Tuesday, November 17, 2020

Nguy hại nào từ Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) vừa được thông qua?

Nguy hại nào từ Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) vừa được thông qua?
Diễm Thi, RFA
2020-11-17
RFA

Đốt rác vùng ven thành phố Hà Nội.
Đốt rác vùng ven thành phố Hà Nội.
 AFP
















Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua với gần 92% phiếu tán thành. Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2022. Riêng nội dung về đánh giá sơ bộ tác động môi trường có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 2 năm 2021. Luật này sẽ thay thế Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014.

Trước giờ Quốc hội bấm nút biểu quyết, đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu có ý kiến hoãn việc thông qua dự luật này vì điều khoản về việc công khai Báo cáo đánh giá tác động môi trường tiếp tục không được chỉnh sửa sau nhiều đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức xã hội.

Trước đó hai tuần, một nhóm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực môi trường, năng lượng, sức khoẻ, pháp lý tại Việt Nam cũng có thư kiến nghị gửi tới Uỷ ban Khoa học Công nghệ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng một số đại biểu quốc hội đề nghị hoãn thông qua luật sửa đổi này để có thêm thời gian nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo.

Dù có những ý kiến đề nghị hoãn thì luật cũng vẫn được thông qua vào ngày 17 tháng 11. Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài Nguyên- Môi trường, nói với RFA vào tối cùng ngày:

“Một cách khái quát thì tôi cho rằng một số triết lý để bảo vệ môi trường đã được đưa vào luật sửa đổi. Ví dụ ai gây ra hậu quả về môi trường thì người đó phải chi trả. Nhưng tôi cho rằng nếu chỉ như thế thì cũng như nhiều luật khác ở Việt Nam, tức là sẽ ách tắc ở khâu triển khai. Cơ chế nào để triển khai những nguyên tắc thì phải cần những nghị định của chính phủ với các nghiên cứu để đưa ra các giải pháp thật cụ thể. Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay cái xu thế tăng phí ở Việt Nam là đáng ngại.

Tôi cho rằng khả năng tăng phí chính thức thông qua các quy định về luật pháp với khả năng tăng các loại phí không chính thức trên thực tế vẫn là bài toán lớn. Để xem giải pháp nào là giải pháp phù hợp và không gây đè nặng phí lên người dân.”

Một số chuyên gia cho rằng dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi còn bộc lộ không ít bất cập, hạn chế cần được tiếp tục xem xét, bổ sung. Thêm vào đó, dự thảo Luật chưa quy định rõ ràng về việc cung cấp thông tin và công khai thông tin về các thành viên hội đồng thẩm định.

Sáng 2 tháng 11 năm 2020, các tổ chức Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam, Liên minh Phòng chống các bệnh không lây nhiễm, Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam và Nhóm Công lý- Môi trường-Sức khỏe cùng tổ chức tọa đàm “Góc nhìn cộng đồng và chuyên gia đối với luật Bảo vệ môi trường sửa đổi”.

Truyền thông Nhà nước dẫn lời PGS.TS Bùi Thị An - Viện trưởng Viện Tài nguyên, môi trường và Phát triển cộng đồng, phát biểu tại tọa đàm rằng: Sau hơn 5 năm được thực thi, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã bộc lộ không ít bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn đất nước. Theo đó, từ khi khởi thảo đến nay, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường đã qua 7 lần sửa đổi, đã qua bước thẩm tra và chỉ còn chưa đầy 10 ngày nữa là được Quốc hội, đại biểu Quốc hội xem xét, thông qua. Tuy vậy, dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều vấn đề thiếu sót, từ phạm vi, kết cấu, nội dung cần được tiếp tục xem xét, bổ sung để tránh tình trạng luật ra đời thiếu tính khả thi, không áp dụng được vào thực tiễn.

Bao nilon rác ở vùng biển Thanh Hóa.
Bao nilon rác ở vùng biển Thanh Hóa. AFP

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, từng nói với RFA rằng:

“Luật Bảo Vệ Môi Trường đầu tiên được quốc hội thông qua và được ban hành năm 1993. Từ đó đến nay đã qua một lần sửa đổi là 2003, một lần nữa vào năm 2014 và bây giờ là 2020, tức là lần thứ ba để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật năm 1993 đó.

Vì thế cho nên việc điều chỉnh, bổ sung là việc rất bình thường, một nhu cầu thực tiễn, làm sao để luôn luôn hoàn thiện các quy định của luật để khả thi hơn đồng thời có tác dụng tốt hơn với biến động cuộc sống, trong đó có nội dung về đánh giá tác động môi trường và các nội dung khác mà chúng tôi thấy cần phải cập nhật tình hình”.

Một điểm đặc biệt lần đầu tiên được nêu ra trong luật này quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường.

Giáo sư Đặng Hùng Võ không đồng tình với khái niệm này. Ông cho rằng khái niệm ‘cộng đồng dân cư’ ở Việt Nam chưa được định nghĩa rõ ràng, chuẩn mực. Do đó, nếu nói ‘nhân dân là một chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường' thì chính xác hơn. Người dân phải được tham gia vào việc giám sát các cơ sở công nghiệp để họ không xả thải trực tiếp ra môi trường khi chất thải chưa qua xử lý.

Trong số các đại biểu tham gia biểu quyết ở Quốc hội hôm 17 tháng 11 có 16 đại biểu không tán thành thông qua dự luật, 7 đại biểu không biểu quyết. Một trong những điều mà đại biểu, chuyên gia băn khoăn là về trách nhiệm công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Theo những đại biểu này, luật thông qua chỉ quy định trách nhiệm của chủ dự án đầu tư công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt kết quả thẩm định, trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Cơ quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ có trách nhiệm công khai trên cổng thông tin điện tử quyết định phê duyệt kết quả thẩm định, trừ các thông tin liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Như vậy là chưa có sự thay đổi rõ ràng về bản chất của điều luật, vẫn đang hạn chế quyền tiếp cận đánh giá tác động môi trường của cộng đồng.

Cũng có ý kiến cho rằng, với những điều khoản trong dự luật chưa được rõ ràng mà luật đã thông qua thì thực chất, luật này chỉ bảo vệ lợi ích cho các chủ dự án đầu tư, chứ không phải bảo vệ cho môi trường sinh thái, an toàn môi sinh, phát triển bền vững, sức khoẻ cho người dân.

Tiến sĩ Dương Văn Ni từ chối bình luận. Ông nói: “Cái này nó nhạy cảm quá mình không bàn được. Không trả lời được!”

Giáo sư Đặng Hùng Võ thì nhận định nguồn gây ô nhiễm lớn nhất vẫn là các chủ đầu tư. Họ gây ô nhiễm môi trường trong quá trình đầu tư công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp. Trong đó, trách nhiệm của chính quyền sở tại không nhỏ. Ông giải thích:

“Các chủ đầu tư thường là những người gây ra các sự cố môi trường lớn. Tuy vậy, việc xử lý mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý với các chủ đầu tư để bảo vệ môi trường mới là vấn đề cốt yếu. Nguồn gây ô nhiễm lớn nhất vẫn là các chủ đầu tư. Thứ hai là chính quyền. Ví dụ như chính quyền các đô thị làm gì để giải quyết vấn đề khí thải, nước thải và vấn đề chất thải rắn.

Tôi cho rằng nếu đặt vấn đề bảo vệ môi trường đối với các chủ đầu tư phải trên tinh thần nâng cao trách nhiệm đầu tư sao cho không gây ô nhiễm môi trường. Muốn thế phải có sự tham gia giám sát của người dân.”

Ông Đặng Hùng Võ kết luận, ba yếu tố quan trọng nhất trong quản trị là công khai, minh bạch; người dân tham gia giám sát; trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý. Ba yếu tố đó phải kết lại với nhau thành một hệ thống. Nếu không thì nó sẽ vô nghĩa.

No comments:

Post a Comment