặt lúa, tức mỗi năm chỉ làm một vụ lúa.

Canh tác ở đám rẫy một thời gian nhất định thì phải bỏ để chuyển sang nơi khác vì đất ở đó đã bạc màu. Ví dụ như đất ở sườn Trường Sơn do đất dốc và xấu, mỗi rẫy chỉ làm được một đến hai năm. Ở những nơi đất tốt hơn thì có thể trồng liên tiếp từ ba đến sáu năm.
Một người Thượng đi rẫy với gùi mang các nông cụ, ảnh chụp năm 1931. Ảnh: W. Robert Moore/National Geographic Society/Corbis

Nhưng không vì thế mà ta cho rằng người Thượng du canh du cư giống như dân du mục là một sai lầm. Cách thức này gọi là luân khoảnh để trả rẫy về với rừng trong vài ba năm thì họ mượn lại từ rừng.

Bằng chứng rõ ràng nhất là người Thượng không du canh du cư vì mỗi lần dời đi rất tốn kém và phức tạp. Họ phải bỏ hết nhà cũ kể cả nhà rông đã tốn rất nhiều công sức để làm. Hoạ hoằn lắm như gặp dịch bệnh, lũ lụt hay cướp bóc thì người Thượng mới tìm đất lập làng mới.

Theo nhà văn Nguyên Ngọc, mỗi làng của người Thượng thường có năm loại rừng thì mới thành làng.


Thứ nhất là mảnh rừng làm nơi cư trú. Ở đó, họ dựng nhà rông, ăn ở, cử hành các nghi lễ, xử án, v.v.

Thứ hai là rừng để làm rẫy, được phân chia cho các gia đình. Chủ làng người Mạ khi chia đất sẽ thông báo cho cả làng tập trung đến, tổ chức lễ cúng thần linh rồi chia đất. Những phần đất thuộc một khu rừng thường được chia từ trên xuống dưới để đảm bảo đất nhà ai cũng như nhau, không có người được đất tốt, người khác thì được đất xấu.[4]

Thứ ba là rừng sinh hoạt là mảnh rừng mà con người đến để tìm gỗ, lấy mật, hái trái rừng.

Thứ tư là khu vực nghĩa trang, nơi những người chết trở về với rừng.

Thứ năm là rừng thiêng tức là nơi ở của các thần linh, rừng đầu nguồn, giữ nước, sự sống của làng.

Sự phân chia này hết sức quan trọng, thể hiện văn hoá bản địa về đất đai của người Thượng mà đến thời Việt Nam Cộng hòa Đệ nhị đã thừa nhận sự phân chia này và củng cố bằng các chính sách của chính quyền.

Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng người Thượng không có thói quen tích trữ, những gì họ làm ra đều đủ dùng cho nhu cầu của mình nên rất khó có chuyện tàn phá rừng.

Nền văn minh của người Thượng là một nền văn minh thảo mộc mà J. Dournes nói rõ: “Không hề lãng phí cũng chẳng tàn phá, đúng vừa đủ để sinh tồn, bên cạnh và cùng các giống loài khác”.[5]

Quyền sở hữu đất đai

Trò chuyện với chúng tôi, giáo sư Phan Đăng Nhật nhận xét rằng xã hội của người Thượng chưa có giai cấp nên chưa sinh ra sự bóc lột, họ không mua bán mà chỉ trao đổi với nhau. Họ coi trọng những người giàu có. Người giàu được xem là những người làm rẫy giỏi.

Theo giáo sư Nhật, người Thượng đã xem trọng tư hữu nhưng không có sự tích tụ tài sản hay hình thành nhóm thoát ly khỏi lao động. Người Thượng không xem rừng là gia sản riêng của gia đình, rừng là của Yang, tức là của thần linh. Làng vay mượn rừng của thần linh để lập làng, làm rẫy, và làm nơi sinh hoạt.


Mỗi làng có đất của riêng mình với sự chứng giám của thần linh. Họ khẳng định quyền sở hữu vùng đất ấy để tránh sự xâm chiếm của các làng khác. Họ dùng cây cối, con suối, tảng đá để đánh dấu đất đai của làng, người Ba-na gọi là Toring, người Pa-kô gọi là Curang, người Xê-đăng gọi là Cheam-Bang…

Mỗi buôn đều có người trông nom về đất đai, người Ê-đê gọi là Polăn, người Srê, Mạ gọi là Tom-Bri, người Chu-ru gọi là Po-Ea… Những người này nắm quyền về đất đai, những ai muốn có rẫy, mượn hay chuyển nhượng đều phải có sự cho phép của những người này.

Đây cũng là những nguời phân chia đất đai cho các gia đình theo chu kỳ luân canh. Khi đất đã chia cho các gia đình thì hộ đó có quyền sử dụng, không ai được xâm phạm. Ngay cả trong thời gian hưu canh, đất rừng vẫn thuộc hộ được phân chia.


Luật tục của người Ê-đê quy định quyền sở hữu đất đai của họ rất rõ ràng:
“Đất này là của bà xưa ông cũ để lại, điều đó người ta đã truyền miệng lại cho nhau (đời này đến đời khác). Nếu có tù trưởng nhà giàu nào đó muốn chiếm đoạt là không thể được.”[6]

Nếu người chủ đất (người chủ làng) mất thì đất đai được kế thừa như sau:
“Mất cậu, để lại cho cháu.
Mất bà, để lại cho cháu.
Mất người này, để lại cho người kia.
Không ai dám chiếm lấy.
Không ai dám giành lấy mà chia cắt, chiếm lấy bằng được.”[7]

Và người Ê-đê rất kiên quyết với những người chiếm đất của họ:
“Đất đai hắn chiếm, sông suối hắn đoạt; đất đai của tù trưởng nhà giàu, hắn giành lấy.
Rừng cây, hắn xí; đất đai hắn choán; rừng tê giác, rừng voi, hắn cũng lấn chiếm.
Hắn là kẻ to gan lớn mật, dám vượt cả núi cao.
Như vậy có việc phải xét xử giữa người ta với hắn.”

Luật tục của người Gia-rai vùng Cheo Reo (Pleiku) quy định tội chiếm đoạt rẫy của người khác:
“Nó đứng đó, tỏ vẻ doạ dẫm
Nó muốn chiếm đoạt từ rẫy
đến rừng của người khác
Bởi nó ghen ghét người ta
Những người có thóc đầy vựa, ngô đầy giàn
Nó không bị ghẻ
Nhưng lại lấy quả mơneng xát vào (*)
Nó không bị mụn nhọt
Nhưng lại lấy một mũi nhọn chích vào
Nó không phạm tội
Những lại sinh ra tội lỗi(**)
Nó lên cò súng
Nó đổ nhựa cây
Nó vẽ lên sợi dây chuyền(***)
Bởi thế, phải đưa nó ra xét xử”[8]
—-
(*) một loại quả rừng dùng để chữa ghẻ.
(**) Nó không phải là tội phạm nhưng vì chiếm rẫy nên trở thành tội phạm.
(***) Nó làm dấu của nó lên rẫy người khác để chiếm đoạt).

Nhờ tôn trọng quyền sở hữu về đất đai, mỗi làng trong hàng nghìn ngôi làng ở Tây Nguyên bảo vệ được mảnh rừng, mảnh đất mà họ vay mượn từ thiên nhiên cho cuộc sống của mình.

Luật tục Raglai đặt ra những điều sau để bảo vệ môi trường và nguồn nước:
“Cấm làm nhà, làm dơ bẩn nơi nguồn nước, mạch nước ngầm.
Chỉ được dùng nước (suối, sông, hồ) ở một phía.
Uống nước hai bờ là giành giật với ông bà
Cấm đàn bà trẻ con tắm nước suối, nước sông.
Cấm săn bắt quá mức.
Cấm săn bắt và mang thịt thú rừng.
Cấm phát thông ranh rẫy.
Nghiêm cấm làm lửa cháy rừng.
Cấm đụng chạm đến cây to, cây nhiều tuổi.
Không được làm nhà nơi thùng, trãng, bãi, ao.
Không được làm rẫy nơi có người chết không được chôn cất đàng hoàng
Cấm tự ý du cư đến nơi rừng sống, đất mới.”[9]

Trước khi người Pháp đến, triều đình vẫn tôn trọng chế độ đất đai theo phong tục riêng của các bộ lạc, hằng năm thu một số thuế nhất định, vài năm một lần các tù trưởng đến kinh đô để cống nạp sản vật.[10]

Đất đai và rừng là cuộc sống của người Thượng. Quyền sở hữu về đất đai, rừng cây của họ đã có từ rất lâu. Toàn bộ đời sống của một người Thượng không thể không có rừng.

Mất đất, người Thượng không còn là họ nữa: không còn không gian sống, luật tục bị vi phạm, tín ngưỡng không toàn vẹn, dân làng mất đoàn kết hay như nhà nghiên cứu Tây Nguyên J. Dournes đã nói là “trở thành điên loạn”.

Mời độc giả đón đọc bài viết tiếp theo về những biến đổi trong đời sống của người Thượng khi người Pháp đô hộ xứ Đông Dương.


Trích dẫn:

[1]Người Ba-na ở Kon Tum, Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, Nxb Trẻ, trang 139.
[2]Rừng, Đàn bà và Điên loạn, Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu, NXB Tri Thức, trang 155.
[3]Luật tục Jrai, Chủ biên PGS.TS Phan Đăng Nhật, Sở Văn hoá – Thông tin Gia Lai, xuất bản năm 1999, trang 215.
[4]Văn hoá người Mạ, Nguyễn Văn Tới và các tác giả, NXB Văn hoá Dân tộc, trang 71 và 72.
[5]Rừng, Đàn bà và Điên loạn, sách đã dẫn, lời giới thiệu.
[6]Luật tục Ê-đê, Ngô Đức Thịnh và các tác giả, NXB Văn hoá Dân tộc, trang 414.
[7]Luật tục Ê-đê, sách đã dẫn, trang 410.
[8]Luật tục Jrai, sách đã dẫn, trang 112.
[9]Luật tục – Một giá trị văn hoá phi vật thể đặc sắc, GS.TSKH Phan Đăng Nhật, Di sản văn hoá số 26.
[10]Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục), Nguyễn Trắc Dĩ, Bộ Phát triển Sắc tộc xuất bản, năm 1972 tại Sài Gòn, trang 129.


Người Thượng ở Tây Nguyên – Kỳ 3: Đất Thượng của người Thượng
12/05/2019

Một nhóm thợ săn người Thượng vào đầu thế kỷ 20. Ảnh: Nhiếp ảnh gia Chatras.

0SHARES


Cuối thế kỷ 19, cuộc sống đơn sơ của các bộ tộc Thượng đã bị xáo trộn khi người Pháp đến Tây Nguyên cùng với quân đội và súng ống. Nền văn hoá thảo mộc buộc phải học cách hòa đồng với chế độ chính trị hiện đại.

Trước đó, vì địa hình quá hiểm trở, triều đình Huế không can thiệp sâu đến khu vực này, hằng năm chỉ thu một số thuế đã định. Đến thời Pháp, chính quyền thực dân dù cai trị hà khắc nhưng cũng nhún nhường nhất định đối với người Thượng ở Tây Nguyên.

Cũng chính từ thời kỳ này, người Thượng bắt đầu mất dần tiếng nói trên chính vùng đất của mình.

Người Pháp đến đất Thượng

Các nhà truyền đạo Thiên chúa giáo đã đến Annam trước khi người Pháp nổ súng ở Đà Nẵng năm 1858. Có lẽ chúng ta còn nhớ một thời triều đình Huế đã đàn áp khốc liệt Thiên chúa giáo.

Thời vua Minh Mạng, triều đình đã bắt đầu cấm đạo. Đến thời vua Tự Đức, từ năm 1848 đến năm 1860, ở miền Bắc, có hàng chục giáo sĩ bị tàn sát cùng với hàng vạn giáo dân bị lưu đày hay bị giết.[1]

Giáo sĩ và giáo dân miền Trung cũng không tránh khỏi cuộc truy sát này. Một số đã tìm lên đất Mọi, tức là đất của người Thượng trên vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, nhờ vào núi rừng hiểm trở mà lánh nạn.[2]

Người Annam đến đây một thời gian thấy sinh sống dễ dàng nên bắt đầu định cư. Các giáo sĩ bắt đầu truyền đạo cho dân Mọi, lập các làng Công giáo, mở trường học và dạy họ cách làm ruộng như dùng trâu bò để xới đất. Nổi bật trong đó có Hội Truyền giáo Kontum.

Năm 1867, khi người Pháp đã kiểm soát sáu tỉnh Nam Kỳ, họ bắt đầu nhắm đến khu vực Tây Nguyên. 

Khi chính thức đô hộ Việt Nam năm 1884, người Pháp thiết lập chính quyền bảo hộ, thực chất là cai trị trực tiếp. Họ chia nước ta nhiều khu vực để cai trị, mỗi khu vực lại có một chế độ riêng. Vùng đồng bằng có Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vùng núi có miền Thượng du Bắc Kỳ và miền Cao Nguyên Trung Kỳ.

Người Pháp tiến hành nhiều cuộc thám hiểm ở Cao Nguyên Trung Kỳ, có người phải bỏ mạng vì xung đột với các sắc dân ở đây.

Cho đến đầu thế kỷ 20, người Pháp đã can thiệp vào tận cùng các ngõ ngách ở Tây Nguyên mà trước đó triều đình không làm được.

Tuy nhiên, họ không thể kiểm soát cả Tây Nguyên rộng lớn cũng như không thể làm cho tất cả các bộ tộc khuất phục. Người Pháp phải giao tranh thường xuyên với một số bộ tộc. Họ cấm người Annam đến những nơi mà các bộ tộc chưa chịu khất phục.

Với những khu vực đã kiểm soát, người Pháp mở mang đường xá, chia đơn vị hành chính, lập nhà công vụ, nhà thương, sở thú y, bưu điện… Đi liền với những việc này là thu thuế. Ban đầu thuế còn nhẹ, càng về sau thì càng nặng nề.

Để khai thác tối đa thuộc địa, người Pháp thiết lập chính sách nhượng đất lập đồn điền. Ở Tây Nguyên, đất đai dồi dào lại tươi tốt nên các đồn điền ngày càng được mở rộng.

Công sứ của Pháp ở tỉnh Kontum đã viết về Kontum như sau: “Tỉnh Kontum là một vùng đất của tương lai. Ở đây có những cao nguyên mênh mông đất đỏ rất phì nhiêu của vùng Plei Ku, tạo thành một hình vuông mỗi cạnh khoảng 100km, hoàn toàn thích hợp với trồng cà phê và có lẽ cả trồng bông”.[3]

Nhưng việc mở rộng các đồn điền không tránh khỏi “ăn” mất những khu đất tốt của người Thượng. Mất đất, ở một số nơi, người Thượng bị đẩy sâu vào vùng đồi núi để làm rẫy.

Chính sách nhượng đất lập đồn điền này bị nhà dân tộc học nổi tiếng người Pháp Jacques Dounres kịch liệt phản đối. Nhà dân tộc học với hơn 25 năm sống với người Thượng từ năm 1946 đến năm 1970 cho rằng, sự gia tăng của các đồn điền giết chết hình thức lao động truyền thống, đẩy người Thượng vào cảnh nghèo khốn, nô lệ.[5]

Các đồn điền còn chiêu mộ người Thượng làm công nhân cho họ. Đến năm 1935 thì Thống sứ của Pháp ở Nam Kỳ phải thông báo: “Tôi đã có những chỉ dẫn nghiêm khắc yêu cầu chấm dứt lối mộ người này, nó có thể lẫn lộn với một hệ thống bắt sưu: nhân công người Mọi ở các đồn điền phải được tự do”.[4]

Đất Thượng của người Thượng

Người Pháp không có chính sách nhất quán ở Đông Dương mà phụ thuộc phần lớn vào quan toàn quyền Pháp. Ngoài quan toàn quyền, chính sách ở Tây Nguyên phụ thuộc vào khâm sứ và công sứ Pháp ở các tỉnh.[6]

Người Pháp đã cử một số quan chức rất am hiểu về dân tộc học để cai trị khu vực Tây Nguyên, trong đó phải kể đến Léopold Sabatier. Vị này được cử làm đại diện ở Đắk Lắk năm 1912, rồi làm công sứ tỉnh này đến năm 1929.

Sabatier có nhiều đóng góp đáng ghi nhận cho người Thượng ở Kontum. Ông chủ trương chính sách “đất Thượng của người Thượng” nhằm ngăn chặn người ngoài đến khai thác. Ông là người đầu tiên thực hành lối sống Thượng, nói tiếng Thượng, lấy vợ người Ê-đê. Hơn nữa, ông góp phần mở mang tỉnh Đắk Lắk mà vẫn giữ được truyền thống của người Thượng. Ông cho mở đường, trường học, kéo điện, dạy nghề, ngăn chặn phá rừng, hoà giải các bộ tộc, sưu tầm lại trường ca Đam San…[7]

Đến năm 1923, Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ Pierre Pasquier (sau này được thăng chức toàn quyền và là người khá am hiểu về phong tục Annam) ra lệnh cho các công sứ lấy Đắk Lắk làm gương, duy trì không cho người ngoài, cả người Kinh lẫn người Pháp, ồ ạt lên Cao Nguyên lập đồn điền. 

Khâm sứ lệnh cho các công sứ phải sưu tầm văn hoá, tập quán, phong tục của người Thượng như Sabatier đã làm ở Đắk Lắk, hướng dẫn người dân trồng cây ăn trái, hoa màu, mở lớp dạy về y tế, tuyển các giáo viên nói tiếng Thượng để dạy cho con em người Thượng.

“Các vị công sứ phải đích thân xem xét đến vấn đề khai khẩn đồn điền và ngăn chặn những sự va chạm giữa chủ đồn điền và thổ dân, sự can thiệp đúng lúc không chủ đồn điền bóc lột quá mức thổ dân, việc ngăn chặn người Việt lên miền Thượng và việc nâng đỡ người Thượng phát triển chứng tỏ chúng ta không chủ trương đàn áp một sắc tộc nào cả” – trích thông tri của Khâm sứ Pháp Peirre Pasquier ngày 30/7/1923.[8]

Như đã nói, chính sách ở từng nơi phụ thuộc vào quan điểm của từng quan chức người Pháp nên khi những vị này bị chuyển đi nơi khác thì chính sách nơi đó cũng bị thay đổi.

Khi Sabotier bị chuyển đi nơi khác, tỉnh Kontum được mở rộng để người Kinh lên sinh sống. Không còn ai nhắc đến Sabotier về những nỗ lực của ông cho văn hoá bản địa.[19]

Lập toà án phong tục

Người Pháp không phải ngẫu nhiên mà thay đổi chính sách đã có trước đó. Những chính sách mà người Pháp đã áp dụng ở Campuchia, Lào và vùng đất của người Việt đều không ăn thua gì với miền Thượng. Họ liên tiếp phải giao tranh đổ máu với những sắc dân ở đây.

Trong thông tri năm 1923, Khâm sứ Pierre Pasquier đã định hướng cho các công sứ của ông ở các tỉnh của Cao Nguyên Trung Kỳ: “Công lý ở các dân tộc Tây Nguyên cũng giống như ở các dân tộc khác, được biểu trưng bằng cái cân, nhưng khi đối diện với những tranh chấp đó các ông phải quyết định, các ông không được bỏ vào cái cân những trọng lượng ngang bằng trọng lượng mà các ông dùng để cân hành động của những người thuộc các dân tộc tiến bộ hơn.

Công lý sẽ được đem đến cho các dân tộc Tây Nguyên bởi việc phân xử tự nhiên, dưới sự chỉ đạo của chính quyền Pháp, nhưng luôn luôn theo luật lệ và phong tục bản xứ”.[9]

Kontum là nơi có toà án phong tục (tiếng Pháp là tribunal coutumier) tiêu biểu nhất. Những vụ xét xử liên quan đến người Pháp thì đương nhiên toà án Pháp phân xử. Công sứ phê chuẩn các bản án khác liên quan đến người Thượng và người Annam.

Những vụ việc giữa người Annam với nhau thì quan tri huyện Annam xét xử rồi xin công sứ của tỉnh phê duyệt, xử bằng luật Annam.

Những vụ việc giữa người Thượng với nhau thì phải hoà giải trong làng trước bằng luật tục của làng đó. Nếu vẫn không xong thì phải đem ra toà án phong tục của tỉnh để xử, có ông công sứ làm chủ toạ. Toà án xét xử bằng cách vận dụng luật tục của người Gia-rai, Ba-na và Xơ-đăng (ba sắc tộc chính ở Kontum). Lúc này luật tục các sắc dân đã được viết lại không còn theo kiểu văn vần mà theo lối văn xuôi để áp dụng chính xác hơn. Người phạm lỗi chỉ chịu án tù trong các vụ án mạng, còn lại có thể nộp tiền chuộc, mỗi tháng chuộc năm đồng. Những án tù trên một năm phải được khâm sứ phê duyệt.[10]

Nếu vụ việc xảy ra giữa người Thượng và Annam thì phức tạp hơn, ngoài công sứ xét xử thì còn có quan tri huyện người Annam và quan tri huyện người Thượng tư vấn khi xét xử, hai vị này do triều đình bổ nhiệm. Người phạm lỗi thuộc bên nào thì sẽ xử theo luật của bên ấy.[11]

Phân chia đất đai

Người Pháp nếu muốn lấy đất mở rộng thị trấn thì chỉ phải bồi thường tượng trưng cho các chủ đất người Thượng để không mang tiếng ức hiếp dân bản địa.

Những người lên khẩn hoang làm đồn điền cũng phải đóng thuế cho các chủ đất người Thượng. Tuy nhiên, người Pháp khi cai trị luôn muốn có toàn quyền về đất đai. Việc chuyển nhượng đất đai phải có sự giám hộ của người Pháp. Nếu chuyển nhượng dưới 30 ha phải được quận trưởng phê duyệt, trên mức đó thì khâm sứ phê chuẩn.[12]

Năm 1933, khi hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi lên vùng Kontum thì thấy đất đai quanh thị trấn bao la, không dùng hết nên ai muốn khai khẩn thì có thể xin người Pháp. Người khai khẩn phải có giấy tờ chứng minh đã đóng đầy đủ thuế thân, giấy căn cước, bản đồ khu đất và khai về số vốn đầu tư và số công nhân định thuê mướn.[13]

Nhưng đó chỉ là xin khẩn những mẫu đất nhỏ. Lúc này đất đai ở cả ba miền vẫn bao la mà dân cư thì thưa thớt nên dễ dàng cấp cho các điền chủ, trong đó có các điền chủ xin thì nhiều nhưng không có năng lực sản xuất. Chính quyền bảo hộ phải làm sao cân bằng được quyền lợi của người Pháp và người Annam (giới thượng lưu và người cày).

Từ sau năm 1920, người được nhượng đất phải khai thác đất trong thời hạn quy định (qua giai đoạn tạm thời) thì mới được cấp quyền sử dụng vĩnh viễn, bằng không thì sẽ bị thu hồi.

Năm 1926, quan toàn quyền đã giới hạn diện tích đất có thể nhượng cho các chủ đồn điền, tối đa được nhượng 15.000 ha, dưới 300 ha thì cho không, bán theo giá thoả thuận ở mức 1.000 ha, trên mức đó thì phải đấu giá.

Đến năm 1928, các chủ đồn điền muốn được nhượng đất thì phải chứng minh khả năng tài chính. Những diện tích đất nào xin cấp từ 1.000 ha đến 4.000 ha thì quan toàn quyền có thể cho phép, trên mức đó thì do tổng thống Pháp ban cấp với ý kiến của Bộ Thuộc địa và đề nghị của quan toàn quyền.[14]

Năm 1929, Toàn quyền Pasquier cấm các viên chức và nhà binh, cả Pháp lẫn Việt, xin đất lập đồn điền, trừ khi về hưu.[15]

Đầu thế kỷ 20, cây công nghiệp ở Tây Nguyên được trồng khá khiêm tốn. Từ năm 1928, trà mới được trồng ở vùng Cao Nguyên Trung Kỳ có diện tích khoảng 3.000 ha, còn cao su phủ một diện tích 98.000 ha trong những miền đất đỏ và đất xám ở phía Bắc Sài Gòn và khoảng 2.000 ha ở Trung Kỳ.[16]

Hoàng Triều Cương Thổ

Năm 1945, Nhật trả quyền lại cho Việt Nam, vua Bảo Đại đã huỷ tất cả hoà ước đã ký trước đó với Pháp. Sau đó, Pháp tái chiếm Việt Nam. Đến giữa năm 1949, Pháp đã tái kiểm soát toàn bộ Cao Nguyên Trung Phần.

Lúc này, Pháp đã ký với vua Bảo Đại Hiệp định Élysée công nhận Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm quốc trưởng. Một trong những yêu cầu bên cạnh hiệp định này là thiết lập chế độ riêng biệt cho người Thượng, tách khỏi sự kiểm soát của chính phủ, vì sự khác biệt giữa Kinh và Thượng. Các chính sách ở Cao Nguyên Trung Phần phải được chính phủ Pháp đồng ý.

Với yêu cầu như vậy, vua Bảo Đại đã chấp nhận và tổ chức vùng Cao Nguyên thành hai phần, Hoàng Triều Cương Thổ Bắc và Nam, lấy Đà Lạt làm thủ phủ, hạn chế tối đa người Kinh di cư lên Cao Nguyên.

Theo đó, các tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên, Pleiku và Kontum họp thành một đơn vị hành chính riêng biệt gọi là miền Nam Hoàng Triều Cương Thổ, trở thành đất của triều đình.
Quốc trưởng Bảo Đại trong một chuyến thị sát Hoàng triều năm 1950. Ảnh: VnExpress.

Năm 1951, vua Bảo Đại ban hành đạo dụ số 16 thiết lập quy chế riêng cho khu vực này (tóm tắt):[17]

– Tôn trọng phong tục tập quán của người Thượng.
– Tôn trọng các vị tù trưởng, bô lão và những người có uy tín trong đồng bào Thượng. Hướng dẫn những người này tham gia điều hành các cơ quan hành chính, chính trị và tư pháp.
– Tổ chức toà án phong tục Thượng.
– Thành lập hội đồng kinh để phát triển kinh tế trên Cao Nguyên.
– Tôn trọng quyền đất đai của người Thượng (quyền của chủ đất); các vụ mua bán đất đai được tiến hành theo phong tục, tập quán Thượng.
– Chính phủ yểm trợ các kế hoạch phát triển y tế, văn hoá, xã hội trên đất Thượng. Tiếng Việt và tiếng Pháp là ngôn ngữ phụ.
– Đào tạo cán bộ người Thượng trong lĩnh vực quân sự, y tế, hành chính và giáo dục cho nhu cầu địa phương.
– Không thi hành chế độ quân dịch gắt gao, đồng bào và binh sĩ Thượng được tổ chức thành các đơn vị Sơn Cước, ưu tiên phục vụ tại Tây Nguyên.

Tuy nhiên, Hoàng Triều Cương Thổ chỉ tồn tại được một thời gian ngắn. Sau khi thua trận ở Điên Biên Phủ năm 1954, Pháp buộc phải rời khỏi Việt Nam. Đất nước bị chia cắt thành hai miền đối nghịch.

Ở miền Nam, sau khi Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng, ông đã yêu cầu vua Bảo Đại huỷ bỏ Hoàng Triều Cương Thổ. Tháng 3/1955, Hoàng Triều Cương Thổ bị xoá sổ. Cao nguyên Trung Phần dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng hoà bắt đầu chính sách đồng hóa và xâm chiếm đất đai của người Thượng.

(Còn nữa)

Bài đã đăng về Người Thượng ở Tây Nguyên:



Trích dẫn:

[1]Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn Thế Anh, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ, trang 15 và 18.
[2]Người Ba-na ở Kontum, Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, Nhà xuất bản Trẻ, trang 88.
[3]Người Ba-na ở Kontum, sách đã dẫn, trang 22.
[4]Miền Đất Huyền Ảo, Jacques Dournes, Nguyên Ngọc (Dịch) Nxb Thông tin và truyền thông, trang 39.
[5]Miền Đất Huyền Ảo, sách đã dẫn, trang 40.
[6]Cao Nguyên Miền Thượng, Toan Ánh và Cửu Long Giang, bản in tại Saigon năm 1974, trang 128.
[7]Cao Nguyên Miền Thượng, sách đã dẫn, trang 134.
[8]Cao Nguyên Miền Thượng, sách đã dẫn, trang 133.
[9]Luật tục của các bộ lạc Bahnar, Sêđăng và Jrai ở tỉnh Kontum, P.Guilleminet, EFOE, Hà Nội, 1952, trang 91.
[10]Người Ba-na ở Kontum, sách đã dẫn, 117.
[11]Luật tục của các bộ lạc Bahnar, Sêđăng và Jrai ở tỉnh Kontum, sách đã trích dẫn, trang 71.
[12]Đồng bào và các sắc tộc thiểu số Việt Nam, Nguyễn Trắc Dĩ, Bộ Phát triển Sắc tộc, in năm 1972 ở Saigon, trang 129.
[13]Người Ba-na ở Kontum, sách đã dẫn, trang 103.
[14]Từ góc độ lịch sử góp vào việc quản lý và khai thác đất đai, Tạ Thị Thuý, Việt Nam học – Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ hai.
[15]Từ góc độ lịch sử góp vào việc quản lý và khai thác đất đai, nghiên cứu đã dẫn.
[16]Việt Nam hời Pháp đô hộ, sách đã dẫn, trang 192.
[17]Cao Nguyên Miền Thượng, sách đã dẫn, trang 138.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét