Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2011


Ngày 29-1-2011
Đặc điểm cố hữu của những cuộc nổi dậy thành công là không thể dự đoán được. Cuộc nổi dậy gần đây của tầng lớp trung lưu đã lật đổ chế độ Zine el-Abidine Ben Ali ở Tunisia, và nó chỉ có thể được giải thích thông qua những gì trí nhớ còn ghi lại được; chứ nhìn bề ngoài, gần như không ai trông thấy quá trình nó xảy đến.
Hiện tại các nhà phân tích đang dồn sự chú ý vào khối hỗn hợp nổ gồm: rất nhiều người trẻ tuổi có giáo dục và rất ít việc làm, một tầng lớp tinh hoa “độc tài đạo tặc”, và thất bại của bộ máy an ninh, không bảo vệ nổi chế độ khi những con chip đã hỏng hóc.
Các nhà phân tích khác đang tranh cãi xem liệu trường hợp Tunisia có lặp lại ở các nước Ảrập láng giềng, bao gồm Algeria, Ai Cập và Yemen, hay không. Và nếu có, các nền dân chủ của thế giới nên phản ứng với tình hình hỗn loạn đó như thế nào.

Các bộ trưởng ngoại giao từ Washington, London, Tokyo đến Paris và Berlin đang cố xác định xem lập trường nào khả dĩ nhất giúp chính phủ của họ tìm một cơ sở chung để hợp tác với những người có thể nắm quyền nếu cuộc nổi dậy thành công, mà lại không làm đảo lộn quan hệ hiện nay nếu chính quyền bị thất thế kia thay đổi được tình hình.
Nếu các vị bộ trưởng ấy khôn ngoan thì họ không nên chỉ nhìn vào thế giới Ả rập.
Cuộc nổi dậy ở Tunisia khá giống với phong trào phản đối làm nghiêng ngả chế độ mullah ở Iran mới cách đây hơn một năm. Lý do không phải là vấn đề Hồi giáo mà là công bằng xã hội và tự do cá nhân. Và nếu đúng như thế thì các nhà phân tích nên nghiên cứu sự tương đồng của phong trào đó với tất cả các quốc gia khác, dù Hồi giáo hay không, trong những giai đoạn phát triển khó khăn của họ.
Ở nhiều nước đang phát triển, giáo dục và mạng xã hội số hóa đã khiến các cư dân thành thị trẻ tuổi nhận thức được những gì mà họ không có. Ở một số nơi, họ không có được những món đồ mà một người bình thường có thể mua nếu anh ta hoặc cô ta có nghề nghiệp ổn định. Ở vài nơi khác, họ không được quyền nói ra những gì họ nghĩ, không được phép thay đổi lãnh đạo, chứ đừng nói gì thay đổi hệ thống.

Việt Nam rơi vào trường hợp thứ hai.

Kể từ năm 1991, tầng lớp tinh hoa là đảng viên cộng sản đã khá thành công trong việc đưa hàng tiêu dùng đến tay công dân. Những người dân vẫn còn bị ám ảnh bởi ký ức về sự đói nghèo khốn khổ – kết quả sự thất bại của Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực (1975-1986) – những người dân đó đã rất hạnh phúc với cái mà một khoản thu nhập bình quân đầu người 1200 USD mang lại: nhà ở tốt hơn, đủ ăn, xe máy, tivi, và tiền để thỉnh thoảng mua sắm đồ xa xỉ. Khảo sát về Chỉ số Hạnh phúc, do Tạp chí Forbes tài trợ, thường xuyên cho thấy dân Việt Nam nằm trong số những người lạc quan nhất thế giới, tin tưởng rằng cuộc sống đang tiến triển theo hướng tốt hơn.
Tuy nhiên một nhúm người Việt vẫn khăng khăng khi than thở trên blog, trên Facebook và trên giấy rằng thịnh vượng về vật chất là chưa đủ, và vẫn còn thiếu các quyền tự do chính trị căn bản. Cho đến nay, đại đa số người Việt nhìn những kẻ đó một cách giễu cợt, và nếu có để ý đến thì coi những người đó như những người lập dị chưa biết nghĩ. Họ nhún vai mỗi khi những kẻ bất mãn bị đánh đập hay bắt giam vì các tội như “lợi dụng Internet, kích động đa đảng và dân chủ”.
Thái độ thụ động về chính trị của phần lớn người Việt Nam có thể được giải thích là do không hiểu biết về thế giới bên ngoài. Những tờ báo hăng hái đã đưa tin thường xuyên và rõ ràng là không qua kiểm duyệt về các sự kiện ở Tunisia và hiện giờ là ở Ai Cập, kể từ khi chế độ Ben Ali bị lật đổ hồi giữa tháng 1. Và, cũng như những cuộc bạo động làm rung chuyển Bangkok một năm về trước chỉ là chuyện để báo chí đưa tin cho ăn khách, cảm nghĩ hiện nay dường như là “ơn Trời, chuyện ấy không xảy ra ở đây”.
Ở một nước một thời từng chính thức đi theo chủ nghĩa quân bình song lại là nơi những màn phô trương của cải lại đang thịnh hành, nhiều người thành thị trẻ và có giáo dục chỉ mong cũng đạt được một sự giàu có thô thiển như thế. Gần như tất cả các công dân đều tin tưởng rằng nếu chăm chỉ và có chút may mắn, họ sẽ được hưởng một cuộc sống khá giả hơn, dễ chịu hơn.
Theo bảng “Chỉ số Thịnh vượng” của Viện Legatum – một bản phân tích lớn vừa được công bố hôm 26-1, thì năm qua Việt Nam đã nhảy 16 bậc và hiện đang xếp thứ 61 trên tổng số 110 nước được khảo sát. Tunisia đứng thứ 48 trong cùng cái bảng xếp hạng “đánh giá toàn cầu về của cải và hạnh phúc” này.

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã vừa thay mới tầng lớp tinh hoa chính trị của đất nước, nâng một số lên và đưa một số về hưu. Điều mà người ta thường được nghe qua tấm màn tin đồn bao phủ những sự kiện như thế, là sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc tiếp tục tăng trưởng kinh tế. Không chỉ là tăng về lượng, mà cả về chất nữa – tìm những hình thức đầu tư và các chính sách nào có thể đưa Việt Nam ra khỏi hàng ngũ các nước xuất khẩu nguyên liệu thô và hàng hóa sử dụng nhiều lao động chân tay.
Đó là lời hứa hẹn mà chính quyền có thể không thực hiện nổi. Có lẽ các đảng viên hiểu rằng tính chính đáng của chế độ của họ bây giờ phụ thuộc sâu sắc vào việc nâng cao được mức sống của người dân, và họ sẽ hành động theo hướng đó. Thế nhưng, dường như cũng chắc chắn không kém là các nhà cải cách trong nội bộ đảng cầm quyền này sẽ tiếp tục bị bó chân bởi một hệ thống đã xơ cứng, với các đặc điểm nổi bật: bao cấp, tham nhũng lan tràn và tình trạng cát cứ ở địa phương.
Nếu những tiến bộ kinh tế suốt một phần tư thế kỷ qua của Việt Nam bị gián đoạn hoặc ngừng lại, chắc chắn hỗn loạn sẽ xảy ra theo đó. Có hàng triệu thanh niên cưỡi xe máy, mỗi người sở hữu một điện thoại di động 3G – bất kỳ ai đã từng chứng kiến những dịp ăn mừng chiến thắng của tuyển bóng đá Việt Nam đều có thể hình dung cái cảnh sẽ xảy ra khi cũng nguồn năng lượng ấy bị chuyển hóa thành cơn hăng hái chính trị. Và nếu, giống như ở Tunisia, tâm trạng của người dân trở thành tồi tệ một cách không cứu vãn nổi, nếu một, hai cuộc đụng độ nhỏ xảy ra và có người chết, nếu hàng chục nghìn người thách thức những quyền lực đang tồn tại kia, thì liệu chính quyền có thể trông cậy vào lực lượng bảo vệ của nó, các Công an Nhân dân, hay không?

Việt Nam, quốc gia 86 triệu dân, có 1,2 triệu công an cảnh sát, theo một ước đoán của chuyên gia đáng kính về quốc phòng, nhà phân tích Carl Thayer. Xét tổng thể, họ là một đám tham nhũng, lạm dụng quyền lực, có mặt ở khắp mọi nơi, và người dân thường thì tránh họ càng xa càng tốt. Xét về cá nhân, hầu hết công an – cũng như trường hợp Tunisia – đều thuộc tầng lớp trung lưu thấp, những người coi sự nghiệp làm công an là con đường để tiến thân.
Các đơn vị công an chuyên trách tỏ ra xuất sắc trong việc kiểm soát và áp chế những người Việt Nam nào chia sẻ ý kiến xúi giục nổi loạn của họ với ai khác. Các cán bộ an ninh nội địa thường xuyên cảnh báo rằng các thế lực thù địch chống Việt Nam mưu tính tổ chức một cuộc “cách mạng màu” kiểu Đông Âu. Công an còn được hỗ trợ bởi hệ thống luật pháp cấm cản việc thành lập các nhóm vận động độc lập, vốn là nguồn mầm của xã hội dân sự ở rất nhiều quốc gia.
Những nhà bất đồng chính kiến Việt Nam có vẻ bị cô lập và còn ít về số lượng, và chừng nào còn như thế thì còn không địch được với công an. Tuy thế, hãy giả sử tăng trưởng kinh tế bị gián đoạn hay ngừng hẳn xem? Và thử tưởng tượng một thanh niên Việt Nam có bằng đại học, không sao tìm được công ăn việc làm ổn định, liền bày một mẹt hàng vỉa hè để bán dưa hấu? Hãy thử hình dung mấy công an bắt giữ anh ta vì đã bán hàng không giấy phép, và tịch thu hết số tiền anh ta có? Hãy thử hình dung anh ta phản đối những thứ quyền lực hiện hành, và bị phớt lờ hoặc bị sỉ nhục?

Điều ấy xảy ra thường xuyên ở Việt Nam. Và hãy hình dung cảnh vào lúc ấy, một người bán hàng rong trẻ tuổi, có học, tẩm xăng vào người, đứng trước trụ sở cơ quan đảng và châm lửa?
Adam Boutzan là bút danh của một cây viết viết độc lập.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011
 


Thứ Hai, ngày 24-1-2011
 Đăng bởi anhbasam on 28/01/2011
Doanh nhân ở những khách sạn trung tâm lớn phát hiện thấy máy tính của họ bị thâm nhập.
Tháng 6 năm vừa rồi, vào khoảng thời gian kỷ niệm vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989, vài thành viên trong ban điều tra nội bộ của một công ty Mỹ nhóm họp tại một chuỗi khách sạn quốc tế sang trọng ở Bắc Kinh để dự một hội nghị nọ.
Công ty không muốn được nêu tên, thậm chí không muốn đề cập cụ thể hơn đến lĩnh vực kinh doanh của họ. Khi các nhân viên về nhà, họ phát hiện ra máy tính của mình đã bị xâm nhập từ hệ thống Internet của khách sạn. Một số máy bị xâm nhập nặng đến nỗi ổ cứng hỏng hẳn.
“Họ đã bị hack lan từ máy này sang máy khác”, một người cho biết. “Việc xảy ra ở khách sạn, thông qua hệ thống kết nối Internet. Bất kỳ ai ở bên kia cũng có khả năng đi xuyên vào ổ cứng của họ bên này”.
Một người khác mà gần đây có cư trú tại một khách sạn quốc tế lớn ở Thượng Hải để quan hệ khách hàng – và cũng không muốn công khai nghề nghiệp của mình – cũng đã gặp chuyện tương tự.
“Cứ mỗi lần tôi mở Internet Explorer” – ông nói – “là cả màn hình sẽ mờ đi một lúc rồi mới bình thường trở lại. Hòm thư của tôi không mở được, hòm thư công ty tôi cũng không mở được. Thế rồi sau hai ngày, tôi được cảnh báo rằng ổ cứng mới tinh của mình đang bị đe dọa và tôi nên back up (dự phòng) dữ liệu ngay lập tức”.
Ông cho biết, Internet Explorer và các hòm thư hoạt động bình thường ngay khi ông rời khỏi Trung Quốc. Ông nói thêm là tại Trung Quốc, ông chỉ được phép sử dụng máy tính xách tay khi ở trong khách sạn.
Các trường hợp tin tặc nổi tiếng – trong đó có vụ tấn công khiến Google phải bỏ Trung Quốc – đã được công luận chú ý rộng rãi. Bất chấp việc Bắc Kinh phủ nhận, các điện tín ngoại giao mà Wikileaks tung ra vào tháng 11 trích lời một quan chức Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh, nói là các cơ sở đã báo cho Mỹ rằng chính quyền Trung Quốc đứng sau một vụ hacker tấn công vào Google và các chính phủ phương Tây. Có quá nhiều vụ đến mức khó có thể kể hết ra. Và tất nhiên phải thừa nhận rằng không phải chỉ có mình Trung Quốc trong nghề hack máy tính và làm gián điệp công nghiệp, nếu ta xét đến thành công rõ ràng của Stuxnet, một con sâu máy tính mà người ta cho là được tạo ra vì lợi ích của Mỹ và Israel, nhằm phá hoại chương trình phát triển hạt nhân của Iran.
Tuy nhiên, mức độ chú ý giành cho hai công ty nêu trên, trong đó một công ty tương đối nhỏ, đã không được nhận thức đúng mức, và nếu sự chú ý đó lan rộng thì sẽ cần đến cả một đoàn quân gián điệp và các nhân viên khác, một đoàn quân to lớn hơn cả lực lượng an ninh Stasi thời Đông Đức ngày xưa. Người ta không biết chính phủ Trung Quốc đã xâm nhập sâu tới mức nào vào các hoạt động nhỏ như thế, đặc biệt là lại thông qua hệ thống Internet của những khách sạn phương Tây nổi tiếng. Nhưng dường như nếu bạn là một doanh nhân phương Tây làm kinh doanh ở Trung Quốc, bạn có thể rất được chú ý, nhất là nếu bạn mở Internet trong một khách sạn lớn.
Nếu một báo cáo mới đây của OECD có gì đáng để tâm thì đó không phải là những kinh nghiệm xa vời, và rất có thể xuất phát từ chính phủ (Trung Quốc), mặc dù không nhất thiết như vậy. Báo cáo dài 121 trang, do OECD công bố tuần vừa qua, có tiêu đề là: Những cú sốc toàn cầu trong tương lai: Giảm rủi ro an ninh mạng hệ thống.
Tác giả của báo cáo là hai nhà tư vấn, Peter Sommer thuộc Nhóm Đổi mới và Hệ thống Thông tin thuộc Trường Kinh tế London, và Ian Brown, Học viện Internet Oxford, Đại học Oxford. Bản báo cáo tập trung chủ yếu vào mối nguy cơ tiềm tàng rằng các hacker của chính quyền có thể gây ra một cuộc chiến tranh trên mạng. Nó kết luận dứt khoát rằng, ngay cả với thành công rõ ràng của cái gọi là “con sâu Stuxnet” trong vụ xâm nhập chương trình hạt nhân của Iran, thì cũng có ít nguy cơ về những vụ việc tương tự.

Theo báo cáo, tận từ năm 2005, FBI đã tổ chức một cuộc điều tra của với mật danh Mưa Titan nhằm vào các hacker (hình như) đóng tại Quảng Đông. Cuộc điều tra tìm ra những số liệu bị ăn cắp từ Tàu Quỹ đạo Trinh sát Sao Hỏa của NASA và phần mềm lập kế hoạch bay của lực lượng Không quân Mỹ.
Mặc dù vụ ăn cắp có vẻ như nhằm vào các hệ thống của chính phủ, nhưng “bên cạnh các hệ thống không mật của chính quyền Mỹ, hacker truy cập cả vào hệ thống ở Ngân hàng Thế giới và các nhà thầu thiết bị quốc phòng như Lockheed Martin. Các cơ quan công vụ, quốc phòng và tình báo ở Anh, Canada, Australia và New Zealand đã cảnh báo giới doanh nhân về việc phải nâng cấp quy trình bảo mật, đề phòng những vụ xâm nhập như thế”.
Theo báo cáo, không rõ có sự tham gia của chính quyền vào các đợt tấn công hay không. Nhưng, cũng theo báo cáo, Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung đã kết luận rằng “nguồn tài nguyên cần thiết để duy trì được việc khai thác mạng lưới máy tính nhằm vào Mỹ và nhiều nước trên thế giới, cùng với sự tập trung cao độ vào các dữ liệu kỹ thuật quốc phòng, thông tin hoạt động quân sự của Mỹ, và thông tin chính sách liên quan tới Trung Quốc, là vượt quá năng lực của gần như tất cả những đơn vị tội phạm trên mạng có tổ chức, và khó mà đạt điều kiện tốt nhất nếu không có một hình thức tài trợ nào đó của Nhà nước”.
Theo một báo cáo của Canada vào tháng 4 năm ngoái, có một chiến dịch hack quy mô lớn, được xem là bắt nguồn từ các máy chủ ở Chengdu, sử dụng dịch vụ web-hosting miễn phí và các mạng xã hội như Baidu và Google. Ban đầu nó chỉ là một nỗ lực nhằm xâm nhập vào cộng đồng người Tây Tạng lưu vong nhưng sau đó nó đã mở rộng sang phá hoại cả những máy tính của Ấn Độ tại các cơ quan ngoại giao trên toàn cầu.
Báo cáo cho rằng, những viện tư tưởng như Viện Nghiên cứu Quốc phòng và Phân tích, và các ấn phẩm về quốc phòng, cũng là mục tiêu của tin tặc. Các doanh nghiệp như Công ty TNHH DLF, Tata và YKK India cũng vậy.

Năm ngoái, STRATFOR, công ty đánh giá rủi ro quốc gia có trụ sở tại Mỹ, báo cáo rằng, các trường hợp bị hack mà FBI phát hiện được ở Mỹ cho thấy gián điệp có thể không nhận được chỉ đạo từ Bắc Kinh và hoạt động của bọn họ không được điều phối tốt.
“Hầu hết các vụ việc liên quan đến tội vi phạm những hạn chế xuất khẩu, hoặc ăn trộm bí mật thương mại, hơn là trọng tội ăn cắp bí mật nhà nước, vốn là tội hình sự, có thể bị tử hình”, STRATFOR nói. Các vụ hack cũng liên quan đến tiếp nhận chuyển giao công nghệ, các âm mưu mua và xuất khẩu trái phép thiết bị mã hóa, linh kiện điện thoại di động, bộ chuyển đổi tín hiệu tương tự đầu trên sang tín hiệu số (high-end analog-to-digital converters), vi chip điện tử được thiết kế cho các ứng dụng trong ngành hàng không vũ trụ, và bán dẫn bức xạ cứng.
Những vụ khác liên quan tới việc ăn cắp các bí mật thương mại như quy trình OLED (đi-ốt phát quang hữu cơ) của hãng Dupont, công nghệ xe hybrid (xe lai) của General Motors, công thức diệt côn trùng của Dow Chemical, công thức pha chế sơn của Valspar và các mẫu thiết kế xe của Ford.
Theo STRATFOR, “ngày càng có nhiều công ty tư nhân Trung Quốc tham gia vào hoạt động gián điệp. Ví dụ đáng chú ý là Du Shanshan và Qin Yu chuyển giao công nghệ từ GM sang Chery Automobile, một nhà sản xuất tư nhân chứ không phải quốc doanh. Trong 5 vụ án bí mật thương mại của năm 2010, hầu hết các đối tượng tình nghi bị bắt là do kỹ thuật tồi. Họ lưu trữ dữ liệu trên ổ cứng, gửi email trên máy tính cơ quan và có liên hệ rõ ràng với các công ty ở Trung Quốc. Đây không phải kỹ thuật mà chúng ta có thể thấy ở những sĩ quan tình báo được đào tạo. Hầu hết các vụ việc này có lẽ chỉ liên quan tới những nhân viên làm việc tạm thời, một số trong đó chắc chắn đã được tuyển dụng ngay trong thời gian làm việc ở Mỹ và được mời mọc về làm ở Trung Quốc khi họ đã truy cập được vào các công nghệ quan trọng”.
Bản báo cáo của OECD liệt kê một dãy dài các kỹ thuật và lý thuyết về an ninh hệ thống thông tin, nhằm ngăn chặn hoặc ít nhất cũng xử lý được các vụ hack như thế, bao gồm cả việc xây dựng một kế hoạch an ninh tổng hợp để giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, hai ví dụ nói trên cho thấy rằng có vẻ như khả năng của các hacker, dù là hacker của chính quyền hay không, có thể phá vỡ các biện pháp an ninh thông thường một cách tương đối dễ dàng.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng bởi anhbasam on 27/01/2011

Nhà phân tích: Mặc kệ Trung Quốc khoa trương, Obama tốt nhất nên nhún nhường trước con rồng này.

Ngày 20-1-2011
BOSTON — Trước sự hiện diện của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tại Washington tuần này, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phải nghe vô số lời khuyên về cách cư xử với đối tác Trung Quốc.
Ngoại trưởng Hillary Clinton, các nghị sĩ và các nhà hoạt động trên toàn thế giới đòi ông phải nhấn mạnh với Hồ Cẩm Đào về tình hình nhân quyền ở Trung Quốc, đặc biệt là cách đối xử của Bắc Kinh với người được giải Nobel hòa bình Lưu Hiểu Ba. (Ông Obama đã làm việc này).

Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner đòi Tổng thống Obama phải tập trung vào vấn đề đồng nội tệ (yuan, tiếng Hán-Việt là “nguyên”, chính là đồng Nhân dân tệ) bị Trung Quốc đánh giá dưới giá trị, mặc dù tuần này đồng yuan vừa tăng giá so với đôla Mỹ, mức tăng cao nhất trong vòng 17 năm qua. (Ông Obama đã làm việc này).

Giới lãnh đạo các doanh nghiệp Mỹ đòi Tổng thống Obama phải xúc tiến lối vào thị trường nội địa đang không ngừng tăng trưởng của Trung Quốc với 1,3 tỷ người tiêu dùng tiềm năng. (Ông Obama đã làm việc này).
Đó là rất nhiều những cuộc đàm thoại căng thẳng, đặc biệt đối với một nhà lãnh đạo Mỹ, người mà – theo tinh thần chung trên Internet phản ánh – đã bị khủng hoảng kinh tế đẩy vào thế phải nhún nhường, thậm chí khúm núm, khi đối diện với một nước Trung Hoa nghênh ngang mới nổi.
Đoạn video này lan như virus trên mạng tuần qua, đã khái quát hóa tâm trạng đó:
Hồ Cẩm Đào thăm Washington DC
- Obama: Chủ tịch Hồ. Máy bay của ông đẹp quá. Hy vọng ông vừa có một chuyến bay tốt đẹp. Bây giờ phải bơm bánh đã phải không?
- Hồ Cẩm Đào (ném chìa khóa cho Obama): Đừng làm xước đấy.
Gặp một người treo biển: “Sẽ phát hành trái phiếu để xin ăn”. Hồ Cẩm Đào đưa tiền.
- Obama: ………
- Hồ Cẩm Đào: Ben (tức Bernanke-Chủ tịch Cục dự trữ liên bang FED), tiền thật đấy nhé. Hy vọng là giúp được các vị.
Obama và Hồ Cẩm Đào trong văn phòng:
- Obama: Đây, chỗ này là nơi chúng tôi đặt Phòng Bầu dục nổi tiếng. Kia là nơi tất cả những điều kỳ diệu … Chủ tịch Hồ, ơ, ông làm gì thế? Ồ, thôi không sao.
Hồ Cẩm Đào hạ chân dung Washington xuống, treo chân dung Mao Trạch Đông lên:
- Obama: Tôi đợi đây vậy. Ông cứ tự nhiên. Đừng ngại.
Obama viết lưu niệm.
- Obama: Nào, chúng ta hãy thêm một cặp tên nữa vào đây … Obama-Hồ … OK, ngài Chủ tịch… Không rõ khi nào ông muốn tiếp tục phần sau của tour này?
Obama và Hồ Cẩm Đào tới Walmart.
- Obama: Ngài Chủ tịch, xin gửi đến ông một món quà có ý nghĩa biểu tượng: Mũ cao bồi, biểu tượng cho tinh thần Mỹ về các giá trị độc lập…
(Mũ ghi “Made in China”, “sản xuất tại Trung Quốc).
- Obama: Ôi trời… đây là sản phẩm của chúng tôi mà.
Obama và Hồ Cẩm Đào trước bục diễn thuyết:
- Obama: … Khi tôi nói về “độc lập”, thì tức là “độc lập lẫn nhau”.
- Hồ Cẩm Đào: America, oh yeah!
Dĩ nhiên đây chỉ là một trò vui. Nhưng cũng như tất cả các màn hài hước vĩ đại (hãy xem vụ danh hài Ricky Gervais công kích cả Hollywood tại lễ trao giải Quả Cầu Vàng vừa diễn ra), ở đây cũng có phần nào sự thật. Và thậm chí có cả giá trị thông tin.

Khi nói về mối quan hệ phức tạp trong lĩnh vực kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc, một chút nhún nhường có tính toán về phần Obama có thể đi một bước ngoạn mục trong việc giúp Hồ Cẩm Đào kiểm soát được tình hình rất khó khăn ở Trung Quốc hiện nay.
Đó là bởi vì, bất chấp những bài hùng biện sống sượng nói những điều hoàn toàn ngược lại – Trung Quốc chưa phải là siêu cường của thế giới như nhiều người Mỹ lo ngại. Và, nhún mình trước con rồng này quả thật có thể giúp nước Mỹ đạt được lợi ích quan trọng nhất.

Trên thực tế, có vô vàn nhược điểm đáng lo ngại mà Hồ Cẩm Đào và đội ngũ của ông ta phải biết xử lý một cách khéo léo vì lợi ích của Trung Quốc và của cả Mỹ – do bản chất phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ song phương thiết yếu này.

Điều đó đặc biệt đúng trên khía cạnh chính sách kinh tế. Bắc Kinh giờ đây đang trên đường thực hiện một nhiệm vụ rất tinh tế và có nhiều khả năng là rất nguy hiểm: Liệu các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thành công trong việc đưa sự thịnh vượng đang tăng lên ở các tỉnh công nghiệp hóa và vùng duyên hải hiện đại đến với khu vực nông thôn trong nước, nơi vẫn còn đang đói nghèo đến tuyệt vọng không?
Quan trọng hơn, liệu họ có thể thực hiện trọn vẹn điều ấy mà vẫn giảm thiểu được những bất ổn chính trị nội địa có thể kiểm soát, những hỗn loạn trong nước, và – ở tình huống tồi tệ nhất – không gây chia rẽ quốc gia?
Đây không phải những nỗi lo hão huyền. Chỉnh đốn tình trạng bất bình đẳng kinh tế là bước cần thiết để đảm bảo một nước Trung Hoa ổn định, hòa bình và thịnh vượng. Hơn thế nữa, những mối lo ấy còn hàm chứa cả ý nghĩa kinh tế và chính trị.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng bởi anhbasam on 26/01/2011
Những thay đổi buồn tẻ ở Việt Nam
tại Đại hội Đảng thứ 11
Ngày 24-1- 2011

Đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức từ ngày 12 tới 19 tháng 1 năm 2011. Đại hội chẳng kéo theo thay đổi nào lớn về chính trị, xã hội hay kinh tế, khi mà các nhà lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản đã quyết định không quá mạo hiểm trong việc thiết kế đường lối cho đất nước.
Vượt lên trên tất cả mọi thứ và thậm chí vượt cả lên cuộc tranh luận về hình thức chủ nghĩa xã hội đang được thực thi ở Việt Nam, là sự quan tâm to lớn tới việc những ai sẽ là các lãnh đạo cao nhất của đất nước kể từ sau ngày 19-1-2011. Thật mỉa mai là, vấn đề ít nhiều đã được giải quyết vài tuần trước khi Đại hội khai mạc, khi Bộ Chính trị nhất trí nội bộ rằng sẽ đề cử ông Nguyễn Phú Trọng vào cương vị lãnh đạo tối cao. Ban Chấp hành Trung ương khóa 10 chấp nhận đề cử, và Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 được bầu chọn tại Đại hội Đảng thứ 11 đã phê chuẩn sự lựa chọn đó.
Ông Nguyễn Phú Trọng là Chủ tịch Quốc hội từ năm 2006 tới năm 2011. Kể từ giữa năm 2010 khi tên tuổi ông bắt đầu nổi lên như là ứng cử viên cho vị trí Tổng Bí thư nhiệm kỳ tới, những đối thủ của ông trong hậu trường đã phá ông một chút. Nhưng việc Bộ Chính trị lựa chọn ông Trọng cũng dễ hiểu, xuất phát từ hai quan điểm. Thứ nhất là nếu không chọn ông Trọng thì hai vị trí lãnh đạo cao nhất là Tổng Bí thư và Thủ tướng có thể đều rơi vào tay người miền Nam. Công thức lựa chọn lãnh đạo tối cao luôn luôn đòi hỏi phải cân bằng giữa người miền Bắc, miền Nam và miền Trung. Trong quá khứ, không phải lúc nào cũng có thể đưa các nhà chính trị khu vực miền Trung vào cơ cấu, nhưng đã luôn có một sự cân bằng sít sao giữa Bắc và Nam. Thêm vào đó, cái tư duy thường được chấp nhận là người miền Bắc giỏi hơn trong lĩnh vực chính trị và lý luận, người miền Nam thì giỏi chơi bóng trực tiếp hơn. Đấy là lý do tại sao người miền Bắc thường được ưu tiên vào chức vụ Tổng Bí thư, còn người Nam vào vị trí Thủ tướng.
Nếu ông Trọng (ngoại trừ vị Chủ tịch được tôn sùng, ông Hồ Chí Minh, được gọi là Bác Hồ, người Việt Nam nói chung được gọi bằng tên) không trở thành Tổng Bí thư, sẽ khó mà còn người miền Bắc nào khác trong Bộ Chính trị vào được vị trí này. Một người miền Bắc khác có thể là ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng. Tuy nhiên kinh nghiệm của ông trong chính phủ chưa bao giờ bao gồm cả kinh nghiệm về chính sách kinh tế và xã hội. Một người Bắc nữa, ông Phạm Quang Nghị, thì vẫn chưa đủ thâm niên bởi ông chỉ mới làm một nhiệm kỳ ở Bộ Chính trị, là nơi cung cấp nhân sự cho chức vụ Tổng Bí thư. Đương kim Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng mới làm được một nhiệm kỳ đầu tiên, mặc dù ông có tương đối kinh nghiệm trong chính phủ và là người miền Bắc. Người miền Bắc cuối cùng là Hồ Đức Việt, Trưởng Ban Tổ chức và Nhân sự của Đảng, từng có một nhiệm kỳ khó quên, đã bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 gạt khỏi Ban Chấp hành Trung ương nhiệm kỳ này (và do đó phải rời Bộ Chính trị cũng như các cương vị khác). Một điều cũng rất quan trọng là vấn đề thâm niên: Ngoài ông Trọng ra, những người miền Bắc khác đều ít thâm niên hơn những người miền Nam cùng cạnh tranh vào chức vụ Tổng Bí thư. Do đó, đối với cánh miền Bắc, giao ghế cho ông Trọng còn tốt hơn cho một người miền Nam, bởi người miền Nam còn có thể được nhận chức Thủ tướng nữa.
Lý do thứ hai giải thích tại sao ông Trọng được Bộ Chính trị hiện tại lựa chọn là logic “người đáng tin cậy”. Ông Trọng tạo dựng sự nghiệp chính trị của mình trong lĩnh vực lý luận về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội; ông là người được hai nhà lý luận Đào Duy Tùng và Nguyễn Đức Bình bảo trợ, mặc dù tư duy của ông ít bảo thủ hơn họ. Nhiều thập niên kinh nghiệm làm việc ở Tạp chí Cộng sản (tạp chí lý luận của Đảng) và trong Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dạy và điều hành công việc giảng dạy bộ môn Chủ nghĩa Mác-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, hẳn đã cho ông lợi thế hơn các nhà lãnh đạo khác trong công việc diễn giải ý thức hệ của Đảng.
Tuy nhiên ngoài những “quyền được ủy nhiệm” này, ông Trọng có quá ít kinh nghiệm ở cấp chính quyền trung ương so với các đối thủ khác cũng cạnh tranh vào chức Tổng Bí thư. Trước khi trở thành Chủ tịch Quốc hội, ông là Bí thư Thành ủy Hà Nội. (Trước đó nữa, ông làm việc tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh). Khi ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, báo chí hỏi ông làm thế nào có thể xử lý công việc khi chưa có kinh nghiệm nghị trường. Ông bảo ông sẽ học từ công việc. Đó là một phương pháp luận kiểu “cứ làm đi đã”, nhưng nó không đảm bảo được là đã chọn đúng người đúng việc. Tuy nhiên ông Trọng chắc chắn là sẽ cảm thấy thoải mái hơn trên cương vị Tổng Bí thư, với bề dày kinh nghiệm của ông trong lĩnh vực lý luận.
Điều đó cũng có nghĩa là căn bản quyền lực của ông Trọng thật sự không phải trong nhánh hành pháp, bởi lẽ Tổng Bí thư, tuy mang tính primus inter pares (một từ Latin, có nghĩa là đứng đầu nhưng bình đẳng-ND), phải chịu trách nhiệm về chính sách nhưng không phải về việc thực thi chính sách. Phần thực thi là nhiệm vụ của Chính phủ mà đứng đầu là Thủ tướng. Chẳng thế mà cương vị chính trị và nghi thức của chức Tổng Bí thư là số 1, trong khi Thủ tướng chỉ đứng số 3 (số 2 là Chủ tịch nước); tuy nhiên, nhiều quyền lực chính trị ở Việt Nam thì lại có được thông qua hệ thống ngân sách và hợp đồng mà Chính phủ chi ra. Trên thực tế, ở bất kỳ cấp nào, các chức vụ trong Chính phủ cũng đáng thèm muốn hơn các vị trí trong Đảng nói chung, mặc dù sở hữu một trong những chiếc ghế cao nhất trong hàng ngũ của Đảng là chìa khóa để đạt được chức vụ cao nhất trong bộ máy Chính phủ.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 bỏ phiếu ủng hộ để ông làm thêm một nhiệm kỳ nữa. Người ta thường nói rằng ở Việt Nam, mọi chính trị gia khi đã đạt được thành công vừa sức ông ta (đa phần chính trị gia ở Việt Nam là đàn ông) đều sẽ muốn trở thành Tổng Bí thư, nhưng có vẻ như ông Dũng không làm được việc này, và điều ấy có vài lý do.
Thứ nhất, có những tiếng nói rất ảnh hưởng cho rằng Thủ tướng và Chính phủ của ông ta có lỗi trong cuộc khủng hoảng tài chính ở Việt Nam năm 2007 (cùng thời với khủng hoảng tài chính toàn cầu), cũng như bất ổn kinh tế vĩ mô giai đoạn cuối 2010. Thứ hai, tình trạng gần như phá sản của Vinashin, tập đoàn đóng tàu nằm trực tiếp dưới sự quản lý của Thủ tướng, làm sứt mẻ danh tiếng của Thủ tướng. Có tin đồn là còn nhiều Vinashin nữa sắp xảy ra. Thứ ba, suốt hai năm qua, tin tức về vụ nhượng cho Trung Quốc khai thác mỏ bauxite trên Tây Nguyên và cho thuê rừng ở nhiều nơi khác cũng đã làm Chính phủ mang tiếng xấu. Và hãy lấy một ví dụ là việc Quốc hội bác đề nghị của Chính phủ xây đường sắt cao tốc Bắc Nam. Dự án này có tính chiến lược và có giá trị cực kỳ to lớn, nhưng đề nghị của Chính phủ thì được viết thật vắn tắt và thiếu chuyên nghiệp. Ấn tượng nó tạo ra là một Chính phủ cố sức thông qua mọi thứ thật vội vã mà không hề tập trung một cách thích đáng vào khâu chuẩn bị tài liệu và thuyết phục. Hay là, hãy xem vụ hợp nhất tỉnh Hà Tây vào Hà Nội, một việc làm bị coi là quá vội vã của Chính phủ, bất chấp nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sáp nhập là không khôn ngoan.
Tuy nhiên, cũng cần có sự thông cảm tương đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chính phủ. Hầu hết những sai lầm trên không phải chỉ của mình Chính phủ. Lý do là, lãnh đạo ở Việt Nam là một công việc tập thể, và phần lớn các quyết định căn bản và quan trọng do Thủ tướng đưa ra thì đều có dấu vết của quyền lực từ Bộ Chính trị. Các quyết định được thảo luận, và việc bỏ phiếu ở những lĩnh vực có sự bất đồng là chuyện thường xảy ra. Do có sự lãnh đạo tập thể và cơ chế làm việc ở Bộ Chính trị thì bí mật, không dễ xác định ai chịu trách nhiệm cho một sáng kiến chính sách nào đó. Là một nhóm, Bộ Chính trị giữ cương vị đứng đầu và không có một thiết chế nào ở bên ngoài nó để làm đối trọng sau khi nó đã ra quyết định.
Chức Chủ tịch nước, sau khi ông Nguyễn Minh Triết rời ghế, sẽ thuộc về ông Trương Tấn Sang. Ông Trương Tấn Sang đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình ở cương vị Thường trực Ban Bí thư trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ năm 2006 tới năm 2011, và nhiều ý kiến coi ông ngang hàng với ông Nguyễn Tấn Dũng về mặt năng lực. Trên thực tế, trong danh sách các thành viên Bộ Chính trị, công bố sau Đại hội 11 của Ban Chấp hành Trung ương, ông Sang đứng đầu, còn Tổng Bí thư và Thủ tướng xếp dưới. Theo một lời giải thích chưa được xác nhận, danh sách này được sắp xếp theo số phiếu bầu từ cao nhất xuống thấp nhất. Do đó, ông Sang hẳn đã nhận được nhiều phiếu nhất từ những đồng sự của mình trong Bộ Chính trị ở Ban Chấp hành Trung ương khóa 11. Trước Đại hội, người ta thậm chí còn cho rằng ông đang chạy đua cùng ông Nguyễn Tấn Dũng để giành chức Tổng Bí thư nhiệm kỳ tới, như điện tín của Wikileaks đã hé lộ. Song chức Chủ tịch nước cũng là một cái giải an ủi (giải khuyến khích), và ông Sang, với tính cách chủ động đi tiên phong, được kỳ vọng sẽ mang lại đổi thay cho một định chế mà quá nhiều người coi là chỉ có tính nghi thức.
Chức vụ lãnh đạo quan trọng thứ tư là Chủ tịch Quốc hội. Ngẫu nhiên thế nào, ông Nguyễn Phú Trọng là người thứ hai liên tiếp đi theo con đường từ vị trí Chủ tịch Quốc hội trở thành Tổng Bí thư. Người trước ông là ông Nông Đức Mạnh (2001-2011). Có tin cho rằng Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị có thể đã được đề nghị trở thành Chủ tịch Quốc hội khóa tới, nhưng hình như chưa đạt được sự nhất trí đối với việc này. Do vậy vai trò ứng viên của ông Nghị có vẻ còn gây nghi hoặc. Một bức ảnh chụp những người đứng đầu trong Bộ Chính trị, chụp sau Đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng, cho thấy ông Nguyễn Sinh Hùng, đương kim Phó Thủ tướng, có thể trở thành Chủ tịch Quốc hội. Tân Tổng Bí thư có mái đầu bạc trắng; Thủ tướng Dũng và Chủ tịch tương lai Trương Tấn Sang đứng hai bên phải và trái Tổng Bí thư. Có lẽ không có lý do nào để ông Nguyễn Sinh Hùng đứng ngay cạnh Chủ tịch nước Tương lai bởi vì cương vị hiện tại của ông – Phó Thủ tướng – không cao đến thế.
Nói về chính sách, Đại hội Đảng thứ 11 không phải là một bước ngoặt. Việt Nam vẫn đang thụ hưởng thành quả và danh tiếng của việc là con hổ kinh tế tiếp theo ở ASEAN. Sự thịnh vượng và mức sống đang tăng lên chứng tỏ tính đúng đắn của chính sách mở cửa và hội nhập với cộng đồng toàn cầu. Đại hội sẽ không thay đổi điều này. Chỉ dấu quan trọng nhất cho thấy điều ấy là sự thống nhất rộng rãi về Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội mà Đại hội Đảng thông qua. Điều này cho thấy rằng những kẻ có lợi ích đều chung suy nghĩ rằng con đường Việt Nam đã đi từ thời Đổi Mới năm 1986 là đúng đắn.
Có vài quan điểm khác biệt về việc thế hệ các lãnh đạo kế tiếp (chứ không phải lãnh đạo mới) có thể làm được gì. Những người lạc quan tin rằng những thay đổi, theo hướng đi tới một trình độ quản lý tốt hơn để nhìn ra được vô số các vấn đề nói trên, có thể mất thời gian đấy, nhưng chắc chắn thay đổi sẽ đến, và cần phải có sự chuyển giao thế hệ dần từng bước để những đổi thay đó diễn ra. Họ cũng cho rằng tốc độ không phải vấn đề sống còn; sự thận trọng mới là sống còn. Những người bi quan thì tin là các vấn đề được nêu trên bắt nguồn từ một thể chế do đảng cộng sản tạo dựng nên và do đó không tồn tại ý chí phải thay đổi hệ thống một cách căn bản, chờ đợi thay đổi đến thật là vô nghĩa; đất nước sẽ tiếp tục luẩn quẩn thế này. Và cũng có những người cho rằng thay đổi là có thể, ngay từ thế hệ này hoặc sang thế hệ kế tiếp, và cần gây áp lực mạnh lên các nhà lãnh đạo để các thay đổi đó diễn ra càng sớm càng tốt. Họ tin là trì hoãn thay đổi chỉ một, hai thế hệ nữa, sẽ là muộn màng không cứu vãn được.
Cho dù ai đó có theo quan điểm nào, Đại hội lần thứ 11 của Đảng cũng không qua đi mà không được chú ý. Nhưng những việc thật sự phải làm để cải thiện tình hình đất nước sẽ sớm được giao vào tay bộ máy quan chức cũng như trông cậy vào năng lực của Thủ tướng và Bộ Chính trị mà đứng đầu là Tổng Bí thư, để có thể tiến mạnh lên phía trước mà không giống như đang ăn thì nhai phải sạn. Hai con người này sẽ chia sẻ quan điểm và chính sách tới mức nào, họ có thể hợp tác tới đâu để thuyết phục những nhà làm chính sách đồng sự trong Bộ Chính trị tuân theo sự lãnh đạo của họ, điều ấy sẽ quyết định khả năng cất cánh – hay là hạ cánh một cách khó khăn – của Việt Nam trong vòng 5 năm tới, cho đến Đại hội toàn quốc của Đảng năm 2016.
David Koh là nhà nghiên cứu cao cấp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng bởi anhbasam on 26/01/2011
Báo cáo quốc tế:
Các nước vẫn mềm mỏng với
những chính phủ vi phạm nhân quyền
EU và các nước cần gây áp lực để mang lại sự thay đổi
Ngày 24-1-2011
(Brussels) – Quá nhiều chính phủ đang chấp nhận việc các chính quyền độc tài hợp lý hóa và lảng tránh hành động đàn áp của họ, và thay vì gây áp lực buộc các chính quyền đó phải tôn trọng nhân quyền thì lại thực hiện một cách tiếp cận dịu dàng hơn, gọi là thông qua “đối thoại” riêng và “hợp tác”. Hôm nay (24-1), tổ chức Human Right Watch đã tuyên bố như vậy trong bản Báo cáo Quốc tế 2011 của họ. Thay vì đứng dậy mạnh mẽ chống lại những nhà lãnh đạo đàn áp nhân quyền, thì rất nhiều chính phủ, trong đó có cả chính phủ thành viên các nước EU, lại áp dụng những chính sách vốn không tạo ra áp lực dẫn đến thay đổi.

Dày 649 trang, bản báo cáo hàng năm này của Human Right Watch về nhân quyền toàn cầu là báo cáo thứ 21, tóm tắt sơ lược các vấn đề nhân quyền lớn nhất ở hơn 90 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, phản ánh một khối lượng công việc điều tra khổng lồ mà các nhân viên của Human Right Watch đã thực hiện trong năm 2010.

“Việc ủng hộ, theo nghi thức, hoạt động “đối thoại” và “hợp tác” với các chính phủ vi phạm nhân quyền thường xuyên là lời biện minh cho việc người ta chẳng làm gì cả để thay đổi tình hình nhân quyền” – Kenneth Roth, Giám đốc Điều hành của Human Rights Watch, nói. “Các cuộc “đối thoại xây dựng” của EU là một số trong những ví dụ chính xác nhất về cái khuynh hướng có tính chất toàn cầu này”.

Human Right Watch cho rằng, đối thoại và hợp tác rất quan trọng để tìm ra các vấn đề đáng lo ngại về nhân quyền, và đạt được sự hợp tác là mục tiêu mấu chốt của việc cổ súy cho quyền con người. Nhưng một khi đã thiếu vắng ý chí chính trị tôn trọng nhân quyền, các sức ép sẽ làm thay đổi bảng phân tích chi phí – lợi ích theo hướng đẩy một chính phủ đi tới quyết định đàn áp.
Theo Human Right Watch, khi các chính phủ dễ hoặc buộc phải lạm dụng quyền lực, lạm dụng viện trợ quân sự có điều kiện hoặc lạm dụng viện trợ tài chính để có thể chấm dứt bạo lực, hoặc khi các chính phủ đòi truy tố và trừng phạt những người chịu trách nhiệm, thì điều đó làm tăng chi phí cho chính họ.
Cũng theo Human Right Watch, một loạt các quốc gia từ bắc chí nam trên trái đất đều thường xuyên vi phạm nhân quyền, nhưng đặc biệt EU dường như rất hăm hở vận dụng ý thức hệ “đối thoại và hợp tác”. Thậm chí ngay cả khi EU ban hành một tuyên bố bày tỏ sự lo ngại về tình hình nhân quyền, thông thường họ cũng không có một chiến lược tổng thể đi kèm nhằm thúc đẩy sự thay đổi.
Độ tín nhiệm của EU với tư cách một lực lượng bảo vệ quyền con người trên khắp thế giới còn phụ thuộc vào sự sẵn sàng của họ trong việc chỉ ra các trường hợp nhân quyền bị vi phạm bởi chính các nước thành viên. Với kỷ lục về phân biệt đối xử và bạo lực ngày càng tăng nhằm vào người nhập cư, người Hồi giáo, digan, và những tộc người khác, thiếu sự chăm sóc và bảo vệ thích hợp, và các biện pháp chống khủng bố lạm dụng quyền hành, các nước thành viên cùng các định chế ở EU cần phải thể hiện cam kết chính trị lớn hơn để đảm bảo rằng tình hình nhân quyền ngay tại EU là tương xứng với các tuyên bố khoa trương của EU ở bên ngoài.
Trong các ví dụ gần đây về việc EU đã không gây áp lực thích hợp, có trường hợp EU đã tiếp cận một cách rất nhún nhường với Uzbekistan và Turkmenistan; phản ứng yếu ớt của phương Tây đối với một số nhà toàn trị châu Phi được che chở như Paul Kagame ở Rwanda và Meles Zenawi ở Ethiopia; và sự hèn nhát gần như trên toàn thế giới trong việc đối đầu với những cuộc đàn áp sâu rộng của Trung Quốc nhằm vào các quyền tự do căn bản. Hành động ủng hộ hiệu quả nhất đối với nhân quyền ở Trung Quốc năm 2010 lại xuất phát từ Ủy ban trao giải Nobel của Nauy khi họ trao giải Nobel Hòa bình cho nhà bất đồng chính kiến người Trung Quốc là Lưu Hiểu Ba, đang bị tù đày.
Human Right Watch cho rằng quốc tế chưa chấm dứt hẳn việc gây áp lực. Nhưng họ chỉ sử dụng nó chủ yếu nhằm vào các chính phủ mà hành vi cư xử đã quá tàn bạo đến mức làm lu mờ hết mọi lợi ích đang bị đe dọa khác, như Bắc Triều Tiên, Iran hay Zimbabwe.
Theo Human Right Watch, việc sử dụng đối thoại và hợp tác, thay vì gây áp lực, đã nổi lên cùng với sự trả đũa trong nội bộ LHQ, của Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon nhằm vào rất nhiều nước thành viên trong Hội đồng Nhân quyền (Human Right Council). Thêm vào đó, các nền dân chủ đi đầu ở nửa nam bán cầu, như Nam Phi, Ấn Độ, và Brazil đều chỉ xúc tiến những cuộc tuần hành lặng lẽ, đó là một phản ứng ưa dùng của họ trước các cuộc đàn áp. Các ví dụ gần đây là Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với phản ứng thờ ơ trước tình hình vi phạm nhân quyền ở Myanmar, và thái độ tôn kính của LHQ đối với những kẻ tội phạm chiến tranh ở Sri Lanka, rồi chính sách mềm dẻo của Ấn Độ với Myanmar và Sri Lanka.
Bước sang năm thứ hai trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Mỹ Barack Obama có tập trung hơn vào vấn đề nhân quyền, nhưng các phát biểu hùng biện của ông không phải luôn luôn kéo theo hành động cụ thể. Ông cũng chưa khẳng định rằng các cơ quan khác nhau của chính phủ Mỹ đã truyền đạt một cách thống nhất những thông điệp mạnh mẽ về nhân quyền, mà hậu quả của việc này là Bộ Quốc phòng Mỹ và các đại sứ quán khác nhau của Mỹ – ở Ai Cập, Indonesia, Bahrain chẳng hạn – thường xuyên đưa ra các thông điệp bất đồng.
Human Right Watch cho rằng, đối thoại dưới bất kỳ hình thức nào, dù công khai hay nội bộ, đều sẽ có ảnh hưởng lớn hơn khi được gắn chặt với những tiêu chuẩn cụ thể. Tiêu chuẩn sẽ tạo ra định hướng rõ ràng cho đối thoại và buộc các bên tham gia phải chịu trách nhiệm thực hiện những kết quả cụ thể. Nếu không có tiêu chuẩn nào thì các chính phủ vi phạm nhân quyền sẽ điều khiển quá trình đối thoại, họ sẽ coi việc họ bắt đầu hoặc bắt đầu lại là dấu hiệu cho thấy “tình hình có tiến bộ”. Chẳng hạn, một báo cáo của EU vào năm 2008 về chiến lược của EU về Trung Á kết luận rằng công cuộc thực hiện được triển khai tốt, nhưng không đưa ra được cái gì để đo xem “tình hình có tiến bộ” tới mức nào, ngoài câu “có đối thoại chính trị tăng cường”.
“Đây đang là thời kỳ đặc biệt tồi tệ đối với các yếu tố của nhân quyền, khi người ta mất đi tiếng nói công khai”, Kenneth Roth nói. “Các chính phủ vi phạm nhân quyền cùng đồng minh của họ, trong nỗ lực ngăn chặn phong trào mạnh mẽ ủng hộ nhân quyền, hoàn toàn không cảm thấy mối bận tâm về việc nâng cao quyền con người”.
Lấy ví dụ như Sri Lanka. Họ gây áp lực lớn đòi LHQ phải xóa bỏ một đội ngũ cố vấn LHQ về trách nhiệm giải trình những tội ác chiến tranh của các bên trong cuộc xung đột vũ trang giữa chính phủ Sri Lanka và lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil. Trung Quốc đẩy mạnh một nỗ lực lobby lớn để làm các chính phủ khác thoái chí, không muốn tham dự lễ trao giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba. Và Trung Quốc làm điều tương tự khi ngăn chặn một ủy ban được LHQ ủy nhiệm tới điều tra về tội ác chiến tranh ở Myanmar, ủy ban này được sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ và vài nước thành viên EU.
Hội đồng Nhân quyền LHQ đã tỏ ra đặc biệt yếu hèn, với việc nhiều nước từ chối bỏ phiếu thông qua nghị quyết nhằm vào một quốc gia cụ thể nào đó. Trong một ví dụ điển hình, thay vì lên án Sri Lanka đã hành hạ dã man thường dân trong những tháng cuối của cuộc chiến với lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil, Hội đồng này lại chúc mừng Sri Lanka.
Mặc dù quan hệ đối tác và các hiệp định hợp tác của EU với những quốc gia khác, theo thông lệ, đều đi kèm với điều kiện phải tôn trọng nhân quyền căn bản, nhưng liên minh đã ký một hiệp định thương mại đáng chú ý và theo đuổi quan hệ đối tác đầy đủ với chính quyền Turkmenistan, một chính quyền vi phạm nghiêm trọng quyền con người, mà không đặt điều kiện nào về cải thiện nhân quyền, cũng như không đòi hỏi Turmenistan phải tham gia những nỗ lực nghiêm túc hứa hẹn rằng họ sẽ cải thiện tình hình. Và EU mở các phiên đối thoại với Serbia bất chấp việc Serbia đã không bắt giữ và đưa ra xét xử Ratko Mladic, người Serb gốc Bosnia, nhà lãnh đạo quân sự thời chiến tranh và là kẻ tình nghi phạm tội ác chiến tranh, đã bị quốc tế truy tố. Mà đấy lại là tiêu chuẩn chính yếu để các bên có thể ngồi vào bàn thảo luận. EU cũng đã dỡ bỏ cấm vận nhằm vào Uzbekistan mặc dù các lực lượng an ninh ở đây đã thảm sát hàng trăm người tại thành phố Andijan vào năm 2005, và chính phủ nước này thì không có hành động nào đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn nào EU đặt ra để dỡ bở cấm vận.
Cũng với biểu hiện như thế, chính quyền Obama trong năm đầu tiên đã phớt lờ các điều kiện về nhân quyền khi tiến hành viện trợ quân sự cho Mexico theo sáng kiến Mérida, mặc dù Mexico không thực hiện truy tố tại tòa dân sự các quan chức quân đội vi phạm nhân quyền, như được yêu cầu. Chỉ tới khi bước sang năm thứ hai, chính quyền Obama mới rút lại một số khoản viện trợ.
“Đối thoại và hợp tác có chỗ đứng của nó, nhưng phải có gánh nặng đè lên các chính phủ vi phạm nhân quyền để buộc họ thể hiện ý nguyện chân thành là muốn cải thiện tình hình”, Roth nói. “Khi các chính phủ đó thiếu một ý chí chính trị đi đến thay đổi, những chính phủ có thiện chí sẽ cần phải gây áp lực để chấm dứt tình trạng đàn áp”.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng bởi anhbasam on 25/01/2011
Ngày 25-1-2011

Khi Việt Nam chặn Facebook, tất cả mọi người đều nói tới một nước Trung Quốc nhỏ. Một năm sau nỗ lực đó của chính quyền, Facebook Việt Nam đã kể một câu chuyện khác. Không chỉ vẫn ở trong danh sách 10 quốc gia có tốc độ người dùng Facebook tăng nhanh nhất, Việt Nam còn là nơi mà hoạt động marketing (tiếp thị) trên Facebook đang bùng nổ, các đơn vị marketing Facebook mọc như nấm khắp Internet.
Tại sao người Việt vẫn dùng Facebook ngay cả sau khi chính phủ đã chặn mạng này? Câu trả lời rất đơn giản: Vì họ vẫn dùng được. Nếu người sử dụng ở Trung Quốc phải trả phí cho VPN và phải mất rất nhiều thời gian mới vào được Facebook cũng như các website bị chặn khác, thì người ở Việt Nam chỉ cần chuyển chế độ cài đặt DNS là có thể thưởng thức đầy đủ Internet miễn phí.
Theo FBMan, một công cụ do Nguyen Thanh Long, nhân viên marketing Công ty Công nghệ ePi, tạo ra để theo dõi quy mô và tốc độ phát triển các fanpage (trang của người hâm mộ) trên Facebook tại Việt Nam, sử dụng Facebook API, thì fanpage lớn nhất ở Việt Nam bây giờ có 484.000 người tham gia. Đối với một thị trường 1,7 triệu người dùng (và sẽ còn nhiều nữa), con số đó cho thấy fanpage nọ đã chiếm gần 30% lượng người sử dụng Facebook ở Việt Nam. Nếu hình dung tỷ lệ đó trên quy mô thế giới, chúng ta sẽ có một fanpage với 100 triệu thành viên. Fanpage nọ do s2sFacebook lập ra, đây là một công ty chuyên marketing trên Facebook. Họ cũng quản lý một loạt trang khác với số lượng fan lên tới vài trăm ngàn.
Vũ Phương Thanh, nickname là Gào, có thể xem như người Việt Nam nổi tiếng nhất trên Facebook. Nhà văn kiêm blogger (từ blogger trở thành nhà văn) này chuyển sang dùng Facebook sau khi Yahoo!360 bị đóng cửa, và bây giờ fanpage của cô có 90.000 người hâm mộ. Hiện cô đang làm việc cho một công ty tìm kiếm tài năng mà Giám đốc PR là nữ diễn viên Ngô Thanh vân. Họ đang chuẩn bị cho việc lăng xê một boyband (nhóm hát toàn nam) có tên 365. Mặc dù nhóm này chưa ra đĩa hát đầu tiên, họ đã được nhiều tờ báo cả trung ương và địa phương gọi là “ban nhạc hot nhất trên Internet”.
Gào chia sẻ, mạng xã hội Facebook và YouTube chiếm 60% nội dung kế hoạch marketing của họ. Facebook là nơi mọi người biết đến 365. Cô không muốn dùng Zing Me hay các website Việt Nam khác:
“Cứ như bơi trong cái vũng bùn. Không gian và kết nối ở đó đều quá hạn hẹp”.
Zing Me, thuộc sở hữu của VNG, là mạng xã hội lớn nhất ở Việt Nam hiện nay với 5 triệu người dùng. VNG trước kia có tên là VinaGame – một hãng cung cấp game online khổng lồ ở Việt Nam.
Vo Thanh Cuong, một 8x, Ceo của Click Media, phát biểu tại một cuộc phỏng vấn qua Yahoo! Messenger (vẫn là phần mềm chat thống trị ở Việt Nam):
“Chúng tôi đã thử vài chiến dịch trên Zing Me, nhưng kết quả không khả quan lắm. Phần lớn người dùng Zing Me dưới 15 tuổi, nhiều người trong số họ vào Zing Me chỉ để chơi Nông trại (một trò chơi tương tự như Farmville trên Facebook). Ngoài game ra, không có nhiều hoạt động khác”.
Đầu năm nay, họ tổ chức một chiến dịch marketing tại Việt Nam cho Sony Ericsson Vivaz, thuê Don Nguyễn, một diễn viên hài nổi tiếng người Việt ở Mỹ, hát nhại các bài hát Việt Nam nổi tiếng, làm thành video đưa lên Youtube. Video này, được cho là do Sony Ericsson Vivaz sản xuất, thu hút 800.000 lượt người xem. Bản thân Don Nguyen có hơn 50.000 người hâm mộ trên fanpage cá nhân. Chiến dịch gần đây nhất của Click Media là phục vụ Vietnam Idol. Họ huy động nhiều kênh, kể cả Facebook, các diễn đàn, Zing Me, Nhac Cua Tui – một website chia sẻ nhạc, Yume – mạng xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, “Facebook vẫn là kênh hiệu quả nhất mặc dù nó đã bị chặn. Hiệu quả cả về tính tương tác lẫn tỷ lệ chuyển đổi (conversion rate)”, Cuong cho biết. Nói về tỷ lệ chuyển đổi, anh có ý muốn nói tới tỷ lệ khách kích chuyển vào các website khác từ Facebook. Trong bất cứ cuộc trao đổi nào với những nhà làm marketing ở Việt Nam, Go.vn – phương án “trả đũa” của chính phủ Việt Nam với Facebook – khá là không đáng kể.
“100% khách hàng của chúng tôi là các thương hiệu quốc tế. Ở đây, mạng xã hội vẫn còn mới mẻ, các công ty không có ngân sách cho hoạt động marketing trên mạng xã hội. Nhưng tôi nghĩ từ năm tới sẽ có nhiều công ty Việt Nam hơn quan tâm đến lĩnh vực này. Các hãng quảng cáo giờ đã biết tính hiệu quả của mạng xã hội, mà họ là những người cố vấn và phân bổ ngân sách cho các thương hiệu” – Cường hy vọng.
Tuy nhiên, sau khi vượt qua hàng rào của chính phủ, các nhà marketing phải đối mặt với một trở ngại khác, lần này là từ chính Facebook. Đó là một chính sách của Facebook, block quyền xuất bản các trang cộng đồng lớn “do vi phạm điều khoản sử dụng của Trang Facebook”.
“Chuyện này xảy ra thường xuyên hồi chúng tôi mới bắt đầu: Cứ khi nào một trang đạt con số 10000 fan là Facebook lại block”, Cường thổ lộ. “Nhưng giờ thì ổn rồi. Chúng tôi đã thiết lập quan hệ độc quyền với Facebook SEA”.
Tôi có thể hình dung anh đang nháy mắt trước màn hình laptop ở đầu kia, trên màn hình đó, một trang Facebook đang mở.
Đối với những người không thích sự độc quyền ấy thì việc họ phải làm là tạo ra một trang mới giống như Gào đã làm với fanpage của 365. “Dùng Facebook, tính rủi ro rất cao”, cô nói. “Nhưng một khi người ta đã biết đến bạn rồi thì họ sẽ theo bạn dù bạn đi bất cứ đâu. Với 365 là vậy”. Fanpage mới của 365, 365daband, có hơn 7000 người hâm mộ sau 3 tuần.
Dù thế nào, các nhà marketing ở Việt Nam vẫn có cái để hy vọng. Tháng 10 năm trước, Facebook đăng một message trên Trang Việc Làm (Career Page) của họ, nói rằng họ đang tìm kiếm một ứng viên có
“kinh nghiệm trong công việc giao tế cho chính quyền và giao dịch với các cơ quan chính quyền, cùng mạng lưới quan hệ thật rộng trong chính phủ và môi trường công nghệ”.
Chuyến thăm Việt Nam gần đây của Javier Olivan, người đứng đầu bộ phận International Growth của Facebook, cho thấy Việt Nam sẽ sớm được quan tâm. “Họ nên làm thế”, Cuong nói. “Việt Nam là một thị trường không hề nhỏ”. Với dân số 90 triệu và tốc độ lan tỏa của Internet là 27,5%, Việt Nam dứt khoát là không nhỏ.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng bởi anhbasam on 24/01/2011The Age
Securency “đã hối lộ thống đốc ngân hàng”
Ngày 24-1-2011
Công ty Securency, đơn vị sản xuất tiền của Ngân hàng Trung ương Australia (RBA), bị cho là đã hối lộ cựu thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy thông qua việc chi tiền cho con trai ông Thúy du học tại một trường đại học dành riêng ở Anh. Thỏa thuận này là một trong những khoản tiền lót tay màu mỡ mà Securency bơm cho quan chức Việt Nam, đổi lấy một hợp đồng theo đó Việt Nam in tiền bằng chất liệu tổng hợp do Securency cung cấp.
Khoản tiền bị coi là hối lộ đó đã giúp Securency giành những hợp đồng khổng lồ cung cấp tiền giấy cho Việt Nam, từ năm 2002 đến năm 2009.
Vụ việc xảy ra ngay dưới mũi các thành viên Hội đồng Quản trị của Securency do RBA bổ nhiệm. Những người này đã để cho Securency tham gia các vụ hối lộ thông qua việc gửi những khoản hoa hồng hàng triệu đôla vào các tài khoản nước ngoài của những nhân vật trung gian, là những người được thuê để giành hợp đồng từ quan chức nước ngoài.
Không ai trong số các cựu giám đốc người Australia của Securency bị quy trách nhiệm về việc Hội đồng Quản trị Securency đã không ngăn cản công ty tham gia hối lộ.
Những tình tiết mới hé lộ này sẽ làm tăng áp lực đối với Cảnh sát Liên bang Australia, buộc họ phải truy tố các quan chức của Securency đứng sau những thỏa thuận với phía Việt Nam, trong một vụ việc sẽ là vụ truy tố đầu tiên ở Australia về tội tham nhũng có yếu tố nước ngoài.
Các nguồn tư pháp xác nhận với The Age rằng tiền của Securency đã được dùng để trả học phí đại học cho một người con của ông Lê Đức Thúy – thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2007.
Ông Thúy hiện vẫn là một quan chức đầy quyền lực, nắm giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Ông đã dành cho Securency nhiều hợp đồng trị giá hàng chục triệu đôla. Trước khi trở thành thống đốc ngân hàng, ông là trợ lý của nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười.
Các nguồn tin cho hay, năm 2010, Cảnh sát Liên bang Australia (AFP) đã thẩm vấn một số nhân viên cấp cao của Securency về khoản học phí nọ. Người ta hiểu rằng Securency đã sử dụng một quỹ bí mật để trả hàng chục nghìn đôla cho con trai ông Thúy du học tại trường Durham, Anh quốc. Quỹ đen này được lập ra từ một phần trong số 15 triệu đôla tiền hoa hồng Securency trả cho nhân viên trung gian người Việt, Lương Ngọc Anh, để đổi lấy các hợp đồng cho công ty.
Theo sự hướng dẫn của ông Lương Ngọc Anh, Securency trả tiền hoa hồng vào các tài khoản ngân hàng, trong đó có một tài khoản ở Thụy Sĩ và một ở Hong Kong. Securency cũng trả một tỷ lệ lớn trong những khoản hoa hồng này cho ông Lương, người được coi là quan chức Việt Nam, mà không có một khoản “bảo hiểm” chống hối lộ nào, cũng không để lại bằng chứng cho thấy người nhận tiền đã làm những việc xứng đáng để được lấy tiền.
Theo xác nhận của các nguồn pháp lý với The Age, Cảnh sát Liên bang Australia ngờ rằng tiền hoa hồng đã được chuyển cho các quan chức Việt Nam hoặc thân nhân, họ hàng của họ để đánh lạc hướng. Các nguồn này cũng cho hay giới quan chức điều hành cấp cao của Securency đã phủ nhận riêng với cơ quan điều tra chuyện họ có liên quan trực tiếp đến việc hối lộ, kể cả chuyện trả học phí cho con ông Thúy.
Theo luật chống tham nhũng của Australia, việc làm lợi cho quan chức nước ngoài để giành được lợi thế trong kinh doanh bị coi là bất hợp pháp. Một công ty có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý khi nhân viên ở nước ngoài của họ dính líu vào hối lộ. Hội đồng Quản trị của Securency, mà một nửa trong đó là người của RBA, đã phê chuẩn những khoản tiền hoa hồng hàng triệu đô cho nhân viên trung gian người Việt (Lương Ngọc Anh).
Thống đốc của RBA và Bộ trưởng Tài chính Liên bang đã từ chối ra lệnh điều tra xem có phải Hội đồng Quản trị của Securency, hoặc chính RBA, đã không có các biện pháp thích đáng để ngăn công ty Securency tham gia vào hối lộ hay không.
—-
Ngân hàng Trung ương Australia phải điều tra Ban Quản trị Securency
Ngày 24-1-2011

Đã đến lúc Thống đốc Ngân hàng Trung ương Australia (RBA) chấm dứt ngồi khoanh tay.
Nếu các ủy ban hoàng gia về chống tham nhũng trong các định chế ở Australia đã dạy được cho chúng ta điều gì, thì đó là: giám sát tồi có thể cho phép tham nhũng bùng nổ.

Hiện tại các lực lượng an ninh trên toàn quốc (Australia) đã thừa nhận rằng, có thể thấy giám sát tồi cũng mập mờ như hành vi tham nhũng mà nó cho phép nảy sinh. Nhiều sĩ quan bây giờ đã công nhận là nếu một viên cảnh sát riêng lẻ tha hóa dưới sự giám sát của lực lượng, thì bản thân họ cũng sẽ như cá nằm trên thớt. Cho nên họ phải tăng cường kiểm soát.
Lĩnh vực nào càng có xu hướng tham nhũng, lĩnh vực ấy càng cần được giám sát. Nhân viên công vụ nào điều tra những khu vực “đèn đỏ” (tức là khu vực có khả năng tham nhũng cao – ND) – chẳng hạn khu Kings Cross ở Sydney – càng phải được theo dõi thêm, thật chặt chẽ .
Ngày càng nhiều doanh nghiệp Australia thừa nhận là những quy tắc tương tự cũng cần được áp dụng cho giới giám đốc công ty. Tuy nhiên, thực tế không phải luôn như vậy.
Lấy ví dụ như các vị giám đốc của công ty sản xuất tiền Securency thuộc RBA. Công ty Securency này đã bị lôi kéo sâu vào một scandal hối lộ tầm cỡ quốc tế.
Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, các giám đốc của Securency – do RBA chỉ định – đã lãnh đạo một công ty, vốn là một hãng kinh doanh quốc tế, tương tự như nhân viên công vụ điều tra ở khu vực Kings Cross kia. Nhưng mọi nỗ lực của Hội đồng Quản trị Securency – nhằm đảm bảo công ty không dùng biện pháp hối lộ để giành hợp đồng – gần như chẳng có gì ngoài việc nghe các nhà quản lý cao cấp diễn thuyết (những người mà từ bấy đến nay cũng đã bị sa thải vì che giấu hành vi tham ô) và đặt niềm tin vào kết quả kiểm toán hời hợt bề ngoài.
Securency kiếm được các hợp đồng tại một số trong những quốc gia tham nhũng nhất thế giới. Cái kiểu làm kinh doanh của họ là kiểu kích thích tham nhũng.
Công ty đã thuê nhiều nhân viên trung gian, môi giới mà không hề kiểm tra lý lịch của họ một cách thích đáng. Nhiệm vụ của những kẻ trung gian này là thuyết phục các quan chức ngoại quốc dành hợp đồng cho Securency. Để làm được điều ấy, Securency đã trả hàng triệu đôla tiền hoa hồng vào các tài khoản ở nước ngoài của đám nhân viên trung gian.
Nghe có mạo hiểm không? Có, vì bản chất của việc này là mạo hiểm. Những nhân viên trung gian thường là bạn bè hoặc họ hàng, thân nhân của các quan chức ngoại quốc đó. Trong một vụ việc nọ, kẻ trung gian còn là quan chức chính phủ. Theo luật Australia, đưa cho một quan chức nước ngoài, hay thậm chí đại diện hoặc họ hàng của người đó, dù chỉ một đôla, cũng có nguy cơ vi phạm luật chống tham nhũng. Cảnh sát Liên bang Australia ngờ rằng, đó chính xác là điều mà một số nhân viên trung gian của Securency đã làm.
Tháng 11 năm ngoái, Thống đốc RBA Glenn Stevens đã bị dân biểu đảng Tự do Steven Ciobo chất vấn tại Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Liên bang, về hoạt động giám sát của các nhân vật do RBA bổ nhiệm vào Ban Quản trị Securency.
Stevens đáp rằng ông chưa nhận được bằng chứng nào cho thấy “các giám đốc mà chúng tôi bổ nhiệm hay vị chủ tịch mà chúng tôi chỉ định đã có hành xử không thích hợp, tại bất cứ thời điểm nào”. Thật không? Cũng chính những giám đốc đó đã tán thành cái mô hình kinh doanh “đổi hoa hồng lấy hợp đồng” đầy mạo hiểm, mà không hề đảm bảo rằng công ty đã triển khai thích hợp các biện pháp phòng vệ tham nhũng. Họ cũng nhiều lần liên tiếp bỏ quên các dấu hiệu cảnh báo về những điều bất ổn ở Securency.
Sau đây là một số dấu hiệu cảnh báo như vậy: Khoảng 4 năm về trước, Securency bị báo chí Việt Nam buộc tội đã thuê con trai của thống đốc Ngân hàng Trung ương Việt Nam vận động ông bố ký hợp đồng in tiền với công ty. Như The Age hôm nay (24-1) đưa tin, những lời buộc tội này chỉ là phần đỉnh của tảng băng chìm khi ta nói tới các hợp đồng có tính chất tham ô, tham nhũng của công ty ở Việt Nam. Nhưng khi tham nhũng xuất hiện, nó cũng chẳng làm cho Ban Quản trị của Securency có hành động nào có ý nghĩa. Cảnh báo số 2 liên quan đến các mối lo ngại trong nội bộ RBA, từ năm 2007, rằng một số nhân viên môi giới đang nhận tiền hoa hồng từ Securency và công ty anh em của nó, Note Printing Australia (Công ty In tiền Úc), và họ kiếm tiền ấy theo một cung cách đáng nghi vấn.
Giải pháp ư? Note Printing Australia đã giải tán hệ thống trung gian, nhưng Ban Quản trị của Securency vẫn cho phép công ty giữ lại các nhân viên môi giới của nó.
Sau đó đã có những khoản thanh toán hàng triệu đôla mà Securency gửi vào các công ty “làm vì” ở quần đảo Bahamas, đảo Man và quần đảo Seychelles. Liệu Ban Quản trị, được biết về những khoản chi này, có hành động gì không?
Kỳ lạ thay, ngay cả sau khi cảnh sát liên bang bắt đầu điều tra Securency, vào năm 2009, Ban Quản trị vẫn cho phép công ty tiếp tục chi thêm một số nữa trong những khoản chi chỉ phải trả thuế rất thấp này. Đây là điểm mà ông Stevens đã bị chất vấn tại Ủy ban của Quốc hội.
Dân biểu Ciobo hỏi ông Stevens, tại sao Hội đồng Quản trị Securency lại cho phép công ty trả 7,25 triệu đôla Úc cho một công ty dạng “mở ra để làm vì” ở quần đảo Seychelles ngay khi cảnh sát liên bang còn đang điều tra xem các khoản đó có phải được dùng vào mục đích hối lộ không (bây giờ dường như mối nghi ngờ lúc đó của cảnh sát là chính xác).
Stevens đáp rằng “Seychelles, như tôi biết, nằm trong danh sách các nước OECD (tức các nước phát triển, thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế – ND), nơi mà việc thanh toán như vậy là được phép”, và Securency chỉ đơn giản là đã thực thi “các điều khoản trong hợp đồng” khi họ chi tiền.
“Tôi không nghĩ công ty Securency thấy họ có cơ sở nào để ra quyết định [dừng việc chi trả tiền]” – Stevens nói.
Các quy định căn bản về chống tham nhũng nêu rõ rằng việc thanh toán chỉ có thể được tiến hành đối với các cấu trúc kinh doanh không minh bạch ở nước ngoài trong các trường hợp có những lý do rất xác đáng. Securency chưa bao giờ có được một lý do nào như thế.
Việc Ban Quản trị Securency liên tiếp không hành động gì đã đẩy RBA vào cái thế trở thành tuyến đầu và trung tâm trong một cuộc điều tra tham nhũng quy mô quốc tế. Nếu Stevens nghiêm túc đi đến tận cùng của đám bòng bong này, ông hẳn đã chỉ định một chuyên gia để điều tra và công bố công khai về việc Ban Quản trị Securency đã có vai trò chỉ đạo như thế nào trong vụ việc đang là scandal doanh nghiệp tồi tệ nhất ở Australia. Cuộc điều tra này sẽ phải được tiến hành độc lập với cảnh sát và theo một cách không dính dáng gì tới cảnh sát.
Thay vì thế, Stevens có vẻ như đã quyết định làm theo sự lãnh đạo của Hội đồng Quản trị Securency – chẳng làm gì cả.
Nick McKenzie và Richard Baker là phóng viên điều tra của tờ The Age.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét