Wednesday, May 28, 2014

Lý Kiến Trúc phỏng vấn Hà Sĩ Phu và Mai Thái Lĩnh



Lý Kiến Trúc phỏng vấn
Hà Sĩ Phu và Mai Thái Lĩnh
Phần 1, 2 và 3
Procontra


 Phần 1: Nhóm Đà Lạt
Tháng 5 25, 2014
Procontra

Trong dịp về nước thăm quần đảo Trường Sa theo lời mời của Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cuối tháng Tư vừa qua, nhà báo Lý Kiến Trúc từ Nam California có dịp gặp gỡ hai thành viên của nhóm Thân hữu Đà Lạt, ông Hà Sĩ Phu và ông Mai Thái Lĩnh. Cuộc phỏng vấn sau đây diễn ra vào đầu tháng Năm tại nhà riêng của ông Hà Sĩ Phu.
Được những người tham gia tin cậy, tôi đã biên tập bài phỏng vấn này dựa trên bản ghi chép từ băng ghi âm, trong tinh thần giữ đúng nội dung chính, chỉ lược bớt những chi tiết rườm rà không tránh khỏi của một cuộc trò chuyện không định trước, kéo dài khoảng một tiếng rưỡi.
Phạm Thị Hoài
____________
Ngày 5/5/2014, đại diện cho tờ Văn hóa Magazine California, tôi hân hạnh được gặp và trò chuyện với hai nhà tranh đấu dân chủ ở Đà Lạt, ông Hà Sĩ Phu và ông Mai Thái Lĩnh.
Ông Hà Sĩ Phu nổi tiếng với loạt bài: “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” (1988), “Chia tay ý thức hệ” (1995). Nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh để đời với luận chứng “Sự thật về Thác Bản Giốc[1], gần đây tạo ra cuộc tranh biện gắt gao với ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Việt Nam.
Lý Kiến Trúc
*
Lý Kiến Trúc: Thưa ông Mai Thái Lĩnh, ông có thể kể sơ qua về hoàn cảnh xuất thân được không?
Mai Thái Lĩnh: Tôi không sinh ra tại Đà Lạt. Bố tôi là người Thanh Hóa, mẹ tôi là người Hà Tĩnh, vào vùng cao nguyên này khoảng năm 1942-1943. Bố tôi tham gia Việt Minh năm 1945 tại Đồng Nai Thượng tức là vùng Di Linh ngày nay, cách đây khoảng 80 km. Khi mẹ tôi mang thai tôi năm 1946, chưa sinh thì người Pháp trở lại Đồng Nai Thượng, bố tôi và tất cả những người trong Ủy ban Kháng chiến phải rút ra ngoài rừng về vùng Bình Thuận, và từ đó coi như chúng tôi mất liên lạc. Có thể nói từ khi sinh ra tôi không hề biết mặt bố tôi, mãi đến sau năm 1975 tôi mới được gặp. Mẹ tôi sau đó tái giá với một người khác và tôi có một số em cùng mẹ khác cha nhưng sống với tôi từ nhỏ đến lớn, và hiện nay hầu như toàn bộ đều ở hải ngoại: ba người em ở Canada, hai người em ở Hoa Kỳ. Coi như ở đây chỉ còn mình tôi. Tôi sống ở Di Linh đến năm 14 tuổi; hết cấp 2 lên Đà Lạt học tiếp và từ đầu thập niên 1960 trở đi thì gia đình tôi mới chuyển lên Đà Lạt. Cho nên tuy không sinh ra tại Đà Lạt, nhưng tính thời gian cư trú ở đây (và có lẽ cho đến cuối đời) thì Đà Lạt là nơi mà tôi sinh sống lâu nhất. Cho nên tôi cũng coi đây như là một quê hương sâu nặng, ngoài cái nơi mà tôi sinh sống suốt thời thơ ấu là Di Linh.
Lý Kiến Trúc: Trước đây, thời sinh viên ông cũng đã có những hoạt động tranh đấu ở Sài Gòn?
Mai Thái Lĩnh: Vâng, thật ra trước kia tôi không tham gia tranh đấu. Khi về học ở Sài Gòn thì từ khoảng năm 1965 tôi tham gia các hoạt động “công tác xã hội” và cùng với anh Nguyễn Đức Quang và anh Đinh Gia Lập là một trong những người sáng lập Phong trào Du ca Việt Nam. Thế nhưng tới những năm mà tình hình thời sự ở Miền Nam có những diễn biến rất là sôi động thì tôi bị lôi kéo giữa hai luồng tư tưởng, trong đó đặc biệt có một số anh em bạn bè bị ảnh hưởng bởi phong trào phản chiến. Lúc đó tôi cũng mong muốn có được một đất nước hòa bình, thống nhất, và một phần cũng do nguồn gốc của mình, rồi cũng do một số ảnh hưởng từ trong các trường đại học mà tôi theo học – nhất là từ các giáo sư học ở Pháp về, nên có xu hướng phản chiến – người ta thường gọi là lực lượng thứ ba. Tất nhiên bây giờ nhìn lại thì rõ là có những điều bồng bột, xốc nổi, có những cái mình suy nghĩ không chín chắn, hoặc là “con đường thứ ba” có một cái gì đó mơ hồ, không có đường lối rõ ràng, vì thế nó dẫn đến những thiệt hại cho dân tộc. Nhưng vào thời tuổi trẻ thì tôi bị lôi cuốn như thế. Năm 1969 tôi tốt nghiệp cử nhân. Năm 70-71 tôi giảng dạy tại Đại học Văn khoa Đà Lạt. Chính trong thời gian đó một số người trong phong trào đấu tranh và bên phía Đảng Cộng Sản biết được “nguồn gốc” của tôi, nên họ tìm cách móc nối. Sau đó đến năm 1972 thì tôi vào trường sĩ quan Thủ Đức, nhưng sau khi ra trường tôi không ra đơn vị mà bỏ ngũ, và sau Hiệp định Paris tôi thoát ly ra ngoài rừng và ở đó cho đến năm 75 mới trở về thành phố.
Từ sau năm 1975, tôi trở về lại ngành giáo dục. Tôi vốn là cử nhân giáo khoa triết học, mà cử nhân giáo khoa triết học thì đối với chế độ này chỉ là con số 0. Họ cho rằng ai học triết là bị nhiễm độc về mặt tư tưởng, cho nên nhiều người tốt nghiệp Cử nhân Triết học như tôi chỉ được chuyển xuống dạy cấp 2 hoặc dạy một môn khác. Chẳng hạn một ông thầy dạy triết của tôi ở đại học bị chuyển sang dạy môn Pháp văn. Trong hoàn cảnh đó, tôi được đưa về một trường trung học làm Phó Hiệu trưởng, nhưng lúc bấy giờ nhiều người trong ngành giáo dục không bằng lòng. Họ cho rằng “anh này là cử nhân giáo khoa triết học mà bây giờ làm phó hiệu trưởng thì sao ảnh làm được”. Lúc đó, một vị lãnh đạo ở đây mới nói với tôi là phải hợp lý hóa bằng cách cho tôi đi học Trường Đảng, tức là tôi lại được đi học triết học một lần nữa, lần này là triết học Mác-Lênin, để “hợp pháp hóa” văn bằng cử nhân. Sau hơn một năm rưỡi đi học tại Trường Đảng, tôi còn phải học thêm mấy tháng trong vài mùa hè nữa thì mới được cấp một cái bằng gọi là Đại học Sư phạm môn Chính trị. Như vậy là tôi tốt nghiệp hai cái bằng: một cái là bằng Cử nhân Giáo khoa Triết học của chế độ Việt Nam Cộng hòa và cái thứ hai là bằng Đại học Sư phạm Chính trị của chế độ cộng sản.
Tôi công tác trong ngành giáo dục đến năm 1988. Do thấy không có kết quả gì đáng kể và cũng do lúc bấy giờ có một số bài báo của tôi đụng chạm đến chế độ, tôi cảm thấy mình làm việc không còn có tác dụng nữa nên xin từ chức lãnh đạo. Ngành giáo dục giải quyết bằng cách “anh không làm lãnh đạo thì anh cũng không thể ở trường này được, vì anh còn ở đây thì không ai lãnh đạo được anh”, do đó tôi chuyển qua trường sư phạm. Lúc bấy giờ thì có lời đề nghị của một vị lãnh đạo thành phố Đà Lạt mời tôi về làm việc, cho nên sau đó tôi ứng cử Hội đồng Nhân dân Thành phố và trúng chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố. Tôi làm hết khóa đó (nhiệm kỳ 1989-94), sau đó thì tôi bỏ việc, và từ đó tới giờ tôi là một thường dân. Đó là tóm tắt hoạt động của tôi, có lẽ là hơi dông dài.
Lý Kiến Trúc: Ở trên ông đã nhắc đến Phong trào Du Ca. Ban nhạc Trầm Ca do ông sáng lập phải không ạ?
Mai Thái Lĩnh: Không phải một mình tôi. Trong thời gian học ở Sài Gòn, tôi chơi với một số bạn trong đó có có các anh Nguyễn Đức Quang, Hoàng Kim Châu, Trần Trọng Thảo, Nguyễn Quốc Văn, Đinh Gia Lập. Lúc đầu chỉ có mấy anh em cựu học sinh trường Trần Hưng Đạo thôi, được gọi là ban Trầm Ca. Ban Trầm Ca gồm anh Quang và chúng tôi; trong thực tế thì anh Quang là đầu tàu, là nhạc sĩ duy nhất, bọn tôi về âm nhạc chỉ biết đàn hát cho vui thôi. Sau đó thì chị Phương Oanh ở bên trường âm nhạc cùng tham gia, và chúng tôi trở thành ban Trầm Ca nổi tiếng thời bấy giờ. Chính ban Trầm Ca đó là tiền thân để sau này hình thành nên Phong trào Du Ca. Có thể coi đó là cái sở thích thứ hai của tôi.
Lý Kiến Trúc: Thưa ông Hà Sĩ Phu, là một trí thức xuất thân ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ông đã vào miền Nam từ năm nào?
Hà Sĩ Phu: Cuối 1983 đầu 1984, lúc ấy tôi đang là cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Việt Nam ở Hà Nội, tôi làm để tài nghiên cứu cấy mô cây sâm và cây tam thất là hai cây đòi khí hậu lạnh. Tôi đã làm xong thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, tiếp theo là muốn dùng cái điều kiện tự nhiên ôn đới để phát triển hai cây đó, nên tôi xin chuyển vào Trung tâm Khoa học Đà Lạt để làm tiếp đề tài. Nhưng sau khi tôi vào rồi thì tình hình xã hội của mình thay đổi và những công trình nghiên cứu cơ bản đó cũng không làm được.
Lý Kiến Trúc: Có lẽ đây là cái nhân duyên lạ lùng cho sự gặp gỡ ngày hôm nay, giữa những nhân vật từ nhiều nhánh trong dòng chảy dân tộc Việt Nam. 
Mai Thái Lĩnh: Tôi gặp anh Hà Sĩ Phu vào một giai đoạn sau khi có sự kiện được gọi là “Đổi mới” của Đảng Cộng Sản tức là sau năm 1986, và cũng có thể nói là có “cơ duyên”… Thật ra, lúc đó chúng tôi không cùng làm việc trong một môi trường. Tôi cũng không nhớ lần đầu tiên gặp nhau vào lúc nào, nhưng có lẽ là thông qua một hình thức sinh hoạt ở Hội Văn nghệ tỉnh Lâm Đồng. Anh Hà Sĩ Phu và tôi không phải là dân văn nghệ, đúng ra không phải là nhà văn, nhà thơ. Hội Văn nghệ Lâm Đồng lúc bấy giờ được thành lập năm 1987, anh Bùi Minh Quốc và anh Tiêu Dao Bảo Cự là Chủ tịch và Phó Chủ tịch, anh Hà Sĩ Phu và tôi tham gia trong nhóm được gọi là lý luận nhưng chúng tôi không chuyên về lý luận văn học. Anh Hà Sĩ Phu tuy là dân sinh học nhưng lại thích viết về triết, về tư tưởng chính trị, v.v…, tôi cũng thiên về triết, về tư tưởng chính trị. Lúc đó Hội Văn nghệ Lâm Đồng ra một tờ báo, tờ Lang Bian, mà chúng tôi có tham gia một số bài viết. Có thể coi là một cái hoa mới vừa nở lên và cũng khá nổi tiếng, nhưng chỉ được 3 số thì bị “dứt”. Tiếp theo là sự kiện anh Bùi Minh Quốc và anh Bảo Cự tổ chức một chuyến đi xuyên Việt, đến mỗi tỉnh lại thu thập chữ ký để làm một kiến nghị về vấn đề văn học nghệ thuật. Khi về lại Đà Lạt hai anh bị khai trừ Đảng, anh Hà Sĩ Phu và tôi cùng ở trong một nhóm ký kiến nghị để bảo vệ hai anh đó. Chúng tôi kiên quyết cho rằng việc khai trừ hai ảnh là sai, thế là giữa chúng tôi và lãnh đạo tỉnh sinh ra đụng chạm, từ đó chúng tôi bắt đầu thân nhau. Và cũng trong dịp đó anh Hà Sĩ Phu viết một số bài, bài đầu tiên là “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”, ảnh tên thật là Nguyễn Xuân Tụ nhưng dùng bút danh Hà Sĩ Phu. Khi bài viết được tung ra thì mọi người chưa biết là của ai, thế là lãnh đạo các ngành an ninh, văn hóa tư tưởng cứ đi thăm dò, người bảo là của ông Phan Đình Diệu, người lại bảo của ông này ông kia… Cuối cùng vẫn không biết bài đó là của ai, thế mà nó bị vài chục bài trên báo Đảng và báo lý luận đánh tơi bời, làm ầm ầm lên, nên nó trở thành nổi tiếng.
Từ đó chúng tôi bị cuốn vào cùng một dòng chảy. Nói chung chúng tôi đều là những người cầm bút. Tôi thì dù sao cũng đã từng là đại biểu hội đồng nhân dân và cũng đã từng phụ trách cơ quan dân cử ở đây là Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt. Tôi cũng không thể nhắm mắt làm ngơ để anh em trí thức bị đánh, bị vùi dập trong một vùng đất có thể gọi là quê hương của tôi được. Vì vậy mà tôi và một số anh em khác – những người không cầm bút như anh Huỳnh Nhật Hải và anh Huỳnh Nhật Tấn (như anh biết, thường được gọi là “hai anh em họ Huỳnh”, là những người ra Đảng rất sớm), chúng tôi cùng nhau ra sức bảo vệ các nhà trí thức này, thế là tự nhiên hình thành một tình thân hữu và một nhóm. Có những lúc rất khó khăn, các anh ấy bị công an gác rồi quản chế, v.v…; đi thăm mấy ảnh mọi người rất ngại, chỉ có bọn tôi đi tới đi lui thôi. Tình thân giữa chúng tôi bắt đầu vào khoảng 1988-89.
Lý Kiến Trúc: Thưa ông Hà Sĩ Phu, điểm nào ông thấy đắc ý nhất khi gặp gỡ ông Mai Thái Lĩnh và những anh em khác trong cái bối cảnh lúc đó?
Hà Sĩ Phu: Nhóm thân hữu chúng tôi thì cũng đông, nhưng có bốn anh em gần như là trung tâm, là người khởi xướng, có anh Mai Thái Lĩnh, nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và tôi. Bốn chúng tôi không ai giống ai, xuất thân khác nhau lắm. Tôi vốn chỉ biết nghiên cứu, tức là ở phòng thí nghiệm và bục giảng, không liên quan một tí tẹo nào đến hoạt động xã hội. Nhất là con nhà nho thường kín đáo nhu mì chứ không có gì gọi là xông xáo hoạt động xã hội cả. Mỗi người một khác, cái duyên gắn với nhau nó rất lạ. Nó như thế này: đầu tiên tôi xin vào Đà Lạt để làm khoa học. Như đã nói, tôi làm về cây sâm và cây tam thất. Hai cây thuốc quý đó, sản xuất để nhân dân mình có thuốc dùng, nhưng khi tôi định vào đây để làm thì lúc bấy giờ ta đã có quan hệ với Trung Quốc khá là rộng rãi rồi. Ở Trung Quốc họ trồng sâm, trồng tam thất rẻ lắm. Người ta có sẵn, mình mua, chứ đâu cần phải cầu kỳ sản xuất bằng việc nhân tạo khó khăn, nên công trình đó không có ý nghĩa thực tiễn nữa, tôi phải bỏ.
Rồi đúng lúc anh Bùi Minh Quốc được Tỉnh ủy mời vào đây làm trưởng ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Lâm Đồng. Cái vốn nho học của tôi từ xưa, làm thơ làm câu đối, lại trở nên gần gũi với giới văn nghệ của các anh ấy. Trước khi có cái hội đó, tôi cũng đã viết một số bài thơ đăng báo Lâm Đồng rồi.
Bấy giờ văn học chỉ là cái phương tiện chở tư duy của mình. Lúc đó đất nước đang chuyển đổi, không khí đổi mới ập đến, tất cả chúng tôi bốn người khác nhau lại cùng có mặt trong Hội Văn nghệ Lâm Đồng. Và chúng tôi đều có quan hệ với những người cộng sản ly khai, đổi mới trước tiên ở đất nước này, ví dụ chúng tôi đều thân với ông Nguyễn Hộ ai cũng biết, có tác phẩm Quan điểm và cuộc sống. Ông ấy từng có ý định lập chiến khu mà. Sau đó là thân với ông Trần Độ. Có một thời kỳ, không gọi là thân nhưng chúng tôi rất có thiện cảm với ông Võ Văn Kiệt, một người cộng sản cao cấp nhưng có những tư tưởng không đồng nhất với ý kiến đa số.
Bốn người chúng tôi từ bốn phương trời khác nhau, khả năng khác nhau, anh làm thơ, anh làm văn, anh thì giảng dạy nghiên cứu về triết, còn tôi thì một anh về khoa học tự nhiên. Xin nói tại sao khoa học tự nhiên mà lại dính vào chuyện này: ngay từ khi theo học cái khoa Sinh học ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, lúc ấy dạy Mác-Lênin còn nặng lắm, tôi thấy Sinh học và triết học Mác-Lênin mâu thuẫn với nhau vô cùng. Lúc bấy giờ xã hội còn rất ổn định, coi Mác-Lênin là duy nhất khoa học không ai được cãi nửa câu. Nhưng trong những cuộc thảo luận tổ sinh viên tôi đã là người cãi bướng, vì tôi thấy ông Mác, ông Lênin nói nhiều câu chẳng khoa học gì cả. Cái mầm nó có từ đó, cho nên khi vào đây tham gia Hội Văn nghệ thì anh em thấy “ông này với cái tư duy khoa học chiếu vào cái triết học xã hội này có nhiều điểm được lắm”.
Có một hôm tôi với chị Việt Nga, con gái ông Trường Chinh, cùng ngồi nghe báo cáo thời sự. Chị Nga bảo, này anh Tụ, những ý tưởng anh phát biểu làm tôi rất sáng ra; khi nào anh tổng kết lại, nói có hệ thống một chút cho anh em nghe! Thế là có một cuộc mạn đàm, có thêm cả hai nhà khoa học xã hội là Hoàng Ngọc Hiến và Phạm Vĩnh Cư, cả hai đều nghiên cứu về văn học và học ở Nga rất lâu. Buổi đó tôi vẽ một cái sơ đồ như báo cáo khoa học, nghe xong mọi người bảo phải viết ngay bài này ra, đây sẽ là một quả bom. Tôi bảo viết cái này để nó bắt cho thì chết à? Ông Quốc thì bảo không chừng ông Mác còn bảo vệ cho ông đấy, vì ông Mác cũng có nói một câu giống Phật: muốn giác ngộ thì phải nghi ngờ, phải có phản biện. Thì ông cứ phản biện đi!
Thế là tôi bắt tay vào viết bài đầu tiên, dài có 10 trang đánh máy, chính là cái bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”. Lúc ấy còn quá tin tưởng vào tính xây dựng của mình nên viết xong tôi gửi cho báo Nhân dân, báo Đảng Cộng sản, Hội Nhà văn Việt Nam… Nhiều cơ quan trả lời là rất đồng ý, ví dụ tạp chí Sông Hương hứa sẽ đăng ngay trong số sau, Hội Nhà văn Việt Nam viết thư cám ơn… Ai ngờ chỉ ít lâu sau, ông Đào Duy Tùng vác cái bài đó đi khắp các hội nghị đều nói rằng có một nhóm tập thể nào đó lấy tên Hà Sĩ Phu dám dạy chúng ta về Mác! Thế là thành một câu chuyện rất to. Báo Nhân dân, báo Quân đội, tạp chí Cộng sản… có hơn 30 bài đánh lại bài của tôi, một cái bài rất nhỏ không thấy đăng ở đâu, thậm chí cả triết gia Trần Đức Thảo cũng viết một bài phê phán bài đó. Thành ra…, một thằng khoa học tự nhiên không bao giờ dính vào chính trị, chỉ vì lý luận động vào cái nền tảng chính trị của các ông ấy mà bỗng nhiên bị chính trị hóa. Thế là tôi bị biến thành một nhân vật chính trị. Đồng thời phía hải ngoại lại hoan nghênh, tôi nhớ lúc đấy ông Nguyễn Ngọc Lan và ông Đỗ Mạnh Tri đã giúp tôi, khen một bài viết như thế này sao lại không được đăng, bên ngoài cũng rất ủng hộ, đến bài “Chia tay ý thức hệ” thì đài RFA cũng đọc mấy tháng liền.
Thế là một anh trước giờ chỉ biết phòng thì nghiệm, chỉ biết bục giảng, tự nhiên bị hai bên đẩy vào chính trị, và trong bốn người chúng tôi thì tôi là người bị đẩy vào chính trị sâu nhất, cho nên bị ngay cái án tù một năm, từ năm 95 tới năm 96. Tóm lại cơ sở để bốn người chúng tôi, người thì Bắc người thì Nam, mỗi người chuyên môn khác hẳn nhau, cùng chia sẻ là tư duy khoa học, nhất là tôi với anh Lĩnh, tư duy triết và toán, dùng luận lý khoa học để thấy sự phi lý của cái lý luận chính trị này. Muốn thành người trí thức thì phải dấn thân cho xã hội, bởi vì thành người trí thức là mình nợ xã hội, xã hội cho mình bao nhiêu thứ mình mới thành người trí thức. Chết đi mà mang cái tri thức đó đi thì mình thành ăn quỵt. Chính với cái tư duy đó và cái tấm lòng là phải trả nợ áo cơm, trả nợ kiến thức cho xã hội nên bốn người chúng tôi đều nghĩ giống nhau, đều thấy phải dùng cái vốn của mình vào công cuộc đổi mới. Vậy gặp nhau là gặp nhau ở cái trí, cái đầu, và gắn nhau ở trái tim.
Còn phải kể đến một yếu tố thứ ba, yếu tố ngẫu nhiên, khiến một anh đang ở Hà Nội lại nhảy vào Đà Lạt, rồi do hoàn cảnh đưa đẩy một anh theo cách mạng chính thống từ Miền Bắc như anh Quốc với hai ông gọi là “phong trào” trong Miền Nam là ông Lĩnh với ông Cự lại gắn kết vào nhau. Cái mối gắn kết này khiến công an người ta khó chịu lắm, người ta căm thù cái sự gắn kết đó và tìm mọi cách phân tán ra mà phân tán không được, người ta khai thác sự khác nhau giữa chúng tôi và đã nhiều phen đánh phá, đặc biệt là tách anh Cự anh Quốc ra khỏi tôi với anh Lĩnh nhưng không tách được, chúng tôi có cơ sở quá vững cho nên đánh không ăn thua. Mới vừa rồi thôi, ngày 22/4 là ngày sinh nhật tôi, trùng với sinh nhật ông Lênin, bốn người chúng tôi cùng ngồi với anh em ở đây rất là vui vẻ.
(Còn tiếp 2 kì)
Phần 2: Con đường đổi mới
Tháng 5 26, 2014
Xem kì 1:  Nhóm Đà Lạt
Lý Kiến Trúc: Xin được tr li vi ông Mai Thái Lĩnh. Thưa ông, năm xưa ông đã thoát ly môi trường đang sng đ đi theo cng sn, bây gi ông li t b Đng Cng sn. Tri qua mt quá trình lâu dài và qua nhiu chế đ như vy, ông nhn đnh thế nào v con đường chính tr ca Vit Nam hin nay cũng như con đường ca Đng Cng sn sp ti?
Mai Thái Lĩnh: Tôi hình dung quá trình đi mi ca Vit Nam là như thế này: Năm 86 có th coi là thi đim Đng Cng sn đi mi, nhưng đáng tiếc là Vit Nam cuc đi mi đó – như rt nhiu người, k c mt s đng viên cao cp, đã nói – ch là đi mi mt hướng, là đi mi kinh tế ch không đi mi v chính tr và tư tưởng. Cái hn chế ln là đến khong năm 89-90, khi Tng Bí thư Nguyn Văn Linh đi sang mt s nước xã hi ch nghĩa thy h thng xã hi ch nghĩa sp đ thì ông y lo s và c tìm cách bo v cái đng này. Cho nên công cuc đi mi b khng li t đó. S đi mi này là đi mi ch có mt chân, và cái chân quan trng là chính tr như tôi đã phân tích trong mt s tác phm, thì li không đi mi.
Như tôi đã nói, tôi hc ch nghĩa Marx qua hai cách khác nhau. Trước năm 1975 tôi có hc triết hc Đông phương, triết hc Tây phương, trong đó có c Marx. Sau năm 75 tôi li được hc Marx-Lenin ngay trong Trường Đng. T hai cách hc khác nhau đó tôi thy được cái gc ca vn đ. Đi vi mt đng cng sn, cái quan trng hàng đu mà người ta c nói nhp tâm: ch có hai vn đ, mt là chính tr tư tưởng, hai là t chc. Nhiu người, k c các hc gi Tây phương, khi nghiên cu v ch nghĩa Marx hay ch nghĩa cng sn h không hiu điu này. Đi vi  người cng sn thì sc mnh ca h là do cái đu. Khi h nhi tt c cái đu đi v mt hướng thì tt c to thành mt sc mnh, cho nên h rt s cái cht keo này nó rã ra. V mt chính tr tư tưởng và t chc, h lo s mt quyn nên không thay đi. Tôi nghĩ đó là mt điu đáng tiếc cho Vit Nam. Khi my anh em Đà Lt chúng tôi phát hin ra điu này thì đã xy ra mt cuc va chm. Mt s v trong Đng thc s có ý thc đi vi dân tc và có suy nghĩ đc lp thì t t h hưởng ng chúng tôi, nhưng ngược li v phía ban lãnh đo thì h rt khó chu.
V con đường ca Vit Nam hin nay, vn đ thì đã được đt ra ri, nhưng đi mi theo cách nào vn đang còn là khó khăn rt ln. Hin nay người ta gi đnh rng trong Đng có hai xu hướng khác nhau, tm gi như thế, mt được coi là tiến b-cp tiến, mt b coi là bo th-giáo điu. Nhưng cái khó nht đây là trong ni b Đng, cái gì cũng b bưng bít. Nhng người bo th-giáo điu không cn s gì c vì h đi theo con đường mòn, h không bao gi phi chu trách nhim; l có gì thì h ch b kim đim sơ sơ ri cũng h cánh an toàn thôi. Còn nếu anh có tư tưởng đi mi, tiến b mà đ l ra là anh b gt ra ngoài lin. Cho nên chúng ta không th phân bit được trong Đng ai là tht s đi mi, ai không tht s đi mi. Chúng tôi ch xác nhn nhng người sau đây là thc s đi mi: chng hn như ông Nguyn H hay ông Trn Đ; đó là nhng người có quyết tâm đi mi, còn đi vi nhng người khác chúng tôi thy rt l m, không rõ ràng. Đó là điu rt khó cho người bên ngoài Đng.
Va ri có mt cuc gp g trao đi gia mt s anh em đây vi mt s anh em Sài Gòn (trong phong trào hc sinh, sinh viên cũ ca Sài Gòn). Có hai vn đ được đt ra. Mt là: trong Đng có mt b phn tiến bi mi hay không? Chúng tôi nghĩ là có, nhưng sc mnh được bao nhiêu, kh năng chuyn đi bao nhiêu thì chúng tôi không rõ. Hai là: mi quan h gia “bên trong” (đu tranh trong ni b Đng) và “bên ngoài” (cuc đu tranh ngoài xã hi). Bên nào là quan trng hơn? Đi vi vn đ này thì gia chúng tôi không có s thng nht. Mt s anh em cho rng “bên trong” quan trng hơn, nhưng anh Hà Sĩ Phu, tôi và c mt s anh em khác na thì quan nim “bên ngoài” mi là quan trng. Phong trào đu tranh ôn hòa bên ngoài phi mnh thì mi to điu kin cho cánh tiến b trong Đng phát trin lên, ch ch trông ch vào bn thân Đng Cng sn thì… Cho đến cái tui này (tôi đã gn 70 ri, còn anh Hà Sĩ Phu thì đã qua cái tui y), khi nhìn vào quá trình phát trin ca Đng Cng sn Vit Nam, chúng tôi cm thy đng hoài công vô ích ch đi s đi mi t bên trong. Vì Đng Cng sn Vit Nam ra đi khác vi các đng cng sn Đông Âu. Đông Âu, do áp lc ca Liên Xô nên h mi b áp đt chế đ cng sn. Hơn na, các nước đó trước kia đã có mt nhánh gi là đng dân ch-xã hi, sau Chiến tranh Thế gii th hai thì các đng cng sn Đông Âu buc các đng dân ch-xã hi phi nhp vào đng ca h, anh nào không chu nhp thì h đui đi hoc tìm cách đàn áp, cho nên dù sao thì trong lòng các đng cng sn Đông Âu vn có sn mt cái mm dân ch-xã hi cũ. Có nghĩa là yếu t đi mi ca h vn có trong lòng, cho nên chúng ta mi thy s kin 1956 ca Hungary, s kin 1968 ca Tip Khc, ch Vit Nam làm gì có? Vit Nam mi mon men đến “Nhân văn-Giai phm” là b dp ri, mà mc đ đi mi lúc đó còn rt thp. Cho nên tôi nghĩ đng hi vng Đng Cng sn Trung Quc và Vit Nam “t đi mi”.
Cách làm vic, thói quen ca mt đng cng sn cũng không có gì là rõ ràng. Cho nên đi vi nhng ý kiến ca Th tướng Nguyn Tn Dũng, chúng tôi cũng chưa dám khng đnh là đến mc nào, và có thc tâm hay không. Còn cn phi có thi gian, phi ch thc tế chúng ta mi thy rõ. Tôi nh đã đc được trên mt t báo Liên Xô bng tiếng Pháp thi kỳ đi mi, ông Th tướng cng sn cui cùng ca Ba Lan có nói mt câu đi ý: đng nói cái này là do tôi, tôi là Th tướng nhưng tôi ch làm nhng gì mà B Chính tr quyết, ch tôi có quyn gì đâu! Trong lúc du sôi la bng như thế ông Th tướng y mi nói được, ch trong tình hình Vit Nam tôi nghĩ ông Nguyn Tn Dũng chưa chc dám nói hết nhng gì mình mun nói. Chúng tôi không ch trương ng h riêng mt cá nhân nào, nhưng chúng tôi cũng không tuyt đi t chi bt c cá nhân nào. Bi vì bt c người cng sn nào, k c nhng người được đánh giá là bo th, nếu có nhng hành đng thc tin, nhng quan đim đúng đn, làm được vic tt thì chúng ta cũng hoan nghênh.
Trong thông đip đu năm, Th tướng Nguyn Tn Dũng có nói v vn đ đi mi, nhưng tôi chưa thy rõ là “đi mi th chế kinh tế” hay “đi mi v chính tr”. Có th là vì cương v ca ng, ng không dám nói hết. Mà hin nay có mt đ tài  sp ti tôi s viết thêm mt s bài đ làm rõ hơn: cánh t có hai quan nim đi mi khác nhau. Quan nim th nht được gi là dân ch-xã hi (social democracy), quan nim th hai là ch nghĩa xã hi dân ch (democratic socialism). Trước đây hai quan nim này ging nhau nhưng khong t đu thp niên 80 đến nay bt đu tách hn. Quan nim dân ch-xã hi ngày nay không nói gì ti ch nghĩa xã hi na, mà người ta khng đnh chc chn rng nn kinh tế vn phi là kinh tế th trường, vi ch nghĩa tư bn, ch cũng chưa ai tìm ra cái gì thay thế nó. Vy ch còn cách dùng h thng chính tr đ điu chnh thế nào cho có được s công bng trong xã hi, phân phi mt cách công bng, phát trin mt cách đúng hướng, hn chế nhng tác hi ca kinh tế th trường, ch nếu th nó ra thì s xy ra chuyn này chuyn kia, ch h không còn nói gì ti mt th ch nghĩa xã hi nào đ thay thế ch nghĩa tư bn c. Ngược li, phái được gi là ch nghĩa xã hi dân ch thì h vn cho rng phi xây dng ch nghĩa xã hi đ thay ch nghĩa tư bn, và ch khác nhau ch dùng phương pháp dân ch. Như vy là có s khác nhau: mt bên coi dân ch ch là phương pháp, mt bên li coi dân ch là nguyên tc. Tôi xin nêu ví d: ti Đc, Đng Dân ch-Xã hi lâu đi SPD hin nay tr thành mt đng trung t (center-left), tc là nếu nhích thêm mt tí na h s ging vi Đng Dân ch M. Tôi c hình dung: nếu h ng thêm tí na sang phía hu, ri Đng Dân ch M ng sang phía t thêm tí na thì hai anh s ging nhau, nghĩa là Châu Âu và Hoa Kỳ gn ging nhau. Ngược li, đng được gi là Đng Cánh t (The Left), tc là đng ca ông Gysi va ri phát biu có phn nào bênh vc ông Putin, li chính là hu du ca Đng Cng sn Đông Đc trước đây, cng vi mt b phn ca Đng SPD do không bng lòng vi đng cũ mà tách ra. Chính đng này (Đng Cánh t) th hin mt cách đi mi mà người ta gi là Ch nghĩa Xã hi Dân ch ch không phi là Dân ch-Xã hi. Dân ch-Xã hi ngày nay không còn quan nim như xưa na. Thành ra đc thông đip đu năm ca Th tướng tôi có cm giác như vn còn nm trong xu hướng Ch nghĩa Xã hi Dân ch, cho nên tôi cũng chưa biết là đi mi chính tr thì đi đến mc nào. Do đó tôi chưa dám khng đnh. Nhưng cũng xin nói thêm rng: nếu đi mi được theo hướng như thế thì dù sao cũng là mt bước đáng hoan nghênh, tuy tht ra thì cũng ch là “đi được na con đường” mà thôi.
Lý Kiến Trúc: Tiếp tc đ tài này, xin hi ý kiến ông Hà Sĩ Phu, ông nghĩ thế nào v quan đim đi mi ca ông Nguyn Tn Dũng hin nay?
Hà Sĩ Phu: Trước hết tôi đ cp vn đ gia li nói và con người tht, con người phát ngôn.  Hin nay thế nào là đúng, thế nào là chân lý thì con đường ca toàn nhân loi đã quá rõ. Th hai là con đường ca Vit Nam phi tr thành cái gì cũng rt rõ. Tóm li cái chân lý đ nói cho đúng khách quan thì rt rõ ri, nhng người cng sn có nói nhng li hay nht thì cũng ch mi là nói mt phn ca chân lý thôi, chưa phi đã nói đến tn cùng chân lý. Nhưng nhng câu nói có chút tt đp đó cũng rt đáng hoan nghênh, bi vì trong cái h thng này trước đây người ta toàn nói ngược vi chân lý, nói ngược vi tiến hóa. Bây gi dám nói thế thì cũng đáng hoan nghênh quá ri, nhưng cái điu quan trng là phi phân bit li nói ca con người y vi thc cht con người y.
Ví d rt nhiu người trong cuc đu tranh dân ch hin nay c phi trích li c H. C H cũng có nhiu câu nói được lm ch, ví d như câu “nếu chính ph làm hi dân thì dân có quyn đui chính ph“. Câu nói y quá mnh, câu nói y nghe được quá, nhưng mà con người thì sao? Nói thế nhưng c đi ông H chưa bao gi to điu kin đ thc hin điu y. Đ thc hin điu y, đ đui được chính ph thì phi có lut, phi có t chc. Nhưng “c” không bao gi to ra nhng điu kin đó!
Tóm li phi soi điu y vào nhng câu nói tt đp, ví d li nói ca ông Nguyn Văn An, li nói ca ông Nguyn Tn Dũng va ri, rt đáng hoan nghênh, nếu làm được đúng như nói thì tt quá. Nhưng tôi cũng nghĩ như anh Lĩnh, xã hi hin nay b bưng bít, chng nhng là bưng bít vi nhân dân mà ngay trong Đng vi nhau na, h cũng trói buc nhau ghê lm. Đã trong Đng là phi theo k lut Đng, đâu có th khác được, vì thế cho nên gia li nói vi thc tế còn mt khong cách rt xa. Cho nên khi ta ng h thì phi nh đến điu này: tôi ng h câu đó, câu đó là mt phn ca chân lý đy, nhưng tôi không ng h con người đó đâu nhé. Anh nói câu đó nhưng phi xem anh có phn đu to điu kin đ làm cái đó hay không, khng y tôi còn đ ng. Ta khen nhng câu ca ông Nguyn Văn An trước đây, khen nhng cái li phát biu đu xuân va ri ca ông Nguyn Tn Dũng. Khen là rt đúng, nói nhng câu đó là rt đáng mng, nhưng không được dng đy mà phi nói luôn rng, cái đó nếu mà ch nói cho va lòng dân thôi thì là nói xo. Đáng l câu đó nâng con người anh lên, nhưng nếu chng minh được rng anh li không làm như thế, hoc làm ngược li, thì chính câu nói đó s làm gim lòng tin đi vi anh thôi, ch không phi c có mt câu nói hay đã là tt đâu. Câu nói hay mà làm theo đó thì nó nâng uy tín ca anh lên tht s, thm chí uy tín có th đến mc đ lt đ được phía đi lp bo th, nhưng nếu không thc hin thì tác dng li di ngược, nghĩa là anh to ra mt cái bài PR cho mình, to ra mt cái hy vng nht thi, nhưng ri li tt, ri li làm mt phi v khác, mt cú “n” khác, to mt hy vng khác!
Nếu lp li cái đó hai, ba ln thì nhng li hay đó s mt tác dng. Tôi s rng Th tướng Nguyn Tn Dũng đã lp li cái bài đó hai, ba ln ri. Mt ln ông y nói rng phi có lut đ cho nhân dân được biu tình, cho nên trí thc Hà Ni đã biu tình ng h Th tướng, nhưng chính cuc biu tình đó li b đàn áp luôn! Ln th hai là v bo v đt nước bo v bin đo, ông y nói rng trước đây Min Nam đã có công gi bin đo thì ta cũng phi k nim cũng phi ca ngi, nhưng cui cùng cũng không thc hin được. Thế là ln th hai mt câu nói rt hay b hng. Ln th ba này có v mnh m hơn, có l vì đã có mt lc lượng nào đy đng đng sau ng h. Chúng tôi cũng hoan nghênh, nhưng có hoan nghênh được nhân vt y hay không thì còn phi ch.
Lý Kiến Trúc: Mt người cũng rt có uy tín, được biết t trong nước ti hi ngoi, là giáo sư Tương Lai, đã có mt bài viết khen ngi thông đip đó ca Th tướng. Sau đó li có mt lot bài phn bin, có v như đ kích giáo sư Tương Lai. Ông có nghĩ là tính dân ch đa nguyên đã t t ny mm Vit Nam như vy không?
Hà Sĩ Phu: Nhng tích lũy v lượng t nhiu năm nay đã khiến cho năm 2014 này thành thi đim có nhng biến đi nhiu hơn v cht, nhà cm quyn tc là Đng Cng sn cũng thy là không th cai tr theo kiu cũ na, cho nên chính trong hng phi xut hin nhiu kiu nói, nhiu cách ng x.  Nhưng tôi phi nói ngay là m ra mt này thì đóng li mt khác. Ví d vic th ông Cù Huy Hà Vũ, ông Đinh Đăng Đnh, ông Nguyn Tiến Trung…, nhiu người cho rng đy là biu hin ca s ci m, nhưng đng nhm. Đó là ngôn ng đ nói vi Hoa Kỳ, đó là cái quân bài đ trao đi hàng hóa đi lưu vi Hoa Kỳ, ch bên cnh vic đó Đng Cng sn luôn luôn nói li vi dân, rng đng tưởng b, đng tưởng tôi th như thế là trong nước c làm by đâu! Chính trong lúc đó thì li có nhng cú bt người, đánh người và có người chết trong đn công an na ch. Tôi đang được yên tĩnh mt hai năm nay thì chính lúc đó bng nhiên b gi lên “làm vic li”, và tôi phi ra thông cáo là tôi cương quyết không “làm vic li”. Ri ông Phm Đình Trng cũng b bt “làm vic li”, gn đây là ông Phm Bá Hi… Người ta làm thế đây đ nói vi Hoa Kỳ: anh đòi th thì tôi th nhưng anh đng tưởng b, tôi chưa có gì thay đi đâu.
Thi gian này tình hình rt phc tp, cái biu hin bên ngoài vi cái thc cht bên trong có khi không phi là mt. Phía chính quyn, có khi nói rt hay nhưng trong bng chưa thay đi gì c, đy là mt kiu. Kiu th hai là có người phía dân ch mun thay đi rt nhiu nhưng li phi chn cách nói ni b, cách nói ôn hòa. Ngược li, có người phê phán tiêu cc rt mnh nhưng kỳ thc ch mun ng h mt phe phái trong Đng. Tóm li là c hai bên đu di trá. Anh bo th thì di trá nói li tt đp đ mua phiếu hay đ được lòng dân, song kỳ thc bên trong nhng cái cht vn gi nguyên không thay đi gì c, đy là cái di trá ca người cm quyn. Nhưng phía nhng người dân ch cũng có di trá, tôi gi là di trá thôi, nhưng vi phía dân ch thì đó là phương pháp: ví d tôi biết cui cùng phi đi đến đim Y đim Z này, nhưng khi đu mà nói đến đim Z thì chết ngay, khi đu thì cũng phi nói t ABC. Cho nên gia li nói và thc tế luôn luôn c phi đánh du hi, mà ch có nhng người trong cuc mi hiu đúng, mi phân đnh đúng. Có hai loi người trong cuc, th nht là người cm quyn, đc tài, h phân đnh đúng vô cùng, dù cho anh có la li nói rt ni b rt ôn hòa h vn biết ngay anh có nguy him cho h hay không. Trái li có người nói rt mnh nhưng h biết ngay người này không mnh hay ch đánh mnh  ngoài da, cái mnh đó ch là cú đm vào chân vào tay ch không chc vào huyt. Là người trong cuc, người cm quyn h phân đnh rt đúng, h trng tr ai là h biết người đó nguy him. Trái li có nhng anh rt hùng h, quơ chân quơ tay nhưng h vn không trng tr. Loi người trong cuc th hai là nhng người đã tng lăn ln trong công cuc dân ch đi mi ca đt nước này, đã tng b tù ti, đã b trng tr rt nhiu năm. Cái nhìn ca người trong cuc y mi không b la, ch nhng người mi đng bên rìa, ch căn c vào thông tin bên ngoài thì rt d ng nhn, gia cái người ta nói ra vi cái thc cht trong đu thì vn chưa có máy dò đ xác đnh được. Đánh giá đúng mt nhân vt phi là nhng người trong cuc ông .
Lý Kiến Trúc: Thưa ông Mai Thái Lĩnh, qua nhng nhn đnh ca ông Hà Sĩ Phu, ông có cho rng nhng người trong cuc loi th nht, tc nhng người cm quyn ca Đng, hin đang chun b tng bước đ tiến ti Đi hi 12, s đem li thay đi ln nào cho Vit Nam không?
Mai Thái Lĩnh: Đây cũng ch là d đoán, là hy vng thôi. Tôi nghĩ rng Đi hi 12 có kh năng s phi đt lên bàn ngh s mt s vn đ mà lâu nay h tránh né. Th nht, đường li ngoi giao xưa nay ca Vit Nam là mt th chính sách “đu dây”, khi thì ng sang Hoa Kỳ và phương Tây, khi thì bám vào Trung Quc, c đu dây gia hai bên, không có gì là rõ ràng. Nhưng cái chính sách đu dây, gii làm xiếc y ca Đng Cng sn, theo tôi ch thích hp ngày trước, ch trong tình hình hin nay khó có kh năng thc hin. Tôi mi đc tin lúc sáng nay là Trung Quc đã  chuyn cái giàn khoan khng l ca h, tr giá 1 t đô-la, vào khu vc qun đo Hoàng Sa cách b bin Vit Nam ch có 120 hi lý, tc là nm trong 200 hi lý thuc vùng thm lc đa và đc quyn kinh tế ca Vit Nam. Hành đng này rõ ràng nm trong chính sách trước sau như mt ca Trung Quc. Và như tôi đã phân tích trong các bài viết, ngay t xa xưa cho đến khi h giành được đt trên đường biên gii trên b, h đã có c mt kế hoch chun b chu đáo tng bước mt trong lúc phía Vit Nam đi phó mt cách b đng, không có kế hoch, không có h thng gì hết. Và bây gi h giành tng bước bng cách đưa giàn khoan ti nơi đó và đương nhiên có lc lượng quân s đng đàng sau. V phía Vit Nam thì điu đáng nói là Đng Cng sn Vit Nam xưa nay rt gii ch huy đánh M, đánh Pháp, đánh bt c đế quc phương Tây nào, nhưng li hoàn toàn bt lc trước ông bn đng chí Trung Quc. Nht là t sau khi có tha thun trong Hi ngh Thành Đô, nhng ban lãnh đo các khóa v sau này c chp hành theo nhng tha thun đó ch không dám thay đi. Vy thì trong Đi hi này dt khoát phi gii quyết vn đ đó.
Th hai là v mt kinh tế. Va ri, sau khi đã m ca phát trin kinh tế mt thi gian, nâng được tc đ tăng trưởng lên – nhưng cũng mt phn là nh tin đi vay – thì bây gi nước ta bước vào cái ngưỡng gi là thu nhp trung bình. Tôi không rành v kinh tế lm nhưng được biết có mt chuyên gia Nht Bn phát biu rng Vit Nam có th rơi vào “cái by thu nhp trung bình”. Theo tôi hiu, điu đó có nghĩa là khi vượt t mc thu nhp kém lên đến mc thu nhp trung bình mà anh làm ăn d thì có th trong vòng 40-50 năm sau anh c loay hoay mãi trong “cái by thu nhp trung bình” đó ch không vượt lên được. Theo chuyên gia kinh tế người Nht Bn y thì vic rơi vào “cái by thu nhp trung bình” đã tr thành hin thc ri. Nếu không có s chnh đn thì chúng ta s gim chân mãi đó và có th s mt mt hai thế h chúng ta vn là mt nước nghèo. Như vy, phi làm ăn theo cách nào khác ch không th như cũ na.
Th ba là vn đ th chế chính tr. Nhiu người khi nói v ch nghĩa cng sn, ch nghĩa xã hi, ch nghĩa Marx thì ch yếu ch nói v kinh tế. Không phi như thế. Có mt tác gi người M, bà Sheri Berman, viết v dân ch-xã hi khong 2008, rt ging ý tưởng ca tôi trong cun Huyn thoi v mt Nhà nước t tiêu vong: cái phân bit gia nhng người cng sn và nhng người dân ch-xã hi chính là vn đ chính tr ch không phi vn đ kinh tế. Nhng người dân ch-xã hi chn con đường chính tr là mt chế đ dân ch, t đó h mi bt đu thay đi đường li kinh tế ca h, trong khi nhng người cng sn li chn con đường chính tr là chuyên chính vô sn, nghĩa là chn chế đ đc tài ch không chn chế đ dân ch, cho nên v kinh tế h đi theo mt hướng hoàn toàn khác và rơi vào bế tc. Cho nên chính tr là quan trng nht, thay đi chế đ chính tr thì s chuyn được nhiu th. Nếu ch thay đi kinh tế thì cũng không gii quyết được gì. Nếu ch thay đi chính tr tng phn hoc ch thay đi mt mc nào đó, cũng không gii quyết được vn đ.
Ngày xưa, Min Nam tôi có nghe mt s giáo sư – nht là nhng người thiên t, hoc như nhóm ông Ngô Công Đc – hay nói v “ch nghĩa xã hi không-cng sn”. H cũng gii thiu Thy Đin, nhưng rt tiếc là không có ai trình bày rõ Thy Đin là như thế nào, Bc Âu là như thế nào. Mãi sau này tôi mi nghiên cu li đ tài đó, và tôi thy các nước Bc Âu h gii quyết vn đ da trên chế đ dân ch. Nh đó mà h gii quyết được rt nhiu vic trong đó có vn đ bo v t quc, bo v ch quyn. Mc dù h là nhng nước nh, đng gia các cuc xung đt ca các cường quc, nhưng h vn gi vng được nn đc lp, vn phát trin được kinh tế, đem li đi sng tt đp cho nhân dân. Tt nhiên mô hình ca h bây gi cũng gp khó khăn trong giai đon toàn cu hóa này, nhưng tôi nghĩ ri đây h cũng s tìm ra được con đường đi thích hp, bi vì h da trên chế đ dân ch. mt mc đ nào đó, tôi nghĩ Đi hi 12 này cũng phi đt vn đ đi mi chính tr ch không th b qua được.
(Còn tiếp 1 kì)
Phần 3: Thoát Trung, thoát Cộng
Tháng 5 27, 2014
Xem kì 1kì 2 và toàn bài trong bản PDF

Lý Kiến Trúc: Ông vừa đề cập một động thái mới diễn ra ở Biển Đông, với giàn khoan HD-981 của Trung Quốc. Theo ông, động thái đó thể hiện ý đồ xâm lược, ý đồ Hán hóa Biển Đông của Trung Quốc đến mức nào?
Mai Thái Lĩnh: Đầu năm 2001, sau khi vừa thoát khỏi vụ án “phản bội tổ quốc”, tôi bắt đầu chú ý đến vấn đề này. Rồi có việc anh Bùi Minh Quốc khi ra Bắc chỉ vì muốn đi xem các cột mốc biên giới mà cũng bị bắt, đem về quản chế thêm hai năm. Rồi trong dư luận người ta đặt vấn đề “Ải Nam Quan có mất hay không”, “Thác Bản Giốc có mất hay không”? Khi đi vào nghiên cứu, tôi mới thấy rõ rằng căn nguyên của chuyện mất đất này chính là do một quan niệm rất sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ đã có một thời gian tin vào chủ nghĩa cộng sản. Họ tin rằng biên giới quốc gia không quan trọng bằng biên giới của phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên đối với  đường biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc, họ rất lơ là, mà chỉ chú ý, chỉ lo đến việc thống nhất đất nước. Tức là chỉ lo đánh vào Miền Nam thôi, không lo gì đến phía Bắc, cũng không lo gì đến các vùng đảo. Sau năm 1954, “giải phóng” được Miền Bắc, đáng lẽ công việc đầu tiên của một quốc gia là phải vẽ lại các bản đồ của đường biên giới, hiện đại hóa các cột mốc thì họ lại không làm. Cho nên sau này, khi đàm phán thì chẳng có bản đồ, Trung Quốc đưa cái bản đồ nào thì xài cái đó, chứ tôi thấy mấy ông lãnh đạo không đưa ra được cái bản đồ nào của phía Việt Nam. Theo cuốn sách thời 1979 tố cáo Trung Quốc thì Việt Nam lại đưa bản đồ cho họ in giùm, thế là họ lại sửa trên cái bản đồ đó. Như vậy chứng tỏ họ rất lơ là ý thức bảo vệ chủ quyền ở biên giới. Họ cho rằng cách mạng cứ thắng được ở nơi nào là phe “xã hội chủ nghĩa” mở rộng ở chỗ đó, đó mới là điều quan trọng, còn biên giới giữa các nước “anh em” với nhau thì họ không chú ý. Trong lúc đó, phía Trung Quốc lại rất chú ý việc mở rộng biên giới. Do vậy mà chúng ta bị thua thiệt trong việc đàm phán biên giới. Trung Quốc lấn chiếm đường biên giới trên bộ, một mặt là để giảm khả năng phòng thủ của Việt Nam. Mặt khác họ muốn tuyên truyền với nhân dân Trung Quốc rằng các triều đại ngày xưa chưa lấn được Việt Nam, còn giờ đây “chúng ta giỏi hơn, chúng ta lấn được Việt Nam”. Bây giờ họ kích động tinh thần dân tộc của người Trung Quốc lên cao và đi xa hơn nữa, nhất là từ khi họ cảm thấy Việt Nam nhượng bộ họ ở đường biên giới trên bộ. Sự nhượng bộ đó chính là một khuyến khích rất lớn đối với người cộng sản Trung Quốc để họ tiếp tục xâm chiếm ở Biển Đông.
Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa từ 1974. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam đương nhiên có lên tiếng tố cáo rõ ràng, nhưng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc thì không hề có một văn bản nào lên án Trung Quốc. Chưa thấy có ai trưng ra được một văn bản nào như thế, mà lại có Công hàm của ông Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958. Bản Tuyên bố của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận của Trung Quốc ngày 4/9/1958 có nói rõ về Tây Sa, Nam Sa; không lẽ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không nghiên cứu để biết Tây Sa, Nam Sa là cái gì mà cứ ký hay sao[1]? Từ chỗ đó, Trung Quốc thấy Việt Nam có vẻ nhượng bộ, thế thì họ lấn tiếp. Về cách mà họ lấn tiếp thì theo tôi thấy, một mặt họ tăng cường lực lượng quân sự để đe dọa. Mặt khác, họ hợp lý hóa dần dần bằng cách “bây giờ đất đó là đất của tôi, tôi đưa giàn khoan khai thác ở đó”. Tôi nói giả định như mai mốt họ biến quần đảo Hoàng Sa thành một thứ như Hong Kong hay Ma Cao chẳng hạn, thế thì người dân Trung Quốc ở đó có thể xin nhập cảnh vào Việt Nam ngay từ một vùng đất của Việt Nam. Họ cứ làm như thế, mà Việt Nam thì cứ tuyên bố là bảo vệ tình hữu nghị, trong khi Trung Quốc chỉ hữu nghị trên giấy tờ, hữu nghị bằng mồm chứ trong thực tế thì không. Đến bây giờ mà ta vẫn chỉ phản đối họ bằng những câu yếu ớt như thế thì không giải quyết được vấn đề gì hết.
Lý Kiến Trúc: Vậy theo nhận định của ông về tình đồng chí giữa hai đảng cộng sản, có thể có một sự thỏa hiệp về lãnh hải hai nước trên Biển Đôngkhông?
Mai Thái Lĩnh: Do tin vào chủ nghĩa quốc tế vô sản, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam các thế hệ trước đã lơ là về biên giới, trong khi phía Trung Quốc lại đầy chủ mưu. Bây giờ, những người lãnh đạo cộng sản thuộc các thế hệ sau lại không có can đảm thoát ra khỏi cái di sản đó. Như tôi đã trình bày trong cuốn Huyền thoại về một Nhà nước tự tiêu vong, chủ thuyết đó là do Lenin ở vào thế bí, muốn bảo vệ nước Nga nên mới kêu gọi mấy anh nhỏ nhỏ (các dân tộc bị áp bức) ra sức bảo vệ cái thành trì của phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô. Thế thì chỉ có lợi cho Liên Xô chứ có lợi cho ai khác đâu. Không một nước nhỏ theo hệ thống cộng sản nào không lệ thuộc vào một anh lớn, trừ Tito. Nhưng Nam Tư và Liên Xô là hai nước cách bức nhau chứ không cùng biên giới. Còn Việt Nam thì lại sát với Trung Quốc, hàng nghìn năm nay bị Trung Quốc xâm lấn. Nếu các nhà lãnh đạo hiện nay không có can đảm dứt khoát vứt bỏ chủ thuyết cộng sản, không chịu suy nghĩ lại để ý thức được tinh thần dân tộc thì mất nước là chuyện dĩ nhiên, bây giờ dù có kêu gào cách mấy cũng không giải quyết được.
Lý Kiến Trúc: Ông có cho rằng sự kiện giàn khoan là phản ứng của Trung Quốc trước việc vừa rồi ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn tổ chức cho Việt kiều đi thăm Trường Sa để khẳng định Trường Sa là của Việt Nam không?
Mai Thái Lĩnh: Tôi nghĩ, với Trung Quốc thì ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn không quan trọng. Họ muốn đối phó với ông Nguyễn Tấn Dũng hơn, vì Thủ tướng Việt Nam từng tuyên bố trước Quốc hội rằng Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp, và ông ấy cũng từng có ý định tổ chức tưởng niệm về Hoàng Sa ở Đà Nẵng hay ở nơi nào đó nhưng không thực hiện được. Bây giờ thì họ trả lời cho Việt Nam. Họ bảo “Hoàng Sa chính là đất của chúng tôi, bây giờ chúng tôi đưa giàn khoan dầu tới đó, anh đụng vào nó thì chúng tôi sẽ đưa lực lượng quân sự tới”, và nếu tiếp tục cái đà này thì họ sẽ không chỉ làm ở Hoàng Sa mà tiếp tục làm ở Trường Sa…, dần dần họ sẽ lấn chiếm toàn Biển Đông. Còn Đảng Cộng sản Việt Nam, trước kia trong chiến tranh chống Mỹ, họ luôn nói rằng thắng lợi thực tế trên chiến trường mới là quyết định chứ không phải trên bàn ngoại giao. Bây giờ mấy ổng lại đổi ngược lại, bảo rằng ta sẽ không đánh nhau vì như thế là đụng tới tình hữu nghị, đụng tới hòa bình thế giới, ta chỉ nói tới vấn đề pháp lý thôi. Từ chỗ lấy sức mạnh trên chiến trường làm chính, nay thụt lùi thành cái đường lối ngoại giao “chỉ đấu tranh pháp lý” với một anh chàng chỉ biết dùng vũ lực. Với Nhật Bản, một cường quốc kinh tế,  mà Trung Quốc còn muốn tranh chấp thì Việt Nam là cái gì khiến họ phải sợ? Hơn nữa họ cũng biết rằng, nếu “trị” được Việt Nam thì chắc chắn Đông Nam Á sẽ rúng động.
Lý Kiến Trúc: Còn cảm nghĩ của ông trước sự leo thang xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông, thưa ông Hà Sĩ Phu?
Hà Sĩ Phu: Sự kiện giàn khoan chỉ là một bước tất yếu trong toàn bộ tiến trình xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, khởi đầu từ khi mở cửa biên giới năm 1950 trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Toàn bộ cuộc xâm lược rất bài bản đó dựa trên yếu tố cộng sản, khai thác và tận dụng sự chọn lầm đường của Việt Nam, một nước nhỏ và lạc hậu mà đi vào quỹ đạo cộng sản ảo tưởng nhưng độc tài, tách khỏi khối văn minh nhân loại để chui vào vòng tay của hai đế quốc cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc.
Nước nhỏ muốn thoát khỏi tay nước lớn cần đến 5 yếu tố: cần cảnh giác đề phòng trước, cần giữ khoảng cách, cần phơi bày công khai, cần dựa vào dân và cần liên kết với các nước lớn khác. Nhưng Đảng CSVN đã cố tình và kiên quyết chọn cách làm ngược lại tất cả những yếu tố tự cứu ấy, vậy thì ván cờ đã biết trước kết quả. Kiên quyết đi sâu miết vào tử lộ một cách đầy hứng khởi, nay tỉnh ngộ cũng đã muộn huống chi còn chưa tỉnh ngộ.
Trong câu chuyện ngắn ngủi này tôi không thể phân tích cặn kẽ những sai lầm ấy, chỉ xin nêu mấy bế tắc chính:
Muốn thoát Tàu cần phải thoát Cộng, nhưng quyền lực và quyền lợi đã giữ chặt những người cầm quyền trong vòng kim cô cộng sản, dù họ chẳng còn tin gì vào chủ nghĩa này. Trong thế tự kìm chân nhau, kẻ nào muốn thoát ra sẽ bị diệt ngay, trốn khỏi băng ma túy sẽ bị đồng bọn tiêu diệt.
Nhưng giả thiết một điều không thể có, giả thử toàn bộ giới lãnh đạo ViệtNammuốn từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thì cũng không bỏ được trước vòng kim cô Trung Quốc. Trung Quốc muốn thôn tính ViệtNamtrong chiến lược êm như tằm ăn dâu thì buộc ViệtNamphải là nước cộng sản. Trung Quốc thừa sức thực hiện sự ép buộc rất cộng sản, rất “tình nghĩa” đó.
Lối thoát bằng liên minh chiến lược với Hoa Kỳ đã được tính đến từ lâu, nhưng Đảng CSVN không muốn tự xóa “vinh quang” của mình bằng con đường đó. Bây giờ có muốn cũng đã muộn. Chẳng những Hoa Kỳ cần một cường quốc Trung Hoa thứ nhì thế giới hơn một nước ViệtNamcộng sản rất ít thực tâm, mà Hoa Kỳ cũng không thể thắng Trung Quốc trên địa bàn ViệtNam, khi Trung quốc đã chiếm lĩnh trận địa một cách toàn diện. Liên minh muộn mằn với Hoa Kỳ nếu có cũng chỉ cải thiện tình hình phần nào mà thôi.
Lối thoát bằng gia tăng quân sự, nhất là mua vũ khí từ Nga, một nước đang xích lại gần Trung Quốc thì chẳng có ý nghĩa gì ngoài tâm lý tự trấn an. Vả lại, trong phương sách giữ nước thì chính trị cao hơn quân sự, chính trị sai lầm thì quân sự cũng vô ích.
Lối thoát theo con đường Putin, một thứ cộng sản biến tướng, độc tài và tham nhũng? Nếu xuất hiện một Putin tại ViệtNam, Trung Quốc sẽ thừa sức mua hoặc diệt Putin đó bằng tất cả sức mạnh của mình.
Lối thoát duy nhất là dựa vào lòng yêu nước của dân đứng lên chống giặc. Nhưng lâu nay Đảng sợ dân hơn sợ Tàu, sợ dân chủ hơn sợ mất nước. Đảng đã tước vũ khí của nhân dân một cách toàn diện và trở thành đối lập với dân lâu rồi. Nhân dân đang trắng tay, dễ gì chống cả nội xâm lẫn ngoại xâm đang cấu kết?
Tuy vậy, chỉ có từ nhân dân mới hé ra hy vọng, vì sức mạnh của nhân dân luôn là một ẩn số, nó dao động từ sức mạnh của một đàn cừu đến một sức mạnh Phù Đổng, phá hết mọi gông xiềng, không ai có thể biết trước. Sự đột biến của nhân dân không tách rời sự thức tỉnh của lực lượng trí thức tinh hoa và sức mạnh của thế giới tiến bộ và các nước lớn văn minh.
Tôi nhìn vụ giàn khoan HD-981 trong bối cảnh như vậy.
Lý Kiến Trúc: Để tạm chấm dứt cuộc trao đổi hôm nay, thưa ông Hà Sĩ Phu, thưa ông Mai Thái Lĩnh, hai ông có cho rằng giải pháp cuối cùng để Việt Nam cất cánh cùng thế giới là phải giải thế Đảng Cộng sản và chia tay hoàn toàn với Trung Quốc về ý thức hệ? Và điều đó có thể xảy ra không?
Hà Sĩ Phu: Không hiểu sao, ngay trong những ngày Tết Con Ngựa tôi đã linh cảm thấy một cái gì bất thường, sôi động sẽ đến trong năm 2014, mặc dù phía nhà cầm quyền vẫn tỏ ra kiên định trong mọi quyết sách và cách ứng xử. Tôi có ra một vế đối thế này: “Đánh cho dân tộc tan hoang, trận đánh đẹp đáng ghi vào lịch sử“. Có một cái tích là đại tá công an Đỗ Hữu Ca chỉ huy một “trận đánh”, dùng cả quân đội lẫn công an, bố trí mọi thứ y như một trận đánh địch để đánh vào dân oan rồi tuyên bố đây là một trận đánh đẹp và đáng ghi vào sách. Tôi nhại luôn câu đó. Nói về chiến công của Đảng Cộng sản Việt Nam thì đánh Pháp là chuyện nhỏ, đánh Mỹ thì không đâu vào đâu, đánh Trung Quốc thì đánh xong lại phải xin lỗi, cũng không phải là chiến công gì ghê gớm, chỉ duy cái chiến công mà tôi cho là to lớn nhất của Đảng là đánh vào chính dân tộc Việt Nam, sử dụng rồi làm triệt tiêu tất cả những ưu điểm của dân tộc. Dân tộc nào cũng có phần ưu phần nhược, nhưng đặc biệt dưới thể chế cộng sản thì những nhược điểm lại được khuếch đại, còn những ưu điểm bị tiêu mòn. Dân tộc Việt Nam vốn rất nhân ái, sao bây giờ cái thú tính lại ghê thế, giết nhau như bỡn, ngày nào cũng có hàng chục trận giết nhau? Hay là, một dân tộc rất yêu nước, thế mà bây giờ cứ sợ nói yêu nước, nói chuyện yêu nước là “run như cầy sấy”, y như là đi ăn trộm. Tóm lại, ai đã đánh cho dân tộc Việt Nam mất hết tất cả những truyền thống tốt đẹp đó? Trước đây Pháp tám mươi năm đô hộ không đồng hóa được Việt Nam, Tàu một nghìn năm đô hộ không làm mất được cái chất dân tộc Việt Nam, thế mà chỉ có mấy chục năm cai trị của Đảng Cộng sản là mất đến tận gốc! Tôi xin dùng lại chữ của ông Dương Trung Quốc là“chúng ta ngày nay đã bị mất gốc hoàn toàn”. Tôi cho rằng đánh được cho dân tộc Việt Nam mất gốc hoàn toàn thì đấy là chiến công đáng ghi vào sử sách nhất và rõ ràng nhất, không ai có thể cãi được là của Đảng!
Vế đối của tôi tưởng đã là ghê gớm, nhưng cái vế của người ứng đối cũng sắc sảo không kém. Đó là một nhân vật tên là Mai Xuân Hương, giới thiệu trên trang Ba Sàm, một trang chuyên về chính trị, kinh tế, ít đi vào văn học. Ông ấy đối rằng: Tiêu vì chiêu bài giải phóng, lính đánh thuê sao gọi đấy anh hùng”. Tiêu tức là chết, vì cái chiêu bài giải phóng Miền Nam. Một cái Miền Bắc chưa văn minh, lại đánh vào Miền Nam là cái anh ở trong một hệ thống tuy còn là dân chủ sơ khai nhưng cũng là cái văn minh bình thường của thế giới, tóm lại là một nền văn minh kém lại đòi giải phóng một nền văn minh cao hơn. Chính vì thế mà chết, cho nên “Tiêu vì chiêu bài giải phóng”. Nửa thứ hai của vế đối này mới ác: “Lính đánh thuê sao gọi đấy anh hùng”. Lấy “lính đánh thuê” đối với “trận đánh đẹp“! Câu này muốn nói rằng mọi cuộc chiến tranh của ta chẳng qua là đánh thuê, đánh thuê cho Liên Xô, đánh thuê cho Trung Quốc. Chính ông Lê Duẩn đã công nhận rồi, ông ấy nói là ta đánh đây cũng là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc! Nhưng có một điều mà ít người nghĩ tới là cả dân tộc mình đánh thuê cho Đảng Cộng sản Việt Nam! Bỏ rất nhiều sinh mệnh, tài sản, công lao vào chiến tranh, để rồi sau đó chiến công, thành quả có cái gì là Đảng giữ hết chứ dân được gì đâu, được mấy cái ghế của 14 ông vua và một tập đoàn lợi ích nhóm! Tóm lại nhân dân là lính đánh thuê với giá rất rẻ cho Đảng. Mà đã gọi là lính đánh thuê, hy sinh trong ngộ nhận thì không thể gọi là anh hùng, thậm chí khó gọi là liệt sĩ dù cho sự hy sinh đó là phi thường, là rất đáng cảm phục! Nỗi cảm thương và hối tiếc quá lớn cho dân tộc ngót một thế kỷ, tất cả nay cần được định danh hết lại cho đúng.Cũng vì thế, trong những câu đối năm Con Ngựa này tôi đã dành 3-4 câu  để xét lại cái lô-cốt cuối cùng: Dân Việt nuôi con ngựa Hồ khác nào nuôi “ngựa thành Troy”?
Mai Thái Lĩnh: Qua việc nghiên cứu và phê phán chủ nghĩa Marx, khoảng năm 2004-2005 tôi tình cờ đọc được một số tài liệu về ông Phan Châu Trinh. Bây giờ tôi mới thấy cái nhìn của ông Phan Châu Trinh thật sự là đúng đắn. Tôi đã có dịp trình bày qua một số bài viết, và sắp tới cũng còn phải viết nhiều nữa, bởi vì những tài liệu về Phan Châu Trinh hiện còn ít và rải rác. Nhất là về giai đoạn ông qua Pháp thì rất ít người biết, những người biết thì lại cố tình diễn giảng nó theo một hướng khác. Ví dụ có người diễn giảng rằng ông Phan Châu Trinh ở gần ông Nguyễn Ái Quốc mà tại sao không tiếp thu cái tinh hoa của ông Nguyễn Ái Quốc, nhưng thật ra ông Nguyễn Ái Quốc không thể nào có tầm tư tưởng bằng ông Phan Châu Trinh được. Ý tưởng đúng đắn nhất của ông Phan Châu Trinh về vấn đề chủ quyền là: một đất nước chỉ có thể được giữ gìn khi giao nó cho toàn dân, chỉ có toàn dân mới giữ gìn được một đất nước, chứ không có một gia đình nào, một dòng họ hay là một đảng phái chính trị nào, dù tập trung quyền lực trong tay, có thể gìn giữ được.
Lý Kiến Trúc: Xin chân thành cảm ơn hai ông.
© 2014 Lý Kiến Trúc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh & pro&contra



[1] Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải ngày 4/9/1958
“Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:
(1) Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Ðài Loan và Bành Hồ hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Bành Hồ đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoài không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc”.
Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai ngày 14/9/1958:
“Thưa đồng chí Tổng lý
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.
Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”
Xem thêm: “Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam“, bài viết của Sam Bateman trên Eurasia Review ngày 15/5/2014, bản dịch của Đoan Trang.
(Chú thích của pro&contra)


No comments:

Post a Comment