Saturday, September 28, 2019

Việt Nam từ Đổi Mới (1986) tới trước Cuộc chiến Thương mại Mỹ - Trung (6/2018)(1,2)

Việt Nam từ Đổi Mới (1986) tới trước Cuộc chiến Thương mại Mỹ - Trung (6/2018)(1,2)

Việt Nam từ Đổi Mới (1986) tới trước Cuộc chiến Thương mại Mỹ - Trung (6/2018)(1)
Nguyenvubinh
Thứ Tư, 09/25/2019 - 10:19 
RFA

I/ Từ mong muốn đổi mới thực sự về kinh tế chuyển thành việc duy trì độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam

Sự phá sản của nền kinh tế kế hoạch đã dẫn tới khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng trong những năm giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Việt Nam đã bắt buộc phải thực hiện đổi mới nền kinh tế, cũng là lúc Liên Xô tiến hành công cuộc Cải tổ. Việc thay đổi cơ chế kinh tế bắt nguồn từ những khủng hoảng trầm trọng của nền kinh tế chứ không đơn thuần là việc bắt trước Liên Xô. Đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới một cách có ý thức và tiến hành khá bài bản. Một tiểu ban soạn thảo văn kiện trình Đại hội được ưu tiên cả trong nghiên cứu thực tế, cũng như học tập mô hình cải tổ của Liên Xô.

Văn kiện Đại hội Đảng VI (năm 1986), nhất là nội dung nói về kinh tế thị trường cũng như chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường được trình bày khoa học, sát thực tế và khá mẫu mực cho những nghiên cứu và lý thuyết về kinh tế thị trường sau này. Điều này phản ánh những mong muốn thay đổi thực sự của Đảng cộng sản đối với cơ chế quản lý kinh tế. Mặc dù vậy, những ý tưởng về việc mở rộng, nới lỏng về chính trị đều bị trừng trị và loại bỏ ngay như trường hợp ủy viên bộ Chính trị Trần Xuân Bách. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên còn lại như Trường Chinh, Lê Đức Thọ và Phạm Văn Đồng đã lui về làm cố vấn cho thế hệ lãnh đạo thứ hai, điển hình là Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Đức Anh.

Khí thế hồ hởi của công cuộc Đổi Mới đã truyền sinh lực cho người dân cũng như các tầng lớp lãnh đạo. Nền kinh tế đã bật tăng, từ chỗ thiếu đói đến việc sản xuất lúa gạo xuất khẩu đứng thứ 3 thế giới. Các ngành nghề, lĩnh vực được cởi trói đều có bước phát triển ngoạn mục. Cũng cần nói thêm rằng, khi công cuộc đổi mới bắt đầu đi vào cuộc sống, tinh thần “điều gì không cấm thì người dân được làm” cũng như việc hệ thống quản lý chưa kịp xây dựng các văn bản dưới luật, hay còn gọi là văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra một không gian hoạt động tương đối cởi mở cho nền kinh tế. Kết quả đã tạo ra sự phát triển đáng mong đợi trong một thời gian.

Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, văn học nghệ thuật được cởi trói đã tạo ra những tác phẩm, tác giả tầm cỡ cũng như một trào lưu phản ánh và phê phán xã hội thật sôi động. Những vở kịch của Lưu Quang Vũ, những tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, những tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Trần Văn Thủy… vv… đã đem lại xung lực mới cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, sự sụp đổ của Chủ nghĩa Xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã tác động mạnh tới đội ngũ lãnh đạo đảng cộng sản. Việt Nam chỉ có đồng minh là Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu, nay các nước đều thay đổi chế độ và Việt Nam đã không còn đồng minh ý thức hệ. Trong lịch sử đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam, việc phải dựa dẫm và phụ thuộc vào một đồng minh, quan thầy là truyền thống. Mặt khác, với một chế độ độc tài toàn trị, và không có ý định thay đổi độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, việc tìm kiếm đồng minh làm chỗ dựa duy trì chế độ tất yếu dẫn tới việc Việt Nam phải tìm tới Trung Quốc. Đây chính là khởi nguồn và nguyên nhân cho những sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc sau này.

Trung Quốc ngay từ năm 1977, sau khi Đặng Tiểu Bình ổn định được tình hình, xác lập vị thế lãnh đạo đã thực hiện chuyển đổi, từ “Chú trọng chính trị sang chú trọng kinh tế” với chiến lược Bốn Hiện Đại Hóa. Thực chất là mở cửa về kinh tế, phát triển kinh tế trong khi vẫn giữ độc quyền duy trì lãnh đạo của đảng cộng sản. Khi Việt Nam chấp nhận những thua thiệt, xin được trở lại làm đồng minh với Trung Quốc, họ thấy ngay mô hình cần học tập trong việc phát triển kinh tế nhưng vẫn duy trì sự độc tài toàn trị. Như vậy, việc sụp đổ chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu làm cho Việt Nam mất đồng minh cũng như sự hỗ trợ về kinh tế đã làm cho Việt Nam quay lại đồng minh với kẻ thù, và quan trọng hơn, biến những mong muốn đổi mới thực sự về kinh tế thành thủ thuật để duy trì độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản.

Việc sử dụng công cuộc Đổi Mới cởi trói nền kinh tế, chế độ cộng sản Việt Nam đã thoát khỏi nguy cơ sụp đổ. Nhưng sau đó nhà cầm quyền Việt Nam đã không thực hiện đến cùng công cuộc đổi mới (về kinh tế). Họ đã sử dụng việc đổi mới nửa vời để duy trì độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, điều này thể hiện trên các phương diện như sau.

- Về kinh tế, nếu là đổi mới, thay đổi thực sự, Việt Nam đã phải tôn trọng các nguyên lý của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã bị bác bỏ, trong đó quan trọng nhất là sở hữu tư nhân về đất đai. Ở Việt Nam, đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý. Điều này đã làm cho tư liệu sản xuất quan trọng nhất không được thị trường quyết định, thị trường đất đai không được vận hành đúng quy luật đã bóp méo toàn bộ nền kinh tế, và gây biết bao hệ lụy cho xã hội (tình trạng cướp đất tạo ra hàng triệu dân oan cả nước). Nguyên lý thị trường quyết định giá cả hàng hóa cũng bị vi phạm nghiêm trọng. Những hàng hóa cơ bản như điện, nước, xăng dầu thậm chí giá vàng, đô la cũng bị nhà nước chi phối về giá cả. Đương nhiên những vi phạm này cũng làm biến dạng các quan hệ cung cầu của tất cả các hàng hóa khác. Một nguyên lý về khối lượng tiền tệ lưu thông tương ứng với khối lượng hàng hóa và tổng giá trị ngoại tệ cũng bị vi phạm nghiêm trọng. Việt Nam đã thực hiện in tiền không có giới hạn, hoàn toàn không tương ứng (vượt quá gấp nhiều lần) lượng hàng hóa mà nền kinh tế sản xuất ra dẫn tới tình trạng lạm phát hàng năm rất cao, giá trị đồng tiền bị mất giá nghiêm trọng…

Đối với cấu trúc nền kinh tế, việc định hướng Xã hội Chủ nghĩa thể hiện trong tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước được ưu tiên chiếm 70% lượng vốn, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế là một cấu trúc đi ngược với các nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm một tỷ trọng cực nhỏ trong tất cả các nền kinh tế thị trường bởi sự thiếu hiệu quả so với các doanh nghiệp tư nhân. Hệ quả là toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước, các doanh nghiệp quốc doanh của Việt Nam tính đến cuối năm 2018 đã có tổng số nợ lên tới 431 tỷ đô la, chiếm hơn 2/3 tổng số nợ của Việt Nam… ngoài ra, Việt Nam còn rất nhiều những khía cạnh vi phạm nguyên tắc của nền kinh tế thị trường.

- Về chính trị, việc giữ nguyên độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản và thắt chặt về chính trị (kiểm duyệt báo chí, không cho lập hội nhóm ngoài nhà nước…) là nguyên tắc xuyên suốt của đảng cộng sản từ khi mở cửa nền kinh tế tới trước cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Giai đoạn đầu của công cuộc Đổi Mới, vấn đề truyền thông, báo chí, văn học nghệ thuật tương đối được tự do. Tuy nhiên, khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, những cởi mở đó cũng biến mất. Tất cả những tiếng nói cởi mở, những ý tưởng cấp tiến trong hệ thống đảng và nhà nước vừa cất lên đã bị trừng phạt ngay lập tức. Việc đàn áp những tiếng nói phản biện, và sau này là những người đấu tranh cho tự do, dân chủ luôn được đặt lên hàng đầu, trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Song song với việc thắt chặt về chính trị, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cũng giữ nguyên cấu trúc toàn trị được xây dựng từ trước đổi mới. Hệ thống tuyên truyền, hệ thống an ninh mật vụ, hệ thống các đoàn thể hầu như không có gì thay đổi. Chế độ cộng sản giữ nguyên cấu trúc này một mặt để có một lượng người khổng lồ phụ thuộc vào hệ thống, mặt khác tạo ra áp lực, sức ép đối với những người đấu tranh cho tự do, dân chủ. Vấn đề giáo dục vẫn chủ trương và thực hiện chính trị hóa, đưa các nội dung tuyên truyền và loại bỏ tự do học thuật trong các ngành khoa học xã hội. Toàn bộ các biện pháp này đã giúp duy trì sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam trong thời gian khá dài…

(còn nữa)

Hà Nội, ngày 25/9/2019

N.V.B

nguyenvubinh's blog



Việt Nam từ Đổi Mới (1986) tới trước Cuộc chiến Thương mại Mỹ - Trung (6/2018) (tiếp theo)(2)
Nguyenvubinh
Thứ Sáu, 09/27/2019 - 10:54 
 RFA

III/ Sự thức tỉnh của người dân và sự lớn mạnh của phong trào dân chủ Việt Nam

Kể từ khi cuộc chiến Quốc Cộng kết thúc đến trước cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung cũng đã 40 năm, người dân Việt Nam rên xiết dưới ách toàn trị, độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, tinh thần phản kháng của người dân chưa khi nào nguội tắt, nó được thức tỉnh từ từ, theo thời gian và đã trở thành một phong trào rộng khắp. Tất cả những hoạt động phản kháng của người dân, từ đơn lẻ, tới kết hợp manh nha, từ hành động bạo lực tới bất bạo động, từ khi có ít người tham gia đến khi số lượng hàng ngàn người, và các tổ chức đã xuất hiện đều nằm trong hoạt động của phong trào dân chủ. Có thể tạm chia phong trào dân chủ Việt Nam thành bốn thời kỳ, có các nội dung, phương thức hoạt động, tính chất và định hướng khác nhau. Nhưng tất cả đều nhằm vào mục tiêu chung cao nhất, đấu tranh để thay đổi chế độ cộng sản Việt nam sang chế độ dân chủ.

Thời kỳ đầu tiên, có thể tính từ năm 1975-1988 là thời kỳ phục quốc của Phong trào dân chủ Việt nam. Gọi là phục quốc bởi vì các hoạt động đều do những người ở miền Nam, những quân-dân-cán-chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa thực hiện nhằm khôi phục lại quốc gia đã mất là chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Khôi phục lại quốc gia đã mất cũng có nghĩa là khôi phục lại quyền tự do cho người dân, và thể chế dân chủ cho đất nước. Đặc trưng của giai đoạn phục quốc là phương thức đấu tranh vũ trang, bạo động. Đó là các nhóm quân còn sót lại, các sĩ quan, binh lính và cả các nhân sĩ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, có thể ở trong nước, có thể ở nước ngoài tấn công vào các cơ sở của chế độ cộng sản Việt Nam ở miền Nam. Có một số tổ chức đại diện của giai đoạn này như Mặt trận Thống nhất các lực lượng giải phóng Việt nam do các ông Trần Quốc Túy, Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá đại diện; Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đại diện là ông Hoàng Cơ Minh…Những hoạt động đấu tranh này có quy mô nhỏ, tính chất đấu tranh bạo động chống lại một nhà nước có đầy đủ quân đội, khí tài nên ý nghĩa tinh thần, giữ và nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh là chủ yếu. Tinh thần xả thân vì nước của những đại diện tiêu biểu đã động viên được nhiều lớp người đi sau.

Thời kỳ thứ hai, đó là từ năm 1988 - 2000. Có thể gọi thời kỳ này là thời kỳ Thức Tỉnh. Lý do lấy năm 1988 làm mốc bởi vì năm đó xuất hiện bài viết “Nắm tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” của tiến sĩ Hà Sĩ Phu. Bài viết này là cột mốc đánh dấu sự phản tỉnh, thức tỉnh của tầng lớp trí thức Việt Nam. Đây là giai đoạn các trí thức trong lòng chế độ cộng sản Việt nam đã thức tỉnh và có những tiếng nói phản kháng. Đồng thời, đó cũng là thời kỳ đồng bào miền Nam, người Việt hải ngoại chuyển từ đấu tranh vũ trang, bạo động sang đấu tranh bất bạo động. Có thể gọi thời kỳ này này là thời kỳ thức tỉnh của trí thức Việt nam trong lòng chế độ cộng sản. Đó là những tiếng nói thức tỉnh, đơn lẻ của những trí thức, phần lớn là ở miền Bắc Việt Nam như ông Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Lê Hồng Hà, Phạm Quế Dương, nhà văn Dương Thu Hương, Hoàng Tiến, Nguyễn Thanh Giang, vv…Đây là thời kỳ sử dụng phương thức đấu tranh bất bạo động, dùng các bài viết để bày tỏ ý kiến, sự khác biệt và phản kháng của người trí thức. Đây cũng là giai đoạn những người đấu tranh phía Nam, người Việt hải ngoại chính thức từ bỏ con đường đấu tranh vũ trang, bạo động để chuyển sang giai đoạn đấu tranh bất bạo động, giai đoạn đấu tranh chính trị. Thời kỳ hơn chục năm này (từ 1988-2000) là giai đoạn thai nghén cho các hoạt động bùng nổ sau này.

Thời kỳ từ năm 2000-2007. Đây là thời kỳ đấu tranh chính trị của phong trào dân chủ. Lấy mốc năm 2000 bởi vì có lá đơn xin lập đảng Tự do - Dân chủ của nhà báo Nguyễn Vũ Bình vào ngày 02/9/2000. Lá đơn này đánh dấu giai đoạn hoạt động mạnh mẽ, đặt vấn đề tổ chức, và đặc biệt, có sự tham gia của giới trẻ vào phong trào dân chủ. Với phương thức đấu tranh bất bạo động, nhưng chú trọng các hoạt động chính trị, thời kỳ này đã chính thức đặt nền móng cho phong trào dân chủ sau này. Đặc trưng của giai đoạn này là những người tham gia đều có ý thức chính trị, khuynh hướng đấu tranh là kết hợp với nhau trong các tổ chức chính trị, hoặc các tổ chức có khuynh hướng chính trị để làm đối trọng, đối lập với đảng cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam. Có rất nhiều điều thú vị trong giai đoạn này: có sự tham gia của lớp trẻ vào phong trào dân chủ, bắt đầu từ năm 2000 (nhà báo Nguyễn Vũ Bình, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Chí Quang, anh Nguyễn Khắc Toàn), giai đoạn sau có Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và nhiều người trẻ khác... có sự bùng nổ về số lượng người tham gia vào phong trào dân chủ (năm 2005-2006); hoạt động bùng nổ và sôi nổi trong cao trào 2006; giai đoạn này chưa có sự kết nối với người dân thường; đây cũng là giai đoạn phong trào dân chủ Việt Nam bị đàn áp khốc liệt nhất, rất nhiều án tù cho rất nhiều người; có sự kết nối và hậu thuẫn mạnh mẽ của người Việt và các tổ chức của người Việt hải ngoại, sự kết hợp trong ngoài rất mạnh mẽ, nhịp nhàng.

Thời kỳ từ năm 2007 đến trước cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Đây là thời kỳ đấu tranh toàn diện, tổng hợp của phong trào đấu tranh dân chủ. Thời kỳ này này bắt đầu từ các cuộc cầu nguyện tập thể của người Công giáo Việt Nam, để giữ lại đất đai, cơ sở tôn giáo cũ, đồng thời có các cuộc xuống đường, biểu tình chống Trung Quốc lần đầu tiên (ngày 09/12/2007) ở Hà Nội và Sài Gòn. Đây cũng là thời kỳ sử dụng phương thức đấu tranh bất bạo động. Thời kỳ này của phong trào dân chủ Việt nam có sự xuất hiện và kết hợp của phong trào yêu nước (biểu tình chống trung quốc), cũng là giai đoạn có sự kết hợp với các hoạt động của xã hội dân sự. Đây là giai đoạn có các hoạt động tổng hợp của tất cả các hình thức, phương thức, khuynh hướng đấu tranh phong phú, đa dạng của người Việt Nam trong và ngoài nước. Đó là các hoạt động có khuynh hướng chính trị, các hoạt động thể hiện tinh thần yêu nước, các hoạt động của phong trào đòi tự do tôn giáo, các hoạt động của xã hội dân sự. Giai đoạn này có hai đặc trưng quan trọng: thứ nhất, bùng nổ về số lượng người tham gia, có thể nói, có sự bùng nổ người tham gia theo cấp số nhân. Nhờ có sự mở rộng thông tin vô tận của hệ thống Internet toàn cầu, của mạng xã hội Facebook mà số lượng người được khai trí, tham gia đã bùng nổ. Tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các tôn giáo, giới tính, các độ tuổi tham gia vào phong trào dân chủ. Đây thực sự là giai đoạn sôi động rất đáng tự hào. Thứ hai, phong trào dân chủ đã cắm rễ vào quần chúng, đã đi vào cuộc sống của người dân bởi các hoạt động xã hội dân sự rất sôi động và hiệu quả. Các hoạt động của xã hội dân sự, các hoạt động cứu trợ dân oan, cứu giúp dân oan, lên tiếng cho dân oan và rất nhiều hoạt động lên tiếng của phong trào dân chủ cho nhân sinh, nhân quyền đã ngày càng thức tỉnh người dân. Đây là xu thế không thể đảo ngược của phong trào dân chủ và ngày càng phát triển. Thành tựu này là vô cùng quan trọng đối với phong trào dân chủ trong suốt những năm qua. Chỉ có đi vào quần chúng, đồng hành cùng nhân dân thì phong trào dân chủ mới có cơ hội và hy vọng cho một sự thay đổi lớn lao trong tương lai…

(còn nữa)

Hà Nội, ngày 27/9/2019

N.V.B

No comments:

Post a Comment