Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011

Nguy cơ lạm phát tăng,
Việt Nam nâng lãi suất lần thứ hai trong một tuần
Đăng bởi 357. Anhbasam  on 22/02/2011
Ngày 22-2-2011
  Ngân hàng Trung ương của Việt Nam đã tăng lãi suất tái chiết khấu, lần tăng thứ hai trong vòng không đầy một tuần, trong khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị ban hành chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt hơn.
Hôm nay (22-2), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng lãi suất mà họ áp dụng đối với các ngân hàng thương mại trong nghiệp vụ thị trường mở hàng ngày, từ 11% lên mức 12% trong không đầy bảy ngày. Phó Thống đốc Nguyễn Toàn Thắng trả lời như vậy tại một cuộc phỏng vấn qua điện thoại, từ Hà Nội. Cố vấn Thủ tướng, ông Lê Xuân Nghĩa, cho hay, vào ngày mai 23-2, Thủ tướng Dũng sẽ ký một quyết định hướng dẫn ngân hàng trung ương và các bộ kiềm chế lạm phát bằng chính sách tiền tệ thắt chặt.
Việt Nam đang chịu áp lực phải kiềm chế lạm phát, mà theo dự kiến sẽ tăng tốc thêm từ một mức cao kéo dài suốt 23 tháng qua, khi mà giá điện tăng và bốn lần phá giá tiền tệ trong vòng 15 tháng đã đẩy chi phí nhập khẩu lên cao. Tuần trước, Việt Nam đã tăng tỷ lệ lãi suất tái cấp vốn thêm 2 điểm phần trăm, để lên mức 11%, hòa cùng Thái Lan và Trung Quốc trong việc thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.
“Nếu áp lực lạm phát không sớm được kiềm chế, cuối cùng nó sẽ rót cả vào tiền lương, tiền công, và vào giá cả hàng hóa, ảnh hưởng tới sức cạnh tranh tổng thể của hàng xuất khẩu Việt Nam” – Deepak Mishra, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, nói trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại từ Hà Nội, hôm qua. “Chúng tôi vẫn lo ngại rằng tỷ lệ lạm phát nói chung là cao”.
Qua điện thoại, ông Nghĩa cho biết Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ phê chuẩn việc hạ thấp mục tiêu tăng trưởng tín dụng của năm nay, từ mức 23% xuống còn 20%. Theo ông Nghĩa, sẽ có một loạt chỉ thị lớn; hy vọng các bộ và ngân hàng trung ương sẽ thực hiện được các biện pháp chi tiết để triển khai những chỉ thị đó. Ông Nghĩa hiện là Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
Chứng khoán suy sụp
“Mặc dù các quy định liên quan tới luật mới về Ngân hàng Nhà nước chưa được ban hành, nhưng chúng tôi biết rằng lãi suất cơ bản sẽ bớt dần vai trò làm điểm chuẩn cho chính sách tiền tệ, mà sự chú ý sẽ chuyển sang tập trung vào một trong những loại lãi suất chính sách khác, nhiều khả năng nhất là lãi suất repo, hoặc có lẽ là lãi suất tái cấp vốn” –Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế tại Việt Nam, phát biểu hôm qua.
Hôm nay cổ phiếu trên thị trường đã sụt giá, với chỉ số chuẩn VN Index trong vòng hai ngày rơi xuống tới mức thấp nhất suốt 15 tháng qua; trong khi đó, do lo sợ lạm phát gia tăng, ngân hàng trung ương sẽ buộc phải tiếp tục tăng lãi suất.
“Việc tăng đột ngột lãi suất tái cấp vốn, giá điện, và có thể tăng cả giá xăng nữa, sẽ làm tăng thêm chi phí đối với các doanh nghiệp và ảnh hưởng tới sản xuất” – Hoang Thach Lan, một nhà phân tích ở TP.HCM, lãnh đạo một đơn vị môi giới ở công ty chứng khoán MHB trực thuộc Ngân hàng Nhà đất Mekong, cho biết. “Tất cả những điều này cho thấy chính phủ đã bắt đầu theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt và do đó sẽ làm tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại”.
Hỗn hợp độc tố
Chỉ số VN Index trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM giảm 2,8% xuống còn 470,02 điểm vào phiên đóng cửa lúc 11 giờ trưa. Hôm qua, mức giảm là 4%. Cộng hai lần giảm này lại thì, kể từ tháng 11/2009, đây là lần sụt điểm nặng nề nhất trong vòng hai ngày. Giá cổ phiếu của công ty cổ phần HAGL – công ty lớn thứ hai trong nước được niêm yết trên thị trường chứng khoán – giảm 2% trong khi Bảo Việt – đơn vị kinh doanh bảo hiểm lớn nhất tính theo giá trị – giảm 5%, là mức giới hạn của ngày.
Thị trường xuống dốc mau chóng “vì một hỗn hợp độc tố bao gồm phá giá tiền tệ, lạm phát cao, và sức ì của chính phủ, cái mà ai cũng cảm nhận thấy” – Michel Tosto, giám đốc bán hàng và môi giới ở công ty chứng khoán Viet Capital (TP.HCM), viết trong email. “Thị trường cần những phản ứng rõ ràng và mạnh mẽ, nhưng chúng ta lại không có được điều này vào thời điểm hiện nay”.
Năm 2010, Việt Nam chịu thâm hụt thương mại 12,4 tỷ USD. Ngân hàng Nhà nước vào ngày 11/2 đã phá giá tiền tệ 7%, một mức cao kỷ lục, ít nhất là từ năm 1993 tới nay, để ngăn chặn lỗ hổng thương mại của đất nước và thu hẹp chênh lệch tỷ giá hối đoái giữa thị trường chính thức và chợ đen.
Ảnh hưởng của phá giá
Hôm qua, bộ phận Dịch vụ Đầu tư của Moody’s cho biết, việc Việt Nam phá giá tiền tệ chắc chắn sẽ làm giảm chất lượng tài sản và vốn của ngân hàng, bởi chi phí nhập khẩu cao hơn sẽ hạ thấp khả năng thanh toán nợ của người đi vay.
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam chạm mức 12,17% hồi tháng trước, cao nhất kể từ tháng 2/2009. Mục tiêu của chính phủ – giữ lạm phát ở mức 7% hoặc thấp hơn trong năm nay – sẽ khó thực hiện. Tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra hôm nay viết như vậy, trích dẫn lời ông Nguyễn Tiến Thỏa, người phụ trách bộ phận quản lý giá cả tại Bộ Tài chính. Còn theo mạng VnEconomy, suốt tháng 2, lạm phát tăng tốc trên cả hai đô thị lớn là Hà Nội và TP.HCM.
Giá điện sẽ tăng trung bình 15,3%, bắt đầu từ ngày 1/3 tới, theo lời Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng nói hôm qua.
Bất ổn kinh tế
“Các nhà đầu tư đang bán cổ phiếu do lo sợ lạm phát tăng tốc rồi sẽ dẫn đến bất ổn vĩ mô” – ông Giang Trung Kiên, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu ở công ty cổ phần chứng khoán FPT, nói qua điện thoại. Theo ông Kiên, Chính phủ có thể tăng lãi suất để rút tiền khỏi lưu thông, và điều đó ảnh hưởng xấu đến dòng tiền mặt chảy vào thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư cũng có thể sẽ thấy việc mượn tiền từ ngân hàng để đầu tư vào chứng khoán là không còn hấp dẫn nữa.
IMF đã kêu gọi Việt Nam “tập trung một cách quyết liệt hơn” vào kiềm chế lạm phát, và bộ phận Dịch vụ Đầu tư của Moody’s cũng như Standard & Poor’s đã hạ điểm tín dụng quốc gia của Việt Nam hồi tháng 12 vừa qua.
Ông Lê Xuân Nghĩa cho hay nội dung căn bản của các chỉ thị của Thủ tướng đã được thảo luận từ hồi tháng 12 tại các cuộc họp tìm giải pháp đối phó với nỗi lo ngại của giới đầu tư quốc tế về ổn định vĩ mô.
Theo một quan chức cao cấp của Ngân hàng Trung ương (từ chối nêu tên vì thông tin chưa được công bố), Ngân hàng Trung ương sẽ tiếp tục đưa ra các bước cụ thể để thực hiện nghị quyết của Thủ tướng trong “những ngày tới”, sau khi chỉ thị được ban hành vào tuần này. Vị quan chức cho biết, kế hoạch sẽ bao gồm các biện pháp nhằm quản lý lãi suất và tỷ giá hối đoái một cách linh hoạt hơn, phù hợp với lãi suất thị trường.
Người dịch: Thủy Trúc

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

356. NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI ĐCS TRUNG QUỐC

Đăng bởi anhbasam on 22/02/2011
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Ba, ngày 22/2/2011
TTXVN (Hồng Công 16/2)
Báo Hồng Công “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” ngày 15/2 đăng bài viết của Borje Ljunggren, từng là đại sứ Thuỵ Điển tại Trung Quốc gia đoạn 2002-2006. Theo tác giả, xã hội mạng đang phát triển nhanh chóng ở Trung Quốc có thể trở thành thách thức lớn nhất với chế độ cầm quyền của Đảng Cộng sản. Dưới đây là nội dung bài viết:
Sự kiện làm rung chuyển thế giới mới xảy ra ở Ai Cập là một cảnh báo gửi tới Trung Quốc, phác hoạ một thách thức mà thế hệ  lãnh đạo tiếp theo ở Bắc Kinh có thể phải đối mặt.
Trung Quốc trong tương lai gần có nhiều thách thức, từ tái cân bằng kinh tế, thu hẹp khoảng cách thành thị – nông thôn, đối phó với biển đổi khí hậu, thích ứng với sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu… Nhưng lớn nhất có thể là những tác động mang tính dài hạn của mối quan hệ ngày càng phức tạp giữa nhà nước do Đảng Cộng sản nắm quyền với xã hội dân sự, mà các kênh thông tin mạng sẽ là một động lực chính.
Theo nhiều nhà quan sát, sự phát triển mang tính hiện tượng của xã hội mạng Trung Quốc cho đến giờ đang có lợi cho Đảng Cộng sản hơn là cho xã hội dân sự. Trung Quốc đã trở thành một quốc gia chuyên quyền có mạng lưới mà trong đó Đảng Cộng sản giám sát, kiểm soát dư luận xã hội bằng những nguồn lực không hạn chế.
Vấn đề này đã trở thành đề tài cho khá nhiều cuốn sách trong thời gian gần đây mà có thể kể ra những cuốn xuất sắc như “Sức mạnh Internet ở Trung Quốc” của Guobin Yang, “Sau Internet, trước Dân chủ-Các tiêu chuẩn cạnh tranh trong truyền thông và xã hội Trung Quốc” của Johan Lagerkvist hay “Truyền thông đang thay đổi, Trung Quốc đang thay đổi” của Sussan Shirk.
Kể từ năm 2004, hết vụ này đến vụ khác, Internet đã làm thay đổi đáng kể chiều hướng của sự kiện, buộc Đảng Cộng sản phải vận động giữa phản ứng đáp lại và ngăn chặn. Lấy trường hợp đình đám vừa qua liên quan đến Li Gang, một quan chức cảnh sát, làm ví dụ. Con trai của Li Gang lái xe trong tình trạng say rượu, đâm chết một nữ sinh và khi bị chặn lại đã khoe khoang: “Dám thì lập biên bản đi. Bố tao là Li Gang”. Ngay sau đó, tuyên bố ấy đã lan khắp các blog và mạng tin Trung Quốc, trở thành một cột mốc trong lịch sử Internet nước này. Việc xét xử con trai Li Gang thành việc không thể tránh khỏi và cuối tháng 1/2011, đối tượng này bị kết án 6 năm tù.
Một vụ khác ít nhận được sự chú ý của quốc tế hơn nhưng cũng minh hoạ rõ cho tầm quan trọng ngày càng lớn của dự luận mạng tại Trung Quốc. Tháng 9/2010, chính quyền chuẩn bị cường chế phá dỡ nhà của chị ẹm họ Zhong tại tỉnh Giang Tây. Một trong hai chị em cùng mẹ và người chú đã tự thiêu phản đối. Người chú qua đời vì vết thương quá nặng. Khi hai chị em chuẩn bị lên máy bay tới Bắc Kinh để kể câu chuyện của mình cho một chương trình truyền hình, quan chức địa phương đe doạ họ tại sân bay. Người em trốn vào một góc, gọi điện cho một phóng viên. Chỉ vài phút, câu chuyện của họ xuất hiện trên “tiểu” blog của cổng thông tin sina.com và nhanh chóng lan khắp cả nước. Một bức ảnh chụp một cô gái bị bỏng nặng nề ngồi trong lòng người chị em của mình đã giành giải cao nhất của ảnh báo chí Trung Quốc năm 2010.
Chính quyền địa phương không còn lựa chọn nào khác, buộc phải đối thoại với gia đình chị em họ Zhong. Tám quan chức đang nằm trong diện điều tra. Câu chuyện này cũng là một cột mốc đáng nhớ trong lịch sử Internet Trung Quốc. Các “tiểu” blog giờ trở thành nơi đăng tải các quan điểm chỉ trích về tham nhũng và bất công xã hội, với hàng triệu thông điệp được đăng tải mỗi ngày.
Hai vụ trên là một phần trong sự phát triển đầy ấn tượng của truyền thông ở Trung Quốc. Các cuốn sách của Lagerkvist và Shirk cung cấp một khung phân tích, thông tin phong phú về sự lớn mạnh của công nghiệp truyền thông Trung Quốc cũng như cách thức mà chính quyền cố gắng đối phó lại. Lagerkvist tập trung vào Internet trong khi Shirk có cách tiếp cận rộng hơn về truyền thông nói chung. Cả hai cuốn sách có chung nhận xét rằng Internet đang cấu thành nguy cơ truyền thông tiềm năng nhất mà Đảng Cộng sản phải đối mặt.
Thống kê về sự mở rộng bùng nổ của truyền thông ở Trung Quốc là thật khó tin: hơn 400 triệu người sử dụng Internet, 220 triệu blog, 800 triệu thuê bao điện thoại di động, hơn 2.000 tờ báo và 9.000 tạp chí, khoảng 2.200 đài truyền hình. Tất cả ngày càng được thương mại hoá: Tuy nhiên, Đảng Cộng sản vẫn đang kiểm soát. Xét về định tính, cả Lagerkvist và Shirk đều cho là đang có những thách thức ngày càng mạnh đối với chính quyền, cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tiêu chuẩn xã hội cũ với các tiêu chuẩn đang nổi lên.
Tuy nhiên, Lagerkvist bày tỏ lo ngại về quy mô, mức độ mà theo tác giả, các nhà phân tích phương Tây về Trung Quốc quá bị ảnh hưởng bởi những mơ tưởng. Theo Lagerkvist, Chính phủ Trung Quốc “vẫn rất vững mạnh, tự tin và có thể chống đỡ được bất ổn trong ngắn hạn”, “biến Internet thành lợi thế của họ”. Song, tác giả này cũng cho rằng “đang có sự xói mòn quyền lực của chế độ Đảng Cộng sản cầm quyền đối với xã hội dân sự”, với chủ nghĩa tích cực ngày càng lớn mạnh, sự hình thành của các giá trị, tiêu chuẩn xã hội mới cả trên mạng lẫn ngoài đời thực.
Lagerkvist phân tích rằng có cả sự biến đổi trong nội bộ Đảng Cộng sản giữa các quan chức khi chính họ cũng dành nhiều thời gian lên Internet sau giờ làm việc. Họ cũng là các “công dân mạng” và các tiêu chuẩn của họ cũng đang thay đổi. Tác giả bài viết: “Cú đánh chót vào chế độ kiểm duyệt rộng rãi của chính quyền này sẽ xảy ra khi chính những người thực hiện này dễ bị tác động hơn bởi các vấn đề tự do cá nhân, tính riêng tư trên mạng cũng như nhu cầu, đòi hỏi về sự phổ biến tự do hơn thông tin và ý kiến”. Kiểm duyệt là một phần cơ bản của chính quyền và vẫn sẽ là một vũ khí quan trọng, nhưng cách sử dụng của nó đang ngày càng bị phơi bày khi xã hội mạng Trung Quốc nhận thức hơn về quy mô mà các lợi ích gắn chặt của Đảng Cộng sản quyết định việc tiếp cận thông tin của dư luận. Hệ quả là ý tưởng về “quyền được biết” đang định hình trong xã hội mạng Trung Quốc và điều đó có thể trở thành lời hiệu triệu cho cuộc cách mạng tiếp theo ở nước này.
Trong khi khái niệm tự do Internet rõ ràng sẽ không được công bố, xã hội dân sự và công nghệ mới cùng với thời gian sẽ đẩy các giới hạn vượt ngoài ranh giới của nhà nước. Một điểm sống còn sẽ là khi các yêu cầu về thay đổi ngoài đời thực đủ lớn mạnh dẫn tới sự thay đổi cuộc chơi. Kiểm soát của đảng có thể bị “mất”, bị thử thách. Nhưng nó sẽ không dẫn đến đổ vỡ. Thế hệ lãnh đạo thứ 5 sắp tiếp quản từ năm tới ở Trung Quốc được cho là sẽ cố áp đặt các hình thức mang tính thảo luận hơn của chủ nghĩa chuyên chế cũng như các kết hợp mới giữa ngăn chặn và phản ứng đáp lại khi họ tìm cách duy trì độc quyền trong một xã hội mà thay đổi đang diễn ra nhanh hơn thay đổi trong đảng.
*
*        *
Mấy năm lại đây, một số địa phương ở Trung Quốc đã xảy ra nhiều sự kiện bùng phát với sự tham gia của đông người, có sự kiện kéo theo sự phá hoại, có sự kiện được giới truyền thông làm cho ầm ĩ, khiến nhiều ngành liên quan lâm vào thế bị động. Việc này, theo Giáo sư Tống Huệ Xương thuộc Trường Đảng Trung ương Trung Quốc, cho thấy chính quyền một số địa phương đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội và đòi hỏi phải có sự tổng kết tìm ra nguyên nhân, thực chất của vấn đề để rút ra bài học kinh nghiệm.
Trong bài phân tích đăng trên Thời báo Học tập của Trường Đảng Trung ương Trung Quốc số ra ngày 24/1, Giáo sư Tống Huệ Xương cho biết điểm qua một số sự kiện bùng phát với sự tham gia của đông người ở Trung Quốc, người ta có thể nhận thấy một đặc điểm chung là trong sự kiện đó người dân và chính quyền địa phương đã xuất hiện sự đối lập. Bản chất của sự đối lập này là người dân hoài nghi kết luận liên quan mà chính quyền công khai tuyên bố, thậm chí còn cho rằng đó là trò lừa bịp dư luận. Nói một cách khác, trong sự kiện đó, người dân đã mất đi sự tín nhiệm cơ bản vào chính quyền. Một cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội như vậy thông thường sẽ gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, nghiêm trọng hơn là kéo theo hành động phá hoại của đông người. Trong bối cảnh Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng xã hội chủ nghĩa và xã hội hài hoà, việc để xảy ra khủng hoảng tín nhiệm xã hội nghiêm trọng kiểu này rất đáng để suy ngẫm.
Vậy tại sao “chính quyền của dân” lại không nhận được sự tín nhiệm của người dân? Về mặt lôgíc, nguyên nhân sâu xa chỉ có thể là trên thực tế người dân không còn coi chính quyền nơi đó là chính quyền của mình. Nói một cách khác, trong mắt một bộ phận quần chúng nhân dân, chính quyền nơi đó không đại diện cho lợi ích của họ, không thể hiện được ý chí của họ. Nhưng một kết luận như vậy không phù hợp với chế độ chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc.
Căn nguyên của vấn đề rốt cuộc nằm ở chỗ nào? Phân tích các sự kiện bùng phát với sự tham gia của đông người ở Trung Quốc, người ta có thể thấy sở dĩ chính quyền địa phương để xảy ra khủng hoảng tín nhiệm xã hội là do một bộ phận nhân viên công tác của chính quyền đó thiếu ý thức chính trị dân chủ chủ nghĩa xã hội cơ bản. Nội dung cốt lõi của ý thức chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa là việc người dân được làm chủ. Với hàm ý này, chính quyền của dân phải là chính quyền do người dân làm chủ. Nhưng quan chức chính quyền một số địa phương ở Trung Quốc lại cấu kết với các nhà kinh doanh để lợi dụng lẫn nhau, tranh giành lợi ích của nhân dân. Một chính quyền như vậy, người dân đương nhiên không thể chấp nhận, không thể tin tưởng được. Đây chính là nguồn gốc sâu xa nhất gây ra cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội ở một số địa phương tại Trung Quốc.
Mâu thuẫn xã hội kiểu này cho thấy nguồn gốc sâu xa nhất gây ra cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội của chính quyền địa phương là một vấn đề mang tính kĩ thuật. Cho nên, việc hoá giải mâu thuẫn xã hội bằng một kĩ xảo nào đó tuy không thể nói là không mang lại tác dụng gì, nhưng chắc chắn không phải là lối thoát của vấn đề. Kho tàng kinh nghiệm mách bảo rằng về mặt quan niệm, việc để cho khái niệm “do nhân dân làm chủ” thay thế khái niệm “vì nhân dân làm chủ”, xây dựng ý thức chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự và quán triệt vào trong thực tiễn mới là lối thoát cơ bản giúp giải quyết cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội của chính quyền một số địa phương ở Trung Quốc hiện nay. Đạo lý xem ra rất đơn giản: nhân dân không thể không tin tưởng vào một chính quyền thực sự do mình làm chủ.
Từ một số sự kiện bùng phát với sự tham gia của đông người ở Trung Quốc, người ta còn thấy một nguyên nhân quan trọng khác gây ra cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội nghiêm trọng, đó là việc người dân thiếu sự hiểu biết đối với các thông tin của chính quyền. Rõ ràng, không có thông tin cơ bản, chính quyền sẽ trở thành một cái gì đó “thần bí” trong mắt người dân và đương nhiên họ không thể tín nhiệm chính quyền đó được. Thực tiễn chứng minh mức độ công khai về thông tin tỉ lệ thuận với mức độ tín nhiệm xã hội của chính quyền.
Cần thừa nhận một thực tế rằng cùng với sự phát triển của chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, mức độ công khai về thông tin của chính quyền ngày càng cao. Năm 2008, Điều lệ Công khai thông tin Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chính thức có hiệu lực. Mấy năm lại đây, các cơ quan đảng, chính quyền ở Trung Quốc đã thiết lập chế độ người phát ngôn. Tất cả những việc đó đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình dân chủ tại Trung Quốc. Nhưng ở chính quyền một số địa phương, việc người dân trên thực tế chưa trở thành chủ nhân sử dụng thông tin của chính quyền có quan hệ chặt chẽ với vấn đề người dân không được làm chủ một cách thực sự. Ở khía cạnh này, sự nghiêm trọng nằm ở chỗ có chính quyền địa phương ngang nhiên làm ngược lại quyết định của trung ương, tìm mọi cách bưng bít thông tin hoặc chơi trò “đối đáp ngoại giao” bẩn thỉu để lừa gạt dư luận xã hội. Tuy nhiên, trong thời đại thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, những thủ đoạn như vậy không thể giấu giếm được lâu. Một khi chân tướng bị bại lộ, người dân sẽ tức giận như thế nào, không cần nói ai cũng có thể biết được.
Trong nền chính trị dân chủ, việc người dân có thể biết và có được những thông tin cần thiết về chính quyền là cơ sở để chính quyền tạo dựng tín nhiệm xã hội. Vấn đề cốt lõi trong quá trình đó là người dân phải trở thành chủ thể sử dụng thông tin. Thực tế chứng minh sự tín nhiệm của người dân đối với chính quyền thực chất là sự tin tưởng chắc chắn đối với tính chân thực của những gì mà họ đã phán đoán. Do đó, người dân có quyền có được thông tin qua các kênh khác nhau bằng con đường hợp pháp, đưa ra phán đoán độc lập của bản thân về tính chất sự kiện. Nhưng do trình độ ý thức chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa thấp, chính quyền một số địa phương quen với việc coi mình là cơ quan công bố thông tin duy nhất, tìm mọi cách duy trì kênh thông tin duy nhất này. Trên thực tế, kiểu “lũng đoạn” thông tin đó, về chủ quan có thể nhằm “thống nhất tư tưởng”, “bảo vệ uy tín bản thân”, nhưng trong xã hội hiện đại, văn minh chính trị ngày càng phát triển, đây là hành vi thiếu sáng suốt, thường mang đến kết quả ngược lại.
Tín nhiệm xã hội không phải là một chiều, mà có quan hệ tương hỗ giữa người dân và chính quyền. Để người dân tín nhiệm chính quyền, phải có tiền đề là chính quyền tín nhiệm người dân. Vì thế, chính quyền phải thực sự mong muốn có được sự tín nhiệm của người dân để trở thành cơ quan quyền lực thực sự do người dân làm chủ. Bên cạnh đó, chính quyền phải nỗ lực xây dựng môi trường thông tin đa nguyên, cởi mở, thể hiện rõ việc mình tin tưởng  vào người dân. Một chính quyền thực tâm mở lòng ra với xã hội, chính quyền đó sẽ nhận được sự tín nhiệm của xã hội./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét