Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

(Lẽ phải  Dân cần làm 8)
LỜI  CHỨNG  SỐ  4 & BỔ SUNG LẦN 6
của Lm Tù nhân Lương tâm Nguyễn Văn Lý
và một số Tù nhân Lương tâm khác
56 NHỤC HÌNH & KỸ XẢO CÁN BỘ CSVN
ĐÃ VÀ ĐANG SỬ DỤNG ĐỂ TRA TẤN CÁC TÙ NHÂN
TRONG CÁC NHÀ TẠM GIỮ, TRẠI TẠM GIAM VÀ TRẠI GIAM
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY – 2010
* Ngoài 2 Nhục hình 55 & 56 vừa được bổ sung 30-11-2010,
Lời chứng số 4 này, cùng với Đơn kiện số 1, đã được
Hội Đồng Nhân Quyền và Tòa Công Lý LHQ nhận đơn ngày 2-8-2010.
@ 1?
Việt Nam, ngày 8,19 tháng 6, ngày 8 tháng 7 & ngày 30 tháng 11 năm 2010
- Công ước Quốc tế (CƯQT) về các quyền dân sự và chính trị của Liên hiệp quốc ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24.9.1982, qui định :
Điều 7 : Không ai có thể bị tra tấn, phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người.
- Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (BLTTHS) của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (NCQCSVN) năm 2003 đang hiệu lực qui định :
Điều 6 : … Việc bắt và giam giữ người phải theo qui định của Bộ Luật này.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình.
Điều 7 : Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý  theo pháp luật….
Điều 8 : Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân…
Điều 9 : Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Nhưng trong thực tế, chính khá nhiều (và có nơi, có lúc rất nhiều) các Cán bộ (CB) của bộ máy đàn áp khổng lồ của CSVN đã làm ngược lại, mà không hề sợ Cơ quan nào xử lý mảy may gì, cũng chẳng e dè dư luận nào cả. Các CB CSVN đã và đang ngang nhiên vi phạm rất nặng nề các điều luật trên như thế nào và tại sao ???
A. Về điều 8 BLTTHS : Các CB CSVN đã vi phạm quá lộ liễu, không cần phải rườm lời. Chỉ có trẻ con và người mất trí mới không thấy, không biết rõ.
B. Về điều 7 & 9 BLTTHS : 1. Trước khi bị bắt : Khi NCQ CSVN muốn bắt ai thì đã luôn mặc nhiên coi người đó là kẻ có tội rồi, nên các CB hầu như muốn đối xử thế nào tùy ý, có khi rất lố bịch lộ liễu :
* Đối với Tù nhân Lương tâm, Tù nhân Chính trị, Tù nhân Tôn giáo, gọi chung là TNLT, nhất là đối với một số người có ảnh hưởng trên công luận : bộ máy tuyên truyền khổng lồ của CSVN (báo chí, truyền thanh, truyền hình) tận dụng hết công suất tha hồ bôi lọ, chụp đủ mọi thứ mũ, xuyên tạc, công khai kết tội sẵn, trước các loại tòa án giả tạo hình thức sau đó nhiều tháng, có khi cả năm, tại quốc nội lẫn hải ngoại. Ví dụ : từ tháng 12-2000 đến 18-5-2001, loa phóng thanh của xã Thủy Biều, TP Huế liên tục mạ lỵ tôi buổi sáng 5 bài, buổi chiều 5 bài cho giáo dân Nguyệt Biều và dân xã Thủy Biều nghe; loa phóng thanh của xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế chĩa thẳng vào Nhà thờ An Truyền, ngay trong giờ Kinh – Lễ,  buổi sáng 9 bài, buổi chiều 9 bài (15.2 – 18.5.2001); loa phóng thanh của xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế phát buổi sáng 7 bài, buổi chiều 7 bài (25-2 đến 30-3.2007) mạ lỵ tôi cho giáo hữu Bến Củi và dân xã Phong Xuân nghe… và nhiều nơi trong cả Nước nữa.
* Đối với các công dân bình thường : các CB có thể đánh, mắng, đe dọa, trừng phạt hành chánh. Chỉ riêng từ đầu năm 2010 này, nhiều công dân bị đánh rất dã man, cả bị giết nữa (25-5-2010 tại Nghi Sơn, xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, CB bắn thẳng vào Dân làm 2 người chết tại chỗ ; Công An Đà Nẵng đánh chết giáo dân Cồn Dầu, Đà Nẵng trưa 3-7-2010…)
2. Sau khi bị bắt : Trên đường áp tải và tại các nhà tạm giữ cấp phường, xã, quận, huyện : tùy địa phương và tâm tính của các CB phụ trách, các CB đã có thể sử dụng các loại nhục hình, bức cung, tra tấn dưới đây.
C. Về điều 7 CƯQT 1966 và về điều 6 & 7 BLTTHS :  Sau khi bị bắt : Tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam (trại cải tạo): Theo lời kể của các tù nhân tôi đã sống chung, đã gặp hoặc đã nghe tường thuật trong các lần ở tù vào các năm 1977 (1 trại: Thừa Phủ, Huế), 1983-1992 (3 trại: Thừa Phủ, Huế; Thanh Cẩm, Thanh Hóa; Nam Hà, Hà Nam), 2001-2005 (2 trại: Thừa Phủ, Huế; Nam Hà, Hà Nam), 2007-2010 (2 trại: Thừa Phủ, Huế; Nam Hà, Hà Nam), của các nữ tù nhân bị giam gần đây ở Hỏa Lò, Hà Nội; K3 – K5, Trại 5, Yên Định, Thanh Hóa (2000 -2010), đặc biệt là các Lời Chứng của Tù nhân Lương tâm sau đây :
1. Luật sư TNLT Lê Thị Công Nhân đã bị tạm giam tại Trại số 1 của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội (6.3.2007 - 27.01.2008) và bị chuyển về trại giam K4, Trại 5, Yên Định, Thanh Hóa (27.01.2008 - 6.3.2010). Đang bị quản chế tại phòng 316 (phòng 16 lầu 3), khu tập thể A7 Văn phòng Chính phủ, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội.
2. TNLT Lê Thị Kim Thu đã bị tạm giam tại Trại số 1 của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội (14.8.2008 - 03.3.2009) và bị chuyển về trại giam K3, Ninh Khánh, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (03.3.2009 - 14.11.2009). Nay sống tại tổ 3, khu phố 6, Vĩnh An, Vĩnh Cửu, Đồng Nai.
3. TNLT Hồ Thị Bích Khương đã bị giam lần 1 tại Trại số 1 của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội (11.5.2005 - 11.11.2005) và đã bị tạm giam tại Trại tạm giam Nghi Kim, Nghi Lộc, Nghệ An (26.4.2007 - 12.9.2008), rồi bị chuyển về giam tại K2, Trại 6, Thanh Chương, Nghệ An (12.9.2008 - 26.4.2009). Nay sống tại xóm 2, Nam Anh, Nam Đàn, Nghệ An.
4. TNLT Nguyễn Hữu Phu # 56 tuổi, đã bị tạm giam ở Bằng Lăng, An Giang (27.12.1999-1.2000; 5.2000-18.11.2000), rồi buồng 19, B34 Bộ CA, Q.1, Sài Gòn (1.2000-5.2000) và trại K3, Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai (18.11.2000-13.8.2009), rồi buồng 4, trại K2, Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai (13.8.2009-27.12.2009). Đang bị quản chế tại Núi Nhũ, Thủy Châu, Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế.
5. TNLT Nguyễn Ngọc Quang # 50 tuổi, đã bị tạm giam tại Khu C, trại B34 Bộ CA, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Sài Gòn (3.9.2006-7.10.2008), rồi bị giam ở buồng 3, trại K2, Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai (7.10.2008-3.9.2009). Đang bị quản chế tại tại giáo xứ La Ngà, Định Quán, Đồng Nai.
6. TNLT Nguyễn Văn Ngọc, 51 tuổi, quê ở ấp 1, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Tham gia tổ chức “Những Người VN Yêu Nước”, bị bắt ngày 01-3-2007, bị tạm giam ở B5, Biên Hòa, Đồng Nai. Ngày 11-12-2007 bị xử 4 năm tù. Đầu năm 2008, bị chuyển về buồng 5, trại K4, Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai. Được thả ngày 30-8-2010. Hiện ở ấp 1, xã Long Thọ, Nhơn Trạch, Đồng Nai.
7. Anh Trịnh Quốc Thảo, 55 tuổi, bị bắt tháng 3-2007, án 2 năm tù, bị giam ở buồng 5, trại K4, Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai, được thả ngày 3-3-2009, hộ khẩu tại ấp Hòa Bình, xã Bảo Hòa, thị xã Long Khánh, Đồng Nai. Hiện ở ấp Bà Ký, xã Long Phước, Long Thành, Đồng Nai.
Cả 7 TNLT nổi tiếng này sẵn sàng làm chứng về các kỹ xảo tra tấn dưới đây, với bất cứ cơ quan điều tra nào của Liên hiệp quốc và Quốc tế vui lòng quan tâm đến vấn đề nhân quyền tại Việt Nam hiện nay. Hiện nay, các CB thụ lý 1 vụ án, nếu điều tra thành công, thu hồi một tài sản (do hối lộ, tham ô, buôn lậu, bán ma túy,…), thì được thưởng 40-60% (1 tỷ, được thưởng 400-600 triệu). Do đó, các CB chấp pháp này rất sẵn sàng tra tấn để đạt cho được mục đích.
@@@ Đặc tính các nhục hình – kỹ thuật tra tấn đặc trưng của CSVN :
* Các kỹ xảo tra tấn và thực hiện nhục hình sau đây, vừa dùng để khảo cung, vừa để hành hạ, đặc trưng “made in Vietnam, đầy tính sáng tạo, không phải bạo quyền nước nào cũng sánh kịp” ở chỗ là chúng diễn ra tại bất cứ văn phòng, phòng làm việc nào, không cần dụng cụ tra tấn cổ điển kệch cỡm lạc hậu lộ liễu nào cả. “Văn phòng” ấy chỉ cần hơi khuất nẻo, thanh vắng, xa tầm mắt tò mò của các nạn nhân khác tí chút là đủ. Các dụng cụ nhục hình/tra tấn vừa rất dã man, vừa rất hiện đại thanh lịch, vừa rất khó phát hiện, nhưng luôn có sẵn : ánh nắng, bút viết, thước kẻ, thước may, bàn viết, ghế ngồi, sàn nhà, trần nhà, cửa sổ, bàn tay, găng tay, dép nhựa, giày da, chìa khóa, chùm chìa khóa, ổ khóa, đinh sắt, còng tay, roi điện, dùi cui,…thậm chí cả đến mái tóc dài của chủ nhân tra tấn nữa.
* Chúng đã được CSVN nghiên cứu tuyển chọn qua kinh nghiệm lâu năm, thường chỉ để lại thương tích 3-6 tháng, có thể tự lành hoặc dù mặc nhiên là gây tổn thương bên trong, có thể dẫn đến tử vong và sẽ được pháp y gán cho một bệnh vớ vẩn nào đó, nhưng lại rất ít để lại dấu vết bên ngoài lâu dài, đề phòng có thể bị khiếu kiện về sau, kể cả thủ đoạn cho lây nhiễm HIV-AIDS dẫn đến chết nữa.
* Ngoài ra, các nhục hình đang được sử dụng còn mang thú tính quái dị, bị ám ảnh dâm loạn và hoang dã, ác độc khác thường, đến độ rất khó tin, nhưng hoàn toàn có thật, như được mô tả khá đầy đủ sau đây.
1/- Nhục hình, tra tấn, hình phạt & cấm đoán vô lý dành cho tù nhân nam lẫn nữ :
Áp dụng cho tù nhân nữ nhiều hơn, vì tù nhân nam biết đề kháng hơn, dám “bật” mạnh, dám liều chết đánh trả mãnh liệt :
1/1. Cấm Truyền Đạo : Điều 11/15 Nội qui Trại giam hiện nay là “Cấm truyền Đạo”. Tôi liên tục phản đối điều 11/15 này từ tháng 2.2001 đến tháng 3.2010 và tuyên bố công khai bằng văn bản 27 lần rằng: “Chỉ nguyên bao lâu còn 3 từ “Cấm truyền Đạo” trong Nội Qui trại giam CSVN, tôi sẵn sàng ở tù cho đến chết”. Nhiều CB cũng cho 3 từ này là rất vô lý và chỉ có hại cho uy tín của CSVN, nhưng thẩm quyền chính thức của bạo quyền CSVN vẫn chai lì chưa thay đổi.
1/2. Bắt gọi CB là Ông/Bà, xưng là cháu, dù “Ông/Bà” ấy mới chỉ 19-20 tuổi, còn “cháu” đã U70, U75, U80!
1/3. Cưỡng bức lao động có tính nhục hình : bắt gánh phân người, phân trâu, bò, dê,…mang vác các vật thật nặng cách phi lý, chỉ cốt để hành hạ, lăng nhục, bẻ gãy ý chí.
1/4. Đánh hội đồng : một nhóm CB nam, nữ, giày da cứng chắc, có thể dùng dùi cui hoặc không, thay nhau đánh, đấm, đá một tù nhân như một quả bóng cho đến khi chán chê, hoặc nạn nhân bị buộc quì gối van xin “Xin Ông/Bà tha cho cháu, cháu xin… rút kinh nghiệm”, hoặc cho đến khi nạn nhân ngất xỉu.
1/5. Bắt quì, rồi đánh, đá, đạp : với dùi cui, dép nhựa, giày da,…vào mặt, ngực, hạ bộ,…cho đến khi nạn nhân “khiêm tốn” van xin hoặc bất tỉnh, bị bầm tím khắp người, nhất là ở vùng kín.
1/6. Bắt nằm sấp / ngửa, rồi đạp lên ngực, bụng, vai, lưng,…cho đến khi ói máu/ bất tỉnh.
1/7. Còng tay và treo trên thành cửa sổ lâu giờ : cho đến khi chịu ký biên bản nhận “tội”.
1/8. Còng tay sau lưng và treo xốc nách ngược lên trần nhà : 2 tay bị treo duỗi thẳng, 2 khớp xương vai xoay đúng 180 độ, cho đến khi chịu khuất phục.
1/9. Dùng dùi cui đánh vào miệng, răng, hàm, mặt,: đến mức sợ hãi kinh hoàng, phải ký biên bản nhận “tội”.
1/10. Dùng ổ khóa, chìa khóa, dùi cui đánh vào 10 đầu ngón tay : bắt nạn nhân đặt 2 bàn tay duỗi 10 ngón tay trên bàn, CB dùng ổ khóa, chìa khóa cửa, dùi cui gõ trên đầu mút 10 ngón tay, không cho phép nạn nhân co ngón tay lại, nếu co ngón tay lại, sẽ bị đánh mạnh hơn và nhiều hơn, cho đến khi cúi đầu nhận “tội”.
1/11. Dùng thước kẻ / thước may đánh vào quanh đầu như gõ trống từ vành tai trên trở lên, tạo những cơn đau nhức ù tai - long não, làm tóe máu ra ở 2 mũi, 2 tai, tay chân tê buốt…đến ngất xỉu.
1/12. Phơi nắng : Bắt nằm giữa nắng từ 2-4 giờ, dù đang bệnh, cho đến khi ngất xỉu hoặc chịu ký biên bản nhận “tội”.
1/13. Nằm buồng kỷ luật đặc biệt & biệt giam : Khi tù nhân “vi phạm nội qui trại giam”, tiết lộ nhục hình / tra tấn, phản kháng/ chống lại các CB về các bất công / cấm đoán vô lý,… thì bị cùm chân, có khi bị lột hết áo quần, kể cả quần lót, 7-14 đêm ngày, gia tăng biệt giam 3-6-12, 24, 36,… tháng, khi cần. Có khi bị đánh đập rất dã man, kèm theo các nhục hình, làm các tù nhân (đặc biệt là nữ) tê liệt ý chí phản kháng, không dám tường thuật lại, vì quá hãi hùng.
            Đối với các TNLT, khi CB bắt gặp các Chiến sĩ Hòa bình này đang giải thích hoặc chuyển giao các tài liệu về Công lý, Dân chủ, Tự do cho các tù nhân hay CB khác, thì có thể bị cùm chân 7-14 đêm, không cho gặp thân nhân, không cho nhận hàng tiếp tế 1,3,6…tháng, sau đó có thể bị biệt giam 12-24-36 tháng hoặc có thể đến hết án (như TNLT Nguyễn Xuân Nghĩa từ đầu tháng 6.2010 tại K1 Nam Hà, Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam).
2/- Nhục hình, tra tấn & hình phạt dành riêng cho tù nhân nam :
2/14. Chích roi điện vào dương vật : Vì sỉ diện, thường các tù nhân nam rất ngại tự kể lại.
2/15. Đánh vào dương vật : Lấy roi đánh vào dương vật cho xấu hổ, đặc biệt là bắt đặt dương vật kê lên thành cửa sổ, lấy dùi cui đánh cho tóe máu hoặc phun tinh dịch ra, cho liệt dương.
2/16. Nhốt buồng kín ca-sô dài ngày đến 1-2 năm không có ánh nắng : Tại khu C, trại B34 Bộ CA, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Sài Gòn, có loại buồng giam cao # 2 mét,  rộng # 1,5 x 2 mét, kể cả bệ cầu tiêu tiểu và bể nước bên trong. Có khung song sắt thông hơi # 20 x 27 cm, vừa để thở, vừa để nhận thức ăn / uống từ ngoài chuyển vào. Suốt 1-2 năm tù nhân không có ánh nắng. Gây nên một nỗi tuyệt vọng và sợ hãi kinh hoàng, tù nhân rất dễ đầu hàng khuất phục. Trại giam này ít nhất có 4 “hộp bê-tông” loại này. TNCT Nguyễn Ngọc Quang đã tồn tại nổi tại Khu C, trại B34 Bộ CA này sau hơn 2 năm sống trong “hộp bê tông” như vậy. Từ ngày 18-5-1983, tôi cũng đã sống trong 1 “hộp bê-tông” rất ấm và rất kín gió như thế tại Trại tạm giam tỉnh Thừa Thiên-Huế, bên cạnh Trại tạm giam của thành phố Huế, nhưng sau # 4 tháng, thấy tôi kiệt sức, nên được chuyển buồng khác.
2/17. Tiêu diệt Tù nhân Chính trị bằng cách cố tình dùng dao cạo đã sử dụng ở khu HIV – AIDS cách ly, để buộc cạo đầu mặt Tù nhân Chính trị : Tại trại K2, Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai, đại úy CA Nguyễn Trung Cơ # 48 tuổi, đại úy Hải (an ninh) # 42 tuổi, đại úy Nguyễn Anh Dũng (giáo dục) # 36 tuổi, lấy dao cạo đã sử dụng ở khu tù nhân AIDS cách ly, buộc tù nhân hớt tóc dùng để cạo đầu mặt cho Tù nhân Chính trị, cố ý cho lây HIV – AIDS. Tại K2 này, từ 2000-2010, trong số 13 TNCT đã chết, chắc chắn ít nhất đã có 9 TNCT đã chết vì thủ đoạn này, gồm các Bác, các Anh : Tuấn 40 tuổi, Bình 45 tuổi, Lê Văn Tâm 46 tuổi, Ngô Anh Tuấn 48 tuổi, Nguyễn Văn Dũng 48 tuổi, Ngô Sĩ Bằng 50 tuổi, Lý Hoàng Thạnh Hùng 55 tuổi, Chiếm 68 tuổi, Năm Tân 80 tuổi. Ngoài ra có 4 TNCT khác đã chết vì bệnh hoặc vì các lý do khác. Hiện giờ, tại K2, Z30A này, TNCT Đỗ Văn Thái # 55 tuổi, án 20 năm, đã tù 12 năm, còn 8 năm, đang bị AIDS giai đoạn cuối, do bị cắt tóc-cạo mặt made in Vietnam kiểu này. # 20 TNCT đang / đã ở tù tại trại này sẵn sàng làm chứng : (đang ở tù) : Nguyễn Hữu Cầu # 64 tuổi, Lê Văn Tính # 64 tuổi, Nguyễn Tấn Nam # 62 tuổi, Trương Minh Đức # 55 tuổi, Trương Văn Duy # 45 tuổi,... (đã ở tù tại chỗ) : Nguyễn Ngọc Quang # 50 tuổi, Nguyễn Hữu Phu # 56 tuổi,... sẵn sàng làm chứng. Các TNLT Phạm Bá Hải, Trần Quốc Hiền, Bùi Đăng Thủy, Lê Nguyên Sang, Trương Văn Duy, Trương Quốc Huy,... đang bị giam tại trại này.
Đòn áp lực 2/16 do cựu TNCT Nguyễn Ngọc Quang và tôi bổ sung ngày 16-6-2010. Thủ đoạn tiêu diệt 2/17 do 2 cựu TNCT Nguyễn Ngọc Quang và Nguyễn Hữu Phu bổ sung ngày 16-6-2010. Danh sách 9 TNCT đã chết do lây nhiễm HIV bởi thủ đoạn made in Vietnam này do cựu TNCT Nguyễn Ngọc Quang bổ sung ngày 5-7-2010 đã được công bố ở số 4/46 các đợt trước.
3/- Nhục hình, tra tấn & hình phạt dành riêng cho tù nhân nữ :
3/18. Quì ngậm dùi cui : Các tù nhân nữ quì ngậm dùi cui của CB dùng để đánh tù (tượng trưng cho dương vật), hai hàng nước mắt chảy dài suốt 2-4 tiếng đồng hồ trong tủi nhục tột cùng.
3/19. Đói mà không thể được ăn : CB buộc tù nhân trực sinh lấy bánh chưng (do thân nhân thăm nuôi gửi vào) cắt ra làm 4, vứt vào thùng rác, lẩn băng vệ sinh phụ nữ; hoặc lấy bánh mì, cơm, đổ nước bẩn vào ngâm, rồi thách đố: “Con nào mà nhặt bánh chưng/cơm đó lên ăn, còn thua con chó”. Hoặc CB lấy cơm đứng từ đầu sàn, ném tung rải khắp buồng giam, văng lên mền, chiếu, rồi bắt tù nhân thu dọn cho bõ ghét.
3/20. Còng tréo tay : Bắt tréo 1 tay (trái) từ sau lưng lên vai (phải) để còng với cổ tay kia (phải) tréo từ vai (phải) xuống chập vào tay (trái), rất đau đớn. Sau vài giờ bị thẩm vấn với tay bị còng tréo, tù nhân bị liệt cả 2 tay chỉ còn buông thỏng lòng thòng, phải nhờ tù nhân khác đút cơm và giúp đỡ các việc sinh hoạt hằng ngày. Thường # 3-6 tháng thì 2 tay tự khỏi.
3/21. Đặt chân ghế lên mu bàn chân tù nhân : Bắt tù nhân ngồi đưa 1 bàn chân ra. CB lấy ghế 4 chân, đặt 1 chân ghế lên mu bàn chân của tù nhân, rồi ngồi lên ghế ấy thẩm vấn nạn nhân suốt 2-3 giờ liền để ép cung. Nạn nhân rất đau đớn như xương bàn chân gãy vụn. 3-6 tháng sau có thể tự lành.
3/22. Lăn thước vuông, bút viết giữa các kẽ ngón tay : CB lấy thước kẻ vuông luồn vào 4 ngón tay đan chéo nhau của 1 bàn tay tù nhân, 1 tay CB cầm chụm 4 đầu ngón tay nạn nhân lại, tay kia CB xoay lật thước kẻ vuông, để nạn nhân đau như bị mài gọt vào da thịt và xương ngón tay. Khi không sẵn thước kẻ vuông, CB dùng bút bi thay vào, chỉ cần siết các đầu ngón tay chặt hơn, vẫn gây đau đớn không kém.
3/23. Thông tai : Đặt đầu tù nhân lên mặt bàn, úp nghiêng 1 tai xuống mặt bàn. CB vỗ mạnh nhiều lần xuống tai kia của nạn nhân, cho rung màng nhĩ, gây rối loạn tiền đình. Sau màn thông tai đặc sản VN này, nạn nhân bị nhức buốt tận óc, ói mửa, phải tự lê bước về buồng giam lảo đảo như người say.
3/24. Quất roi điện : lột trần / lột truồng nạn nhân rồi quất roi điện, tạo nên các vết thương về sau chảy nước vàng, nhiễm trùng gây nhiều đau đớn kéo dài...
3/25. Lột hết áo quần, kể cả quần lót : “Tại trại K3, Ninh Khánh, Hoa Lư, Ninh Bình, sáng ngày 14-11-2009, CB Đinh Thiết Hùng buộc tôi (tù nhân Lê Thị Kim Thu), trước khi được trả tự do, phải vào nhà vệ sinh khám người, một số CB nữ đứng chờ sẵn, đeo găng tay bảo hộ để khám âm đạo, tôi phản đối, yêu cầu mời Bác sĩ và Ban Giám thị đến chứng kiến, nếu tìm không ra đồ vi phạm gì, tôi sẽ làm đơn tố cáo. CB nói: “Không cho khám, không cho nó về !” tôi trả lời: “Không về thì thôi, nhà tù lớn vào nhà tù nhỏ, nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn, chứ thiết tha gì.” Tôi quay vào trại lại. CB hô các tù nhân khác khóa cửa khu giam lại, tôi trở lại khu giam của mình. CB trực trại thông báo cho các tù nhân khác ra sân chung “tập điều lệnh”, tôi cũng theo họ ra sân chung xem diễn tập # 3 giờ. Rồi CB Hùng vào gặp tôi bảo ra trại lấy đồ… Sau khi nhận tư trang, có 4 CB nữ đợi sẵn, cửa cổng vào khu bị khóa. Các CB ép buộc tôi phải lột hết quần áo, hoàn toàn khỏa thân, bị khám từ áo ngực, đến quần lót, CB Thu Hằng yêu cầu tôi vào nhà vệ sinh ngồi trên bàn cầu cao  # 50cm để họ thọc tay vào âm đạo khám, tôi không cho, họ bắt tôi đứng lên ngồi xuống nhiều lần, để có gì trong âm đạo thì rớt ra. Sau đó, CB ngồi khom người nhìn vào âm đạo xem trong đó có giấu gì không. Trên quần lót tôi có ghi các số điện thoại của những tù nhân thân quen và địa chỉ gia đình của 1 người tù nam bị đánh chết, thuộc K2 Ninh Khánh, họ thu giữ cái quần lót đó không trả lại, mà chẳng cho cái quần lót khác để mặc vào người đi về. CB gọi tôi ra khu hành chánh của trại để làm thủ tục ra trại. CB trao tôi tiền xe là 750.000 VNĐ. Tôi không nhận và ghi rõ lý do vào biên bản : Cái tôi cần không phải là 750 ngàn đồng mà là cái quần lót để mặc đi về. Sau đó CB cầm biên bản vào trong, trình cho ai tôi không rõ… khi đi ra có thêm CB trinh sát Phong buộc tôi vào phòng viết lại biên bản. Tôi không vào, chỉ đứng ngoài hành lang. Khi CB viết xong biên bản đưa cho tôi ký tên, tôi vẫn cứ viết : Cái tôi cần là cái quần lót. Họ nổi điên bảo tôi là chuyện cái quần lót tính sau. Tôi trả lời : Cho dù các CB có viết 10 cái biên bản, tôi vẫn ghi vào biên bản đòi cái quần lót của tôi. CB nói : Chị để lại quá nhiều chuyện ở trại này ! Cuối cùng, họ yêu cầu một CB nữ tên Tuyên dẫn tôi ra khỏi cổng trại, buộc tôi phải trở lại cuộc sống “tự do” mà không có được một cái quần lót mặc trong người !!! Mãi mãi tôi vẫn đòi CSVN trả lại tôi cái quần lót này.(Nguyên văn lời kể của Tù nhân Lương tâm Lê Thị Kim Thu, cùng với các nhục hình 1/2, 1/3, 1/4, 1/5, 1/6, 1/7, 1/12, 1/13, 3/16, 3/17, 3/23, 3/24, 3/26).
3/26. Bắt nằm sấp/ngửa, 2 chân đạp vào que sắt nhọn cắm sẵn cho đến khi tóe máu, khuất phục.
3/27. Chích roi điện vào 2 đầu vú, thường kết hợp với nhục hình 1/7 : CB treo nạn nhân lên cửa sổ, lột áo và cả nịt vú ra, kéo lật áo lên trùm mặt lại, phơi trần bộ ngực trông rất bắt mắt, nhét giẻ bịt miệng hoặc không, CB tha hồ dùng roi điện chích liên tục vào 2 đầu vú để tra tấn, ép cung.
3/28. Rà dùi cui điện vào vùng kín : CB lột hết áo quần, rà dùi cui điện vào vùng kín nữ bên ngoài quần lót mỏng, làm cháy xoăn lớp lông và làm bỏng lớp da quanh âm hộ bên trong.
3/29. Thọc dùi cui / gậy gỗ vào âm hộ : Gây đau đớn, thương tổn, bầm tím, nhiễm trùng, nhục nhã uất nghẹn tột độ.
5 nhục hình 1/8, 1/9, 3/24, 3/26, 3/29 do TNLT Hồ Thị Bích Khương bổ sung ngày 16-6-2010.
3/30. Dùng găng tay lao động móc âm đạo tập thể : “Tại trại giam số 1 của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội lặp đi lặp lại nhục hình này : CB Nguyễn Thị Lan (Lan Cáo), # 32 tuổi, vào buồng giam hỏi: Ai có gì bỏ ra. Đừng để tôi dùng chiếc găng tay này nhé! CB gọi 25 nữ tù nhân, bắt cởi hết áo quần ra, buộc ngồi xuống rãnh giữa 2 bệ sàn ngủ bằng xi-măng, bắt quay mặt vào tường sàn ngủ, lần lượt từng người, hai tay chống xuống sàn, cởi quần lót ra, chổng mông lên để CB chỉ dùng một chiếc găng tay lao động thô ráp, lần lượt thọc rất thô bạo vào 25 âm đạo, mò tìm tiền, giấy ghi chép,… kể cả nữ tù nhân đang bị hành kinh cũng phải lột băng ra, không chừa một ai, nếu có lây nhiễm HIV, AIDS cũng phớt lờ, mặc cho các tù nhân đau đớn khóc rên trong tủi nhục tột cùng, do nhục hình “made in Việt Nam” cực kỳ độc đáo này. Các CB Nhung (Nhung Cáo, # 32 tuổi), Nguyễn Thị Bích Thủy (# 28 tuổi) ở Hỏa Lò cũng thường sử dụng hoặc chứng kiến nhục hình này.
3/31. Mái tóc tử thần : Nữ trung tá CA Nguyễn Thị Thành, quản giáo khu tạm giam nữ trại giam số 1, của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội, chồng là CA phường Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội, luôn tự hào có một mái tóc dài đến tận gót. Nữ hung thần luôn dùng chính mái tóc dài hiếm có này làm dụng cụ để hành hạ các nữ tù nhân khác : bắt nạn nhân quỳ rồi Thị Thành nắm đuôi tóc của Thành vụt vào mặt nạn nhân đến rướm máu, xước rách cổ, mặt,…; hoặc bắt nạn nhân nằm sấp / ngửa, tự vén áo quần để lộ da thịt ra, để nữ hung thần cầm mái tóc hiếm có vụt tơi bời vào lưng, vai, bụng, cổ, mặt,…của nạn nhân cho đến khi nạn nhân quằn quại kinh hoàng vì trận lốc mái tóc tử thần ấy. Năm 2008, Thành đã nghỉ hưu bàn giao ác tâm kỳ quái lại cho nữ hung thần khác là nữ trung tá CA Bùi Thị Bích Hạnh, ác độc còn hơn.
3/32. Song sắt khung cửa sổ cực kỳ “sáng tạo” : Nữ trung tá CA Bùi Thị Bích Hạnh thay chân Thị Thành ở nhục hình 3/27 làm quản giáo khu nữ trại giam số 1, của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội, đang tại chức (2010), khi muốn trừng trị nữ tù nào, không cần mở cửa chính, gọi ngay nạn nhân đến sát khung cửa sổ có song sắt (nạn nhân không đến sẽ bị trừng phạt nặng hơn), Bích Hạnh chỉ đứng ngoài nắm tóc nạn nhân mà kéo mạnh đầu-mặt nạn nhân vào song sắt, giật và quật vung đầu-mặt va quệt mạnh qua lại vào song sắt, làm nạn nhân càng đau đớn Bích Hạnh càng khoái chí, cho đến khi đầu-mặt nạn nhân sưng vù, rách xước, máu tươm ra như hoa phượng đỏ…
(2 nhục hình 3/31 & 3/32 Nữ Luật sư TNLT Lê Thị Công Nhân bổ sung chiều 14-6-2010, không kể hơn 10 nhục hình khác như 1/2, 1/4, 1/5, 1/6, 1/7, 1/12, 1/13/, 2/14,  3/18, 3/19, 3/20, 3/21, 3/22, 3/23, 3/27, 3/28 cô đã tường thuật rất chi tiết sống động trong Lời Chứng số 4 ngày 8-6-2010 và bổ sung lần 1 ngày 14-6-2010).
4/- PHỤ LỤC BỔ SUNG
4/33. Cố ý dùng khói hạt điều làm mù mắt Tù nhân Chính trị : TNCT Nguyễn Hữu Cầu, sinh năm 1947, quê Kiên Giang, cựu đại úy Địa Phương Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bị tập trung cải tạo đến năm 1981. Bị bắt lại ngày 9-10-1982 giam tại Kiên Giang vì làm thơ văn kể tội CSVN. Tiên liệu trước, Ông rất khôn ngoan chép thơ văn vào các trang lẻ của 1 tập dày đến 500 trang, còn trang chẵn kia lại ghi các tiêu cực của CSVN. Tòa án không thể sử dụng “chứng cứ” này được, vì phải công khai hóa các tiêu cực xấu xa kia, liên quan đến quá nhiều CB cao cấp, kể cả Viện trưởng Viện Kiểm sát tỉnh Kiên Giang. CB chấp pháp lãnh đạo đành phải sai một CA giả nét chữ của Ông để chỉ ghi lại phần thơ văn chống CSVN thôi (làm tài liệu giả) để kết TNCT Cầu án tử hình nhưng không thành. Vì có ký giả Trương Minh Đức dự phiên tòa sơ thẩm, nên sau đó Ông Đức giúp gia đình nhờ Luật sư Trần Thời Vượng đòi giảo nghiệm “chứng cứ” giả. Dù vậy, Ông Cầu vẫn bị kết án chung thân, đưa về giam tại Khu Biệt giam trại K2, Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai mãi từ năm 1982 cho đến nay (6.2010). Khu Biệt giam này có 2 khu # 1.000m2 x 2, mỗi khu có 4 buồng giam riêng, mỗi buồng nhốt 1-2 Tù nhân CT. Từ  năm 2002, K2 này có khu lao động sản xuất hạt điều sấy, sát bên khu Biệt giam này, khói thải có thể làm mù mắt tù nhân, nên 8 buồng này thường để không. Dù các Y Bác sĩ của trại phản đối, ông Cầu vẫn bị biệt giam 3 năm 2003-2007, 1 mình trong 1 buồng tại “khu khói mù mắt” này. Kết quả xảy ra như ý đồ Ban Giám thị : Ông Cầu bị mù cả 2 mắt. Năm 2007, trại đưa Ông Cầu lên bệnh viện Chợ Rẫy mổ, cứu được phần nào 01 mắt (nay bị lòa), còn 01 mắt vẫn mù hẳn. Đến nay Ông Cầu đã ở gần 29 năm tù, cộng thêm 5 năm tù “cải tạo” nữa, tất cả đã 34 năm tù rồi. (Tham chiếu tài liệu 34 NĂM “GIẢI PHÓNG”, 33 NĂM TÙ ĐÀY !”  của TNLT Nguyễn Ngọc Quang viết ngày 06.10.2009).
4/34. Buộc gia đình–thân nhân làm giấy cam kết từ bỏ Tù nhân Chính trị : Ở các phân trại K1, K2, K3, K4 Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai, từ những năm 1982 đến nay, có hơn 43 TNCT, trong số đó có # 20 TNCT bị CB buộc gia đình – thân nhân làm Giấy Cam Kết Từ Bỏ, không thăm gặp, tiếp tế, thư từ. Đa số là gia đình không nghe theo. Cụ thể cựu Thượng Nghị sĩ VNCH Lê Văn Tính, # 70 tuổi, quê An Giang, bị bắt năm 1997, án 18 năm, đã ở tù với TNLT Nguyễn Hữu Phu (đã nêu ở Lời Chứng số 4) tại K2, có con đầu là Nguyễn Trọng Trí, 42 tuổi, đã khước từ nhiều lần việc vô luân vô đạo này, nên dù đã phải mang họ mẹ, vẫn thăm gặp chăm sóc cha già của mình tồn tại đến nay.
4/35. Cố ý biệt giam TNCT ở khu vực nước thải ô nhiễm cho nhiễm bệnh : Tại K2 Z30A Xuân Lộc nói trên, có 4 buồng giam rất ẩm thấp, bên cạnh một khu nước thải đầy mầm bệnh, đã để hoang, không tiện giam người. Cựu Nghị sĩ VNCH Lê Văn Tính, # 70 tuổi, những năm 2000, suốt 3 năm, bị nhốt một mình ở khu này. Sau khi Ông Tính yếu quá, mới được chuyển qua giam buồng khác. Hiện nay khu này dành cho TNCT 4 buồng giam riêng trồng rau xanh.
4/36. Đập cửa sắt buồng giam làm đinh tai nhức óc lúc nửa đêm rồi thẩm vấn giữa khuya đến gần sáng : Trại B34 Bộ CA, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 5, Sài Gòn có một số buồng giam riêng với cửa sắt dày. Vào những năm 2005-2010, thi thoảng, nửa đêm – 1 giờ sáng, CA đến đập cực mạnh vào cửa sắt làm các TNCT bên trong đinh tai nhức óc # 15 phút. Sau đó, CA gọi một số TNCT ra thẩm vấn cho đến # 4 giờ sáng thì mới cho về lại buồng ngủ.
4/37. Cho tù hình sự côn đồ uy hiếp TNCT : Chuyện này thì khá phổ biến. Cụ thể ở trại K2, Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai, thời kỳ 2006-2008, CA cho dân xã hội đen Hải Bánh, đồng vụ với Năm Cam, # 36 tuổi, án chung thân, vào ở chung buồng để đánh đập, đe dọa các TNLT Trương Minh Đức, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày).
4/38. Đánh giập lá lách : Tại trại B34 Bộ CA, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 5, Sài Gòn, TNLT Nguyễn Ngọc Quang (2006-2008) bị nhốt chung với anh Trần Văn Hoài, buôn tiền giả, # 32 tuổi, đã bị CA đánh dập lá lách. Anh Hoài vẫn còn giữ Biên bản xác nhận rằng CB đã đánh dập lá lách. Anh Quang đã chăm sóc, thuốc men, xoa bóp, nhất là hướng dẫn anh Hoài ngồi thiền. Lá lách đã dần hồi phục. Năm 2008 anh Hoài ra tòa ở Long An và bị giam ở trại tạm giam tỉnh Long An. Sau đó, gia đình phải chi 15 triệu VNĐ để anh Hoài được chuyển về trại Đại Bình, Lâm Đồng gần nhà ở Di Linh, Lâm Đồng.
Các Nhục hình 4/33, 4/34, 4/35, 4/36, 4/37, 4/38 được bổ sung ngày 19-6-2010 bởi TNLT Nguyễn Ngọc Quang.
4/39. Cho Tù nhân đi máy bay : Treo nữ / nam Tù nhân lên xà nhà, 2 tay giang rộng như cánh máy bay, buộc giăng 2 chân xuống móc sắt ở nền nhà, như hình chữ X có chữ I đoạn giữa. CA lấy roi điện / roi mây đánh vào lưng, bụng, ngực, vú, bắp vế, mông,…để khảo cung, ép cung hoặc trừng phạt, kể cả khi nữ Tù nhân đang hành kinh chảy xuống ướt cả nền nhà !!! (tại trại B34 Bộ CA, Q.5, Sài Gòn).
4/40. Đánh cháy chảo 1 : Những năm 2002-2003 (có thể đến nay), tại phòng 14, khu E-D, trại giam Chí Hòa, đường Chí Hòa, Quận 10, Sài Gòn. Các Cán bộ (CB) quản giáo đưa thuốc lào, thuốc lá cho Tù nhân (TN) trưởng phòng, hoặc một TN đại bàng nhờ bán thuốc lào, thuốc lá cho các TN khác, để kinh doanh cho CB. Một điếu thuốc Sài Gòn, Hero… giá 25.000 VNĐ. CB chỉ cần bán 6 cây thuốc là có thể mua một chiếc Honda Dream II (# 30 triệu VNĐ). Sau khi CB đã gián tiếp bán thuốc cho các TN, chính CB đó sẽ rình bắt TN hút thuốc (Nội qui cấm). CB lột quần áo TN ra, dùng dùi cui đánh vào mông TN cho đến khi thịt bầm tím như trứng chiên bị cháy, gọi là mông “cháy chảo.” Nếu TN nào có tiền “chung” cho CB ít nhất 100 ngàn VNĐ thì chỉ bị phạt cảnh cáo. Thường các TN trong phòng phải “chung” cho CB, để cả phòng khỏi bị cúp nước ngày hôm đó hoặc các hình phạt áp bức khác.  Các CB thường bán thuốc và đánh đòn TN để kiếm tiền bằng cách này trong khu E-D-F là các đại úy Thắng (cu Tốt),  Nghĩa (Nghĩa Cháy, vì đánh đòn rất điêu luyện), Sơn Đầu Đinh, và Dương F (phó trưởng khu F).
4/41. Đánh cháy chảo 2 : Việc CB đưa rượu / đồ cấm vào bán cho các TN trong buồng giam thì Trại nào cũng có, nhưng ở khu E-D Chí Hòa, TN gửi thư “chui” về gia đình bị bắt gặp cũng bị đánh cháy chảo như trên. Nếu TN chi ra mỗi thư chui 300.000 VNĐ thì may ra mông được nguyên vẹn.
            Các Nhục hình 4/39, 4/40, 4/41 được bổ sung ngày 19-6-2010 bởi cựu TNLT Nguyễn Vũ Việt ở tù tại trại B34 Bộ CA, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 5, Sài Gòn (19.6.2001-6.12.2002) và tại phòng 14 khu E-D, trại giam Chí Hòa, đường Chí Hòa, Quận 10, Sài Gòn (6.12.2002-7.10.2003).
4/42. Nằm sấp đội xẻng phơi nắng : Kỹ sư viễn thông Trần Văn Huy, năm 2008, đến phân trại K1, trại 6 Nghệ An để bắt hệ thống thông tin, tận mắt chứng kiến : các TN bị bắt nằm sấp phơi nắng liên tục # 3 giờ đồng hồ, trên đầu có úp một xẻng đào đất, cán xẻng được đặt dọc sống lưng. Nếu để xẻng hoặc cán xẻng rơi thì bị đánh bằng dùi cui.
4/43. Tra tấn người yêu/vợ/chồng trước mặt nạn nhân để khảo cung, ép cung : Thường người yêu, vợ hoặc chồng không thể chịu đựng nỗi việc mình bị tra tấn / nhục hình (chích roi điện, gõ đầu ngón tay, đi máy bay, đánh vào hạ bộ, đánh trống đầu,…) ngay trước mặt người yêu dấu của mình. Và người yêu chứng kiến cũng không thể chịu đựng nỗi cảnh người yêu của mình bị nhục hình / tra tấn ngay trước mặt mình. Kết quả cả 2 đều “nhận tội” hết. CB nào dùng nhục hình này thì luôn đạt được mục đích. “Vinh quang đời đời” thuộc về ngành CA “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Nhục hình 4/42, 4/43 Nữ Luật sư TNLT Lê Thị Công Nhân bổ sung ngày 19-6-2010
4/44. Bắt nằm ngửa/ngồi thẳng đè sách dày lên ngực và đánh mạnh trên sách :
TNLT Hồ Thị Bích Khương đã bị giam lần 1 tại Trại số 1 của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội (11.5.2005 - 11.11.2005) và đã bị tạm giam tại Trại tạm giam Nghi Kim, Nghi Lộc, Nghệ An (26.4.2007 - 12.9.2008), rồi được chuyển về giam tại K2, Trại 6, Thanh Chương, Nghệ An (12.9.2008 - 26.4.2009). Vừa qua, sau khi thăm Ks Đỗ Nam Hải, tối 14-6-2010, Chị Khương và 5 Chiến sĩ Hòa bình đã bị CA bắt về CA quận Phú Nhuận, Sài Gòn. Tại đây Chị Khương đã bị đánh nhiều lần đêm đó, và cả sáng hôm sau, đến bất tĩnh, rồi bị CA đem vứt ở công viên Gia Định, để lại nhiều vết bầm tím khắp trên người. Sáng 19-6-2010, Chị Khương còn đau nhức nhiều nơi. Tôi đã kiểm chứng lại trực tiếp với Chị Bích Khương, các trận đòn đêm 14-6 và sáng 15-6-2010 gồm đấm, đá, đạp vào đầu-mặt và khắp toàn thân quả thật đã làm Chị Bích Khương rất đau nhức, bất tỉnh và để lại nhiều vết bầm tím trên mặt, ngực, bụng, lưng, mông, bắp đùi,… Lần này CA Phú Nhuận đã không áp dụng đòn âm khá phổ biến nói trên (4/44) cho Chị Bích Khương như nhiều tin đã loan hôm 15-6-2010, nhưng theo Ls Lê Thị Công Nhân và các Cựu Tù khác, CA đã áp dụng đòn âm này cho nhiều Tù nhân ở nhiều Trại giam khắp Việt Nam như một loại Nhục hình khá quen thuộc.
4/45. Tạo điều kiện, cơ hội và xúi giục Tù nhân Chính trị tự tử giả, để thừa dịp giết chết thật : Tháng 12.2006, tại phòng cung số 2, lô D, lầu 2, khu C, trại B34 Bộ CA, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 5, Sài Gòn, CB thụ lý khảo cung TNCT Nguyễn Ngọc Quang, quá thất vọng vì bất lực không thể khai thác anh Quang được. Do đó, CB này giả bộ tỏ lòng tốt, cho anh Quang biết anh Quang ngoan cố không khai báo, thế nào cũng sẽ bị án rất nặng. CB ấy liền trao cho anh Quang một bàn chải đánh răng nhựa cứng, chỉ dẫn anh Quang cách mài thành một mũi dao sắc, dặn khi về “hộp giam ca-sô” thì tự đâm vào ngực giả bộ tự tử, để được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Sài Gòn, như vậy cơ quan điều tra sẽ động lòng không khảo cung, thẩm vấn căng nữa và sẽ đề nghị mức án nhẹ cho anh Quang.
Nhưng đêm ấy, có CB khác biết chuyện, đã ném vào “hộp giam ca-sô” anh Quang một mảnh giấy nhỏ, khuyên đừng làm theo, vì đây chỉ là một thủ đoạn thâm độc, sẽ có chính CA thừa dịp anh Quang tự tử mà đâm thêm cho anh Quang chết thật luôn.
Thủ đoạn thất bại, sau đó, trung tá Trần Xuân Long thụ lý thay vụ án anh Quang.
4/46. Danh sách 9 TNCT đã chết do lây nhiễm HIV bởi thủ đoạn tiêu diệt Tù nhân Chính trị bằng cách cố ý dùng dao cạo đã sử dụng ở khu HIV – AIDS cách ly, để buộc cạo đầu mặt Tù nhân Chính trị tại trại K2, Z30A, Xuân Trường, Xuân Lộc, Đồng Nai, lần bổ sung thứ 6 này đã được ghi chung với lời chứng 2/17 trang 4 trên đây, nhưng không xáo trộn thứ tự 54 nhục hình đã công bố.
4/47. Kê thanh sắt lên  2 bàn chân nữ tù nhân rồi CB / 2 CB đứng lên 2 đầu thanh sắt ấy. Các tù nhân này thường bị nát 2 bàn chân.
4/48. Dùng giày da cứng (giày đinh) đứng dẫm lên các ngón chân nữ tù nhân.
4/49. Bắt nữ tù nhân nằm ngửa, CB nắm 2 chân tù chân kéo ngược lê đi khắp phòng. Kiểm sát viên Hồ Trung Cung, # 50 tuổi, thuộc Viện Kiểm sát Nghi Lộc, Nghệ An,  thường khoái trò kéo xe người nằm ngửa này.
4/50. Bắt nữ tù nhân nằm sấp, dùng roi điện đánh vào mông, lưng. Sau đó vài ngày, các vết roi rỉ chảy nước vàng. Điều tra viên Cao Tiến Lý, # 45 tuổi, thuộc CA Nghi Lộc, Nghệ An, thường đánh, đá tù nhân mỗi khi khảo cung.
4 Nhục hình 4/47, 4/48, 4/49, 4/50, đã xảy ra tại phòng thẩm vấn, Trại tạm giam Nghi Kim, Nghi Lộc, Nghệ An vào những năm 2007-2008
4/51. Đạp, dẫm giày da cứng (giày đinh) lên mặt nữ tù nhân : Sáng ngày 12.9.2008, TNLT Hồ Thị Bích Khương nhập trại giam K2, Trại 6, Thanh Chương, Nghệ An. 3 CA nam đã dùng dùi cui đánh Chị Bích Khương vào lưng, đùi, gối. Chị Khương ngã xuống, thì 3 CA này xông vào dùng giày đinh đạp và dẫm lên mặt Chị. Chị Khương ngất xỉu, đái ra quần, sau đó bị băng huyết 10 ngày, 2 chân, đùi sưng nhức, không thể mặc quần được. Bị đưa vào khu bệnh lao cách ly được dùng làm khu biệt giam, nhưng không thuốc men, chăm sóc. 8 tháng sau, CA cho Chị Khương về buồng giam chung. Tại phòng cấp cứu của khu biệt giam này, cũng có nữ tù tên Thiệp, #42 tuổi, bị cấm cố, không cho thân nhân thăm nuôi.
4/52. Đánh chấn thương sọ não, dẫn đến động kinh, rồi cùm chân nữ tù nhân suốt 24/24 trong nhiều tháng : Cũng tại khu biệt giam ở số 49 nêu trên, có một nữ tù tên Bình, #50 tuổi, bị CA đánh đến chấn thương sọ não, bị bệnh động kinh, bị cùm chân suốt 24/24. Dù kêu khóc, vẫn phải ỉa đái tại chỗ, không được tháo cùm để vào phòng vệ sinh.
6 Nhục hình 4/47, 4/48, 4/49, 4/50, 4/51, 4/52 do TNLT Hồ Thị Bích Khương bổ sung ngày 20-6-2010.
4/53. Thích đòi công bằng, CA cho công bằng : Treo 2 tay nữ tù nhân lên trần nhà, CB lấy dép đánh nạn nhân vào mặt, đầu, thân, đến nôn ra máu : Nữ tù Nguyễn Thị Huần, # 56 tuổi, nguyên là một nữ thanh niên xung phong khi mới 17 tuổi, đi bộ đội năm 19 tuổi (4.4.1975), rồi làm ở Công ty Vật tư tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1979. Có nhà ở Xóm Vày, xã Hoàng Đan, huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc, đã bị CA đập phá sập nhà ngày 10.11.1993, bị cắt mọi trợ cấp. Bà Huần tham gia đoàn Dân Oan vẫn tụ tập khiếu nại từ năm 2003 đến nay, trước các cơ quan CSVN tại Hà Nội. Bị bắt giam tại trại tạm giam quận Tây Hồ, Hà Nội (4.6.2009 – 4.6.2010), bị Tòa án quận Tây Hồ xử ngày 17.5.2010, án 1 năm tù giam (bị cho là gây rối trật tự). Sáng 9.6.2009, CB thụ lý điều tra tên Vũ Thế Anh, # 30 tuổi, CA quận Tây Hồ, Hà Nội, đã treo bà Huần lên trần nhà, lấy dép đánh nạn nhân vào mặt, đầu, thân, để khảo cung. CB Anh vừa đánh, vừa mắng : “Mày thích đòi công bằng à ? Tao cho mày công bằng này”. Đến 15 giờ chiều, nạn nhân nôn ra máu. Hiện nay, bà Huần vẫn còn gãy xương móc (từ tai) trái ở mặt, chưa ghép lại được. Còn xương má trái, đầu, ngực vẫn đau nhức. Nhục hình này do chính cựu tù Nguyễn Thị Huần bổ sung ngày 29.6.2010.
4/54. Công An Đà Nẵng đánh chết giáo dân Cồn Dầu, Đà Nẵng trưa 3-7-2010 : CA liên tục bắt bớ, khủng bố những giáo dân đã tham dự tang lễ (sáng 4-5-2010) cụ bà Maria Tân (Hồ Nhu) : bị khảo cung rất tàn nhẫn, bị đánh đập, bị hăm dọa, bị lột hết quần áo,… Ngày 1-7-2010, CA đã triệu tập anh Nguyễn Năm, anh Đào và một phụ nữ làm việc. Anh Đào và anh Năm bị đánh đập dã man. Trưa 3-7-2010, lúc 11 giờ, CA đến bắt anh Năm tại nhà. Anh sợ quá, bỏ chạy. CA đuổi bắt, còng tay, đánh đập rất dã man ngay trước mặt nhiều người. Chị Hồng Anh, vợ anh Năm đã quỳ lạy, xin tha cho chồng, nhưng CA vẫn tiếp tục đánh hồi lâu. Sau khi đưa anh Năm về nhà, anh trối trăng với vợ là cố gắng nuôi mấy đứa con và anh sùi bọp mép, ngã ra chết tức khắc. Lúc đó là 13 giờ trưa ngày 3-7-2010. Sau đó, CA lại cho là Anh Năm vì nhịn ăn mà chết. Anh Đào cũng đã bị công an khảo cung, sợ quá ngã ngất xỉu, được đưa đi cấp cứu.
4/55. Bị bóp và đốt cháy bộ phận sinh dục để ép cung T8-2007 đến T6-2008 : Anh Đỗ Văn Hoàng ở thôn Tân Tạo, xã Bình Dân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, bị bắt giam ở trại tạm giam Trần Phú, tp Hải Phòng ngày 10-8-2007 vì liên quan đến cái chết của thiếu tá công an Nguyễn Văn Sinh tối 14-7-2007 tại Đình Vũ, Hải Phòng, cùng 4 người khác, với nhiều uẩn khúc. Trước tòa sơ thẩm và phúc thẩm 3 anh Nguyễn Văn Chưởng (bị bắt 2-8-2007), Nguyễn Trọng Đoàn (bị bắt 10-8-2007) và Đỗ Văn Hoàng đều kêu oan và khai bị tra tấn rất dã man để ép cung, buộc nhận tội. Đỗ Văn Hoàng tố cáo là trong 10 tháng bị tạm giam và bị ép cung, Hoàng đã bị CA điều tra bóp và đốt cháy bộ phận sinh dục, Hoàng đã phải ký nhận biên bản bừa vì bị quá đau. Sau cùng, anh Hoàng bị án bao nhiêu năm tù, các văn bản thân nhân cung cấp không nói đến. Ngay giữa tòa sơ thẩm 12-6-2008 tại Hải Phòng, anh Nguyễn Văn Chưởng đã nhờ luật sư gửi lên Chính phủ CSVN một cái áo đã được chính anh thêu 8 câu thơ kêu oan bằng các sợi chỉ rút từ khăn mặt và chăn đắp : “Án oan ôm hận nhờ Chính phủ, Giải oan hận này cho dân đen. Tấm lòng trong sạch thiên địa biết. Trả lại công bằng cho dân thường. Sao để quan sai hành hạ dân ? Pháp luật Việt Nam “là rất đúng”. Chỉ vì nằm trong tay quan điêu. Vu oan giáng họa cho dân lành.” Anh Chưởng vẫn bị án tử hình do Tòa phúc thẩm ngày 21-11-2008 tại Hà Nội.
Nhục hình 4/55 do thân nhân các nạn nhân cung cấp bằng văn bản ngày 28-10-2010.
4/56. Bị đầu độc với hậu quả rất nghiêm trọng nhiều năm sau, do được CA điều tra mời ăn cơm thịt sườn, từ đầu tháng 3-2007 đến gần cuối tháng 3-2007 : Anh Nguyễn Văn Ngọc, sinh 1959, quê ở ấp 1, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Tham gia tổ chức “Những Người VN Yêu Nước”, bị bắt ngày 01-3-2007, bị tạm giam ở B5, Biên Hòa, Đồng Nai. Ngay sau khi bị bắt, CA điều tra tp Biên Hòa, Đồng Nai đã mời anh Ngọc ăn cơm thịt sườn mỗi khi lấy cung, liên tiếp hơn 20 ngày. Thức ăn ngon, ăn nhiều. Sau đó bắt đầu đau nhức, đầu óc mụ mị, rên la lớn tiếng, nhiều vết đen ở cổ, sống mũi, vai. Nhổ râu ra máu lấm tấm, người mềm bủn rủn tay chân. Tháng 6-7-2007 bị đưa vào nhà thương điên Biên Hòa 1 thời gian. Ngày 11-12-2007 bị xử 4 năm tù. Đầu năm 2008, bị chuyển về giam ở buồng 5, K4, Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai. Ra tù ngày 30-8-2010. Hiện nay, sau gần 4 năm, anh Ngọc vẫn bị đau cuống phổi, gây khó thở và đau gan. Các bác sĩ đang điều trị cho anh theo hướng giải độc. Hiện ở ấp 1, xã Long Thọ, Nhơn Trạch, Đồng Nai.
Thủ đoạn 4/56 do anh Nguyễn Văn Ngọc bổ sung ngày 26-11-2010. Anh Trịnh Quốc Thảo, sinh 1955, án 2 năm tù ở buồng 5, K4, Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai, ra tù ngày 3-3-2009, đăng ký tại ấp Hòa Bình, xã Bảo Hòa, thị xã Long Khánh, Đồng Nai; hiện ở ấp Bà Ký, xã Long Phước, Long Thành, Đồng Nai. Anh Thảo cũng có các triệu chứng đã bị trúng độc, nhưng nhẹ hơn. Anh không muốn đề cập đến anh, nhưng sẵn sàng làm chứng cho thủ đoạn rất tàn độc 4/56 này.
D. Có thể còn nhiều đòn nhục hình, tra tấn khác ác độc dã man hơn nữa mà tôi không biết rõ ràng chính xác, kính mong các cựu tù nhân, nhất là các cựu tù nhân tôn giáo, chính trị, lương tâm khác bổ sung cho Lời Chứng số 4 này trước công luận quốc tế văn minh hiện nay. Chúng ta phơi bày sự thật không mảy may do thù hận một ai, nhưng vì trách nhiệm phải lên án và triệt tiêu cái ác xấu bất cứ từ đâu đến, dưới bất cứ hình thức nào, đồng thời phải đòi công lý cho mọi thành phần của gia đình nhân loại, cụ thể là của Đồng bào Việt Nam.
            Trước khi được thả, tất cả các nữ tù nhân ở các trại giam liên quan đều phải học tập 4 ngày, bị đe dọa, yêu cầu cấm nói các nhục hình nêu trên ra bên ngoài nếu muốn được thả và được sống yên ổn. Vì thế, bao năm qua, hầu hết các tù nhân nữ ra tù không dám tiết lộ các nhục hình đó, chỉ vì sự sợ hãi quá độ đã làm họ gần như tê liệt hoàn toàn.
Nhưng ngoài 5 tù nhân lương tâm nói trên, tù nhân Nguyễn Thị Khương, sinh năm 1960, thường trú tại 35A, phường Kỳ Bá, TP Thái Bình, sau khi bị nhục hình 1/12 (phơi nắng) nhiều giờ, nhiều lần, hiện đang được điều trị tại trạm xá, trại giam K3, Ninh Khánh, Hoa Lư, Ninh Bình, sẵn sàng làm chứng về các nhục hình 1/2.4.6.7.8.9.10.12.13; 3/18.19.20.21.22.23.24.25.26.27.28.30.
Các Lời Chứng này nhằm hi vọng sẽ góp phần tạo nên một HỒ SƠ TỘI ÁC của CSVN chống lại Đạo lý và Văn minh Nhân loại, đặc biệt riêng về lãnh vực giam nhốt, nhục hình, tra tấn tại các Nhà Tạm Giữ (xã, huyện, tỉnh, thành phố), Trại Tạm Giam (TN chưa xử) và Trại Giam (TN đã có án) của Hệ thống Tù đày của Chế độ CSVN ngay giữa thế kỷ XXI văn minh này, trong khi hầu hết các Giáo viên, Giáo sư, Nhà văn, Tiến sĩ, Trí thức, Học giả, Chức sắc các Tôn giáo, Đại đức, Thượng Tọa, Hòa thượng, Tu sĩ, Giáo sĩ, Giáo phẩm,… ngay tại Việt Nam, hoặc chưa hề nghe biết, hoặc không hề mảy may quan tâm đến, mà chỉ chăm lo sao cho “ăn yên ở yên” và “tốt đời đẹp đạo” để được xuôi thuận trót lọt mọi công việc. Còn Cộng đồng Quốc tế thì hẳn quá ngỡ ngàng đến kinh hoàng trước một Sự Thật mang tính “thời kỳ đồ đá” trần trụi đến như vậy.
            *** Tại sao CB CSVN lại hoang dã, ác tâm và tàn bạo đến thế ?
            Câu trả lời rất chính xác và rất vắn gọn đầy đủ chính là : Vì họ là các đệ tử chân truyền của Karl Marx, Lênin, Stalin, đặc biệt là Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh !!!
            *** Sau khi phổ biến Lời Chứng số 4 này, khá nhiều người hỏi chính tôi đã bị những nhục hình – tra tấn nào ? Ngoài đòn áp lực 2/16 nhốt buồng kín ca-sô, nêu trên, tôi xin trả lời thêm :
1. Từ 1977, Nội qui trại giam có 48 điều, điều 20 là Cấm làm Dấu Thánh Giá, Cầu nguyện, Dâng Lễ, Truyền Đạo,… tôi đã trả lời Ban Giám Thị lao Thừa Phủ, Huế là tôi không chấp hành điều ấy. Họ đáp là Luật này họ không tạo ra mà do Bộ Công an làm, họ chỉ có trách nhiệm đọc cho tôi nghe, tôi không giữ thì tùy tôi. Những năm 1980-1992, Nội qui còn 10 điều + 20 điều nếp sống văn hóa mới, thì điều 6 là Cấm Truyền Đạo, bói toán,…, tôi cũng tuyên bố là tôi không giữ. Từ 2001 – nay, điều 11/15 Nội qui là Cấm Truyền Đạo, bói toán,… không những tôi tuyên bố là tôi không giữ mà tôi còn tuyệt thực nhiều lần để phản đối và phản đối công khai trong 27 bản kiểm điểm chính Nhà cầm quyền CSVN. Mãi đến nhưng năm 1990, các CB gặp tượng, ảnh đạo, tràng chuỗi là xé, đạp lên, bẻ gãy, giật đứt. Bắt gặp vẽ ảnh Chúa-Đức Mẹ bị cùm kỷ luật 3-6 tháng…
2. Ngày 18-5-1983, khoảng 200 CA bao vây Nhà Thờ Đốc Sơ, Huế để bắt tôi, khi một nhóm CA vào phòng nhà xứ Đốc Sơ, lột áo linh mục của tôi, có 1 CA đấm vào lưng-hông bên phải tôi, tôi quay lại và cười : “Tưởng có bài gì mới-hay, bài này quá xưa, đã có từ thời các Anh hùng Lương Sơn Bạc rồi!”. Nghe vậy, viên trung tá chỉ huy liền khoát tay ra lệnh ngưng. Từ đó, tôi vẫn dùng nụ cười để tự vệ hiệu quả, trong các trường hợp tương tự.
3. Từ những năm 1983, tôi luôn phản đối và bênh vực các tù nhân bị đánh, bị kỷ luật vô lý. Năm 1990, Cùng với Bác ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhiều lần tôi đã nói với đại úy Dương Đức Thắng, K trưởng K1 Nam Hà, Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam (nay là đại tá Giám thị toàn trại 3K của trại Nam Hà) rằng : “Yêu cầu Ban (quen gọi Ban Giám Thị) ra lệnh nghiêm cho các CB là không được đánh tù nhân. Ban đừng nghĩ rằng đánh vào thân xác tù trên rừng là không ai biết. Thực ra, các CB đang đánh vào chính uy tín của đảng CS đang suy yếu của Ban đó thôi. Nếu Ban ra lệnh suông, thì chứng tỏ Ban hai mặt : vừa cấm, vừa cho phép.”
4. Tôi bị cùm 01 chân từ # 16 giờ đến  # 9 giờ sáng hôm sau, tại buồng kỷ luật, K1 Thanh Cẩm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa hơn 2 năm (11.1983-5.1986), chỉ vì tôi giúp 6 linh mục “chui” của Giáo hội Công giáo miền Bắc tĩnh tâm trong 01 tuần, khi 6 Vị đến tạm sống chung buồng kiên giam với tôi. Sau đó, 6 Vị về buồng chung để đi lao động, còn người “giúp tĩnh tâm” là tôi thì đến sống buồng kỷ luật, không có biên bản, không tuyên bố lý do.
5. Từ 2001-2010, tôi luôn bị biệt giam, trong 1 buồng # 15m2, giữa 1 khu rộng # 400m2, không có tù nhân nào nữa, nhưng bất cứ lúc nào tôi nhận được tin chính xác là có một tù nhân nào bị đánh hoặc bị áp bức, tôi luôn tuyệt thực để phản đối các CB tại trại K1 Nam Hà, Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam, để có cơ hội viết các lời phản đối vào biên bản chính thức phản đối Ban Giám thị, phê phán chế độ và được lưu hồ sơ. Có lúc CB đánh tù nhân phải bị kỷ luật, ngưng chức, xin lỗi và bồi hoàn cho tù nhân bị đánh. Sau khi từ bệnh viện 19.8 Hà Nội trở lại trại giam 11.12.2009-15.3.2010, vì bị liệt tay-chân phải, tôi có thêm 1 bạn tù ở chung để giúp tôi các sinh hoạt thường ngày. @@@
Linh mục tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý – Huế, 8-6-2010
Ngày giỗ lần thứ 22 Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền,
Đã tử đạo ngày 8-6-1988 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, do bị Y Bác sĩ CSVN cho uống thuốc độc (Xem “Lời chứng về cái chết của Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền (Đức TGM đã tử đạo như thế nào ?) của Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, ngày 30-01-2001).
Bổ sung lần 1, 2, 3 ngày 14, 16 & 18-6-2010
Bổ sung lần 4, 5, 6 bằng Phụ Lục ngày 19-6, 8-7 & 30-11-2010

Tham chiếu :           26 NHÂN QUYỀN CƠ BẢN
đã được Công pháp Quốc tế và Liên Hiệp Quốc thừa nhận
& buộc mọi Nước thành viên phải cam kết tôn trọng.
26 MỤC TIÊU CỤ THỂ của Khối 8406
& mỗi Công dân có trách nhiệm phải đấu tranh
từng bước giành lại cho toàn Dân Việt Nam từ năm 2006 về sau.
          I. Các Nhân quyền về thân thể :
1. Quyền sống (không bị thủ tiêu, tàn sát, khủng bố, đe dọa, quấy nhiễu vì chính kiến, chủng tộc, tôn giáo, thành phần giai cấp).
2. Quyền không bị nô lệ hay nô dịch (vì lý lịch, chủng tộc, tôn giáo, chính kiến).
3. Quyền không bị tra tấn hành hạ (dưới mọi hình thức, mớm cung, bức cung).
4. Quyền không bị giam giữ độc đoán (vì các tội vu vơ chỉ có trong các chế độ độc tài : gây rối trật tự, phá hoại chính sách đoàn kết, lợi dụng tôn giáo, lợi dụng dân chủ, xúc phạm lãnh tụ, tuyên truyền chống nhà cầm quyền,...).
5. Quyền được xét xử công bằng (tư pháp phải độc lập với hành pháp, lập pháp, công an).
6. Quyền được Tòa án bảo vệ (được bồi hoàn danh dự và thiệt hại).
7. Quyền được Luật pháp bảo vệ (không có loại tội tuyên truyền chống chế độ, chống đối chính sách).
8. Quyền được bình đẳng trước pháp luật (hiến pháp, pháp luật công bằng văn minh, có luật sư).
II. Các Nhân quyền về an cư :
9. Quyền tự do cư trú và đi lại, xuất ngoại và hồi hương (không bị quản chế hành chánh).
10. Quyền có đời sống riêng (bản thân, gia đình, nhà cửa, thư tín, điện thoại, điện thư được bảo vệ).
11. Quyền kết hôn và lập gia đình.
12. Quyền có quốc tịch.
13. Quyền tỵ nạn vì lý do chính trị, tôn giáo, chủng tộc.
14. Quyền tư hữu về vật dụng cá nhân, gia đình, tập thể, về đất đai và vốn kinh doanh.
          III. Các Nhân quyền về lạc nghiệp :
15. Quyền có việc làm, lương tương xứng và được nghỉ ngơi - giải trí.
16. Quyền thành lập và tham gia Nghiệp đoàn độc lập và quyền đình công.
17. Quyền có mức sống xứng hợp cho bản thân và gia đình.
18. Quyền có an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội khi thất nghiệp, già lão.
19. Quyền bảo vệ gia đình về hôn nhân, sản phụ, hài nhi, thiếu nhi, bình đẳng giới.
20. Quyền được chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh miễn phí hoặc hợp lý, được bảo hiểm y tế.
21. Quyền được giáo dục miễn phí cấp tiểu học, rồi trung học ; học đại học đầy đủ thuận lợi.
22. Quyền về văn hóa (tự do hưởng thụ, sáng tác, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ).
          IV. Các Nhân quyền về Tự do Dân chủ :
23. Tự do tín ngưỡng - tôn giáo cách bình thường phổ quát như tại đại đa số các Nước trên thế giới.
24. Tự do tư tưởng, phát biểu, quan điểm, tự do thông tin ngôn luận, tự do báo chí.
25. Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, biểu tình; toàn Dân được trưng cầu ý kiến về quốc sự.
26. Quyền tham gia công quyền, tự do ứng cử - bầu cử bình đẳng không bị giới hạn bởi hiến pháp, luật pháp khi không có một bản án công bằng nào ràng buộc; Quyền tham gia xây dựng, bảo vệ và quản lý Tổ quốc. Tức là Quyền Dân tộc Tự quyết.
Lm TNLT Nguyễn Văn Lý sưu tập 01.10.2010
(Tham khảo Từ Hiến Chương 1977 cho Tiệp Khắc đến Tuyên Ngôn 2006 cho Việt Nam”
của Ls Nguyễn Hữu Thống – 15.4.2006)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét