Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

Tôi làm “chính trị” Những kỉ niệm và trăn trở(4,5,6)


Tôi làm “chính trị”
Những kỉ niệm và trăn trở(4,5,6)
Hồi ký 
Nguyễn Trung 


Phần một: Vào đời 

Bangkok 12-1992 
Kỷ niệm những thách thức mất còn 

Trong các sự kiện Chiến tranh vùng Vịnh 1991, 

vấn đề quan hệ Việt Nam – Thái Lan, vấn đề Khmer đỏ 
Cũng trong khoảng thời gian tôi ở Bangkok, tháng 5-1991 anh Nguyễn Cơ Thạch ghé qua, trên đường đi Paris để giúp con gái chữa bệnh. Lúc này anh Thạch đã lĩnh đủ mọi hậu quả của Hội nghị Thành Đô. Việc nước việc nhà đau lòng, dáng dấp và sức khỏe anh Thạch suy sụp hẳn, anh em trong cơ quan rất thương anh Thạch. Những anh em biết về Hội nghị Thành Đô càng xót xa cho anh Thạch và cho đất nước! Song ý chí của con người này không lùi! 

Trong Bộ Ngoại Giao, thứ trưởng Trần Quang Cơ – nguyên đại sứ ta ở Thái Lan, tiền nhiệm của anh Lê Mai – là người phê phán bộc trực nhất Hội nghị Thành Đô, hoàn toàn ủng hộ quan điểm của anh Thạch và công khai bảo vệ anh Thạch. Anh Cơ nhiều lần chia sẻ với tôi nỗi đau của đất nước và của riêng anh về Thành Đô, bày tỏ lòng cảm phục và nỗi xót xa của anh đối với anh Thạch… Tôi học được ở hai người này rất nhiều… Tôi nghĩ: Thành Đô và tấm gương của anh Thạch là hai yếu tố góp phần nhất định vào quyết tâm của anh Cơ: Dứt khoát từ chối không nhận bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sau sự kiện Thành Đô. Đất nước này bây giờ, trước những thách thức khôn lường, những tấm gương như anh Nguyễn Cơ Thạch và anh Trần Quang cơ sao hiếm hoi như vậy! 

Anh Thạch yêu cầu tôi tham gia vào việc tổng kết đối ngoại Việt Nam mà anh đang rất muốn thực hiện. 

Phần thì thấy sức khỏe của Thạch không ổn như vậy, phần thì tình hình đất nước chưa chín muồi cho công việc hệ trọng này, tôi tìm mọi cách can ngăn anh Thạch, đồng thời bản thân tôi cũng dứt khoát từ chối tham gia. Đây là một quyết định đau lòng, nhất là tôi xưa nay vẫn coi anh Thạch là tấm gương về ý chí phấn đấu, là người thầy về lĩnh vực đối ngoại của mình. Hơn nữa cách dùng người của anh Thạch là “cú hích” đẩy tôi vào lĩnh vực kinh tế và phát triển, nhờ đó tôi trưởng thành nên một con người khác. Tôi rất hàm ơn anh Thạch điều này! Tính bộc trực trong công tác tôi cũng học được ở anh Thạch rất nhiều. Cuộc sống có những nỗi đau như thế! 

Hai chúng tôi đi nhiều vòng trong vườn hoa của đại sứ quán, có lẽ phải đến hàng giờ. Anh Thạch căn vặn tôi và nghe tôi nói là chủ yếu: Tại sao tôi từ chối đề nghị của anh!? 

Suốt câu chuyện, tôi nêu ra một số sự kiện và sự cố ngoại giao quan trọng, trình bầy nếu muốn tổng kết thì phải nói những vấn đề A, B, C… như thế này, sẽ đụng chạm đến quốc gia, quốc tế, nhân sự như thế này; ở một sự cố và sự kiện ngoại giao khác, thì lại có những vẫn đề D,F,G… khác, những vấn đề liên quan khác phải giải quyết… Tất cả đều chưa chín muồi để làm vào lúc này, hơn nữa dễ bị đối phương khai thác… Tôi nhấn mạnh chắc chắn anh Thạch biết tính nghiêm trọng và nhạy cảm của từng vấn đề còn sâu sắc hơn tôi, vân vân và vân vân… Có nhiều vấn đề phải tổng kết mà tôi chưa biết… Nếu tổng kết chỉ mang tính giúp cho biên soạn sách giáo khoa, thì anh nên dành cho người khác, vì sức khỏe của anh quan trọng hơn nhiều… Anh nên nghỉ ngơi phục hồi lại sức khỏe trước đã, khi thời gian đến sẽ hay… Tôi rất mong anh thanh thản, tĩnh tâm, lúc này lúc khác có điều gì khuyên bảo hoặc cố vấn cho chúng tôi.., như thế sẽ có lợi cho đất nước nhiều hơn … Nhất là tầm nhìn và suy nghĩ của anh về những sự vật đang diễn ra sẽ hết sức quý báu, rất mong anh chia sẻ với chúng tôi, những dự báo của anh về tương lai… 

Kết thúc câu chuyện, tôi nói vui, đại ý: Bây giờ xin phép đến lượt tôi làm cố vấn cho anh, câu chuyện của anh là chọn việc gì anh thấy đáng làm nhất lúc này trong hoàn cảnh của mình, nhưng xin tạm thời gác sang một bên câu chuyện làm tổng kết, dù cả Bộ Ngoại giao đều biết anh là vua tổng kết! Anh nên để việc tổng kết cho hậu thế… 

Anh Thạch miễn cưỡng đồng ý: 

- Cậu thật láu cá!.. 

Anh Thạch thường gọi tôi theo cách thân mật như vậy. 

Biết thế, nhưng tôi vẫn chưa yên tâm. Sau khi anh Thạch về nước, tôi còn viết một thư tay chạy theo đến phu nhân anh Thạch là chị Phúc (15-05-1991), kiếm cớ hỏi thăm, song nội dung thực chất là đề nghị chị Phúc hạn chế tối đa anh Thạch làm việc lúc này… Cố nhiên trong thư tôi không tiện nói về câu chuyện tổng kết! 

… 
Nhân đây xin nói vài lời về anh Thạch chung quanh câu hỏi rộ lên gần đây trên một số báo chí: Anh Thạch chống hay không chống Trung Quốc? 

Tôi không rõ hỏi như vậy nhằm mục đích gì. Và trả lời nhằm mục đích gì? 

Nhưng xin nói ngay, là một nhà ngoại giao lớn, anh Thạch không tư duy theo kiểu chống nước nào, theo nước nào… Suy nghĩ theo kiểu “pro & con” như thế là không hiểu gì về anh Thạch, nếu không muốn nói là có phần xúc phạm anh Thạch. 

Về Trung Quốc, có thể nói ngay anh Thạch chỉ chống những sai lầm của Trung Quốc trong đối xử với ta, đồng thời chống những suy nghĩ mơ hồ trong nội bộ ta về Trung Quốc và những sai lầm vì mơ hồ. Sự phê phán quyết liệt của anh Thạch trong nội bộ và phát biểu của anh về Hội nghị Thành Đô là một ví dụ điển hình. Đấy là ý chí tâm huyết và đầy trách nhiệm với tổ quốc, là tầm nhìn sắc sảo của một nhà ngoại giao lớn của đất nước. Anh Thạch không thể làm khác và đã không cho phép mình tự làm khác. Làm người thì phải như thế, nhất là ở cương vị của anh Thạch với tính cách là người con của đất nước, một nhân vật tiêu biểu và là thể diện quốc gia! Trung Quốc cay cú và quyết loại anh Thạch là việc của Trung Quốc. Còn việc lãnh đạo ta chấp nhận đến Hội nghị Thành Đô trong hoàn cảnh và với nội dung như vậy là sai lầm của lãnh đạo ta hồi ấy[1]. Lịch sử cần được nói lên rành rẽ như vậy, để rút ra bài học. Nói dối hay xuyên tạc không bao giờ thay đổi được sự vật đã diễn ra và luôn luôn là thuốc độc. 

Có một điều đến nay chưa thấy ai nói đến: Sau Hội nghị Thành Đô, đội ngũ lãnh đạo của đất nước ta từ đây suy yếu hẳn và đi vào thời kỳ xuống cấp mới! – tôi nghĩ như vậy. 

Anh Thạch là người hiểu rõ Trung Quốc và mọi khía cạnh của quan hệ Việt – Trung, luôn tìm cách xây dựng quan hệ Việt – Trung trên những quan điểm đúng đắn. Suốt thời kỳ lãnh đạo của anh Thạch, Bộ Ngoại giao chưa có một việc nào có thể coi là “anti China!”, mà chỉ có sự bác bỏ những chính sách và các bước đi của Trung Quốc chống Việt Nam mà thôi. 

Những ai thường được dự những buổi giao ban buổi sáng của Bộ có anh Thạch dự, chắc chắn còn nhớ những đánh giá tinh tế với những căn cứ xác đáng trong những phê phán của anh Thạch – nhiều khi rất quyết liệt – về Mỹ, về Liên Xô, về những cường quốc phương Tây khác trong những trường hợp những quốc gia này có những bước đi ngược lại với những đòi hỏi của Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Phê phán Trung Quốc trong những trường hợp như thế không phải là ngoại lệ hay đặc biệt gì cả! 

Có thể vì tôi một thời là vụ trưởng Vụ Châu Á 2, nên riêng tôi đặc biệt đánh giá rất cao công lao của anh Thạch trong giải pháp vấn đề Campuchia, bắt đầu từ việc anh sớm đề xuất vấn đề rút quân khỏi Campuchia – một quyết định không dễ, nếu không nói là quyết liệt trong tình thế rất khắc nghiệt của thời cuộc đất nước hồi ấy. 

Cũng xin nhấn mạnh, là một nhà ngoại giao lỗi lạc có nhiều cá tính, anh Thạch thực sự luôn luôn làm chủ cuộc đối thoại của mình trong mọi giao tiếp với các chính khách nước ngoài, đồng thời luôn luôn là ông hoàng trên mọi diễn đàn, đặc biệt là trên diễn đàn các nhà báo phương Tây. 

Hôm nay tôi còn nhớ mãi những buổi truyền hình tường thuật những cuộc họp báo của anh Thạch với phóng viên nước ngoài tại những hội nghị quốc tế - đương nhiên thời đó chủ đề là cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, sau đó thêm vấn đề Campuchia. Không bao giờ thiếu những câu hỏi gai góc của nhà báo, không hiếm những bình luận kèm theo rất xoi mói để làm khó cho người trả lời, xoáy vào những vấn đề rất nhạy cảm… Song người dẫn dắt đối thoại trong những họp báo như vậy lại là anh Thạch, chứ không phải là các nhà báo. Có lúc họ dành cho anh Thạch những tràng pháo tay tán thưởng – chuyện rất hiếm trong sinh hoạt báo chí quốc tế. Cũng có lúc họ rộ lên cười vì đồng tình với anh Thạch, song trước hết vì những câu trả lời thông minh và hài hước của anh, đầy hình ảnh, dễ hiểu nhưng rất sâu sắc, dư âm còn lại đến hôm nay... – nhất là liên quan đến chủ đề chính sách của Trung Quốc chống Việt Nam thời sau chiến tranh 17-02-1979 và vấn đề Campuchia, vấn đề Mỹ tiếp tục bao vây cấm vận chống Việt Nam… Một số lần tôi được dự những cuộc hội đàm của anh Thạch với chính khách nước ngoài, tôi thực sự ấn tượng với phong cách ngoại giao nói thẳng, nói thật của anh Thạch, cái gì không nói được thì không nói chứ không nói dối hay vòng vo theo kiểu ngoại giao, nhờ đó luôn luôn bàn được ngay vào thực chất của công việc. Tôi gọi đấy là ngoại giao của người lớn. 

Tôi hâm mộ nhà ngoại giao lỗi lạc có cá tính, anh Thạch là một chính khách như thế. 

Tôi rất trân trọng công đầu của anh Thạch trong việc hình thành nên một nền ngoại giao mới của Việt Nam thời bình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, việc xây dựng ngành và phát triển đội ngũ cán bộ ngoại giao theo những đòi hỏi mới của quốc gia trong thế giới hôm nay. Vấn đề chính của Bộ Ngoại giao hôm nay là cái vòng kim cô không được vượt qua, chứ không phải Bộ này năng lực yếu! Một con ngựa luôn luôn bị ghìm cương và đeo hai cái che mắt như thế, làm sao phi nước đại được? Những yếu kém vốn có làm sao khắc phục? Sớm muộn ngựa tốt thế nào đi nữa cũng sẽ thành ngựa tồi!.. Trong lòng tôi xót xa cho Bộ của mình, nhất là các thế hệ cán bộ hiện nay của Bộ so với chúng tôi được đào tạo có bài bản! Song trong lòng, tôi giận những bậc lão làng của Bộ có địa vị cao trong ĐCSVN nhưng không có can đảm giúp thế hệ con em mình loại bỏ vòng kim cô và hai cái che mắt này! Tôi đã đôi ba lần nhắc nhở các vị lão thành khi có dịp, nhưng nhận được sự thờ ơ. 

Bây giờ anh Thạch không còn nữa, nhưng thực sự tôi mong muốn lãnh đạo đương chức của Bộ nên tổng kết mọi việc phải tổng kết – ít nhất là cho riêng nội bộ của Bộ, vì lịch sử là tiếng nói cuối cùng và luôn luôn người thầy của hiện tại cũng như tương lai. 

Cũng với tất cả sự trân trọng này, tôi xin nói lên sự ngưỡng mộ của tôi đối với những đóng góp của riêng anh Thạch trong quá trình đổi mới kinh tế đất nước, cũng như đối với thành công của anh trong phát huy nhiệt tình và trí tuệ của toàn ngành ngoại giao tham gia vào công cuộc đổi mới chung này của đất nước trong lĩnh vực kinh tế. Hôm nay thế hệ ngoại giao chúng tôi có thể nói: Ngành ngoại giao của chúng ta hồi đó không phải hổ thẹn là đã không vắng mặt trong những nỗ lực chung của đất nước thời gian khổ có tính chất bước ngoặt này của đất nước, và đã có những đóng góp có hiệu quả - đặc biệt là trong xóa bỏ nền kinh tế bao cấp, đổi mới một số lĩnh vực kinh tế vĩ mô của đất nước. 

Vừa học vừa làm, với tất cả nhiệt tình và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Đó là hình ảnh anh Thạch mãi mãi trong tôi. 

… 
Để tưởng nhớ anh Thạch, xin phép kể thêm đôi điều. 

Trong đổi mới năm 1986, thành công nhất của Bộ Ngoại giao là những đóng góp do nhạc trưởng Nguyễn Cơ Thạch trực tiếp chỉ huy vào những vấn đề: Vai trò của thị trường trong kinh tế, vấn đề giá cả (xóa bao cấp), những tư duy sai lầm về giá trị thặng dư và vấn đề bóc lột, vấn đề tiền tệ nói chung, mối quan hệ tiền – hàng trong kinh tế vỹ mô, vấn đề lạm phát, vấn đề tỷ giá hối đoái, cách đánh giá một nền kinh tế, vai trò kinh tế đối ngoại, FDI, vấn đề cạnh tranh kinh tế… Vân… vân… Nói ra thì vài hàng chữ như vậy thôi. Song trong đời sống thực, đây là một cuộc vật lộn khủng khiếp nhiều năm của đất nước, nhằm loại bỏ những quan điểm, những vấn đề, hệ thống và phương thức vận hành của nền kinh tế kế hoạch quan liêu và bao cấp… 

Bộ Ngoại giao (trước hết những anh chị em trực tiếp tham gia) phải tìm mọi cách học từ A đến Z để có kiến thức và ý tưởng tham gia vào công cuộc đổi mới chung này của đất nước. Trong nước thì khai thác mọi thông tin, ở nước ngoài thì các đại sứ quán của ta ra sức thu thập kiến thức và sách báo – nghĩa là phải tìm mọi cách học mọi thứ và học triệt để những gì có thể học trong lĩnh vực kinh tế, ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của IMF và World Bank, UNDP… kinh nghiệm một số quốc gia, các trí thức Việt kiều… Tôi nhớ lại những lần làm việc như đánh vật với những chuyên gia kinh tế và tài chính mọi quốc tịch này, song dứt khoát không giấu dốt… Có như vậy mới biết đường mà tham gia… 

Chúng tôi còn nhớ mãi, thoạt đầu anh Thạch mang ở đâu về cuốn “Economics” của Paul Samuelson, không nhớ rõ edition thứ bao nhiêu, (hình như do anh Vũ Quang Việt biếu?). Anh giao cho chúng tôi xé ra làm nhiều phần theo các chương, rồi cùng nhau dịch, cùng nhau học, chỗ nào không hiểu thì tranh luận với nhau để hiểu, hoặc cố hỏi mọi nơi để mà hiểu… Nghĩa là nhạc trưởng bắt chúng tôi học từ ABC để làm việc mới… Khá nhọc nhằn. Ví dụ, chương tôi dịch có vấn “the elasticity of demand and supply”, vấn đề này quá xa lạ đối với tư duy kinh tế chính trị học của nền kinh tế kế hoạch hóa và quan liêu bao cấp, thậm chí là ngược! Từng từ từng câu của chương thì hiểu được, nhưng toàn bộ vấn đề chương này thì không! Sau này chúng tôi mới vỡ ra: Phải hiểu những vấn đề kinh tế vỹ mô khác có liên quan thì mới hiểu được chương này. 

Có một anecdote trong một tranh luận, một lão đồng chí quan trọng, rất lập trường, cứ khăng khăng thị trường dứt khoát chỉ thuộc về phạm trù của chủ nghĩa tư bản mà thôi, là nước XHCN dứt khoát phải là kinh tế kế hoạch thì mới không có bóc lột… Mọi lý luận để giải thích vẫn không sao thủng được cái đầu này. Lý thuyết không xong, anh Thạch yêu cầu chúng tôi tìm lý lẽ trong cuộc sống vậy… May sao tôi kiếm được bộ sử ký của Tư Mã Thiên, trong đó có quyển “Bình Chuẩn”. Anh em chúng tôi sướng quá. Theo tôi, có lẽ đấy là cuốn “economics” thô sơ đầu tiên của lịch sử nhân loại. Tư Mã Thiên không có kiến thức economics, song ông ta mô tả rất sống động và chi tiết về đời sống làm ăn kinh tế của nhà vua và đất nước ông, về mối quan hệ cung – cầu (ngày mùa thóc lúa rôm rả, giá hạ, giáp hạt thóc cao gạo kém giá đắt, khuyên vua lúc nào mua vào, lúc nào bán ra kiếm lợi…), càng cho phép các quan tự làm ra tiền thì giá cả càng lên (mối quan hệ tiền – hàng), khối lượng bạc hay vàng của tiền càng lớn thì sức mua lớn theo (chế độ bản vị của tiền)… v… v… v… v… Chúng tôi như bắt được vàng, đem ra giải thích bô lão này mới xuôi: thị trường xuất hiện trong mọi hình thái xã hội loài người ở các mức độ và hình thức khác nhau, có trao đổi ắt phải hình thành thị trường, chỉ tùy thuộc vào các hình thái chế độ chính trị-xã hội khác nhau mà thể hiện và vận hành của nó khác nhau, với những kết quả khác nhau mà thôi… Vứt bỏ vai trò của thị trường luôn luôn bị trả giá… 

Có một vấn đề mấu chốt cánh ngoại giao chúng tôi thất bại hoàn toàn cho đến hôm nay: Vai trò độc lập được hiến pháp bảo hộ của ngân hàng nhà nước! Đơn giản điều này trói tay quyền tùy tiện phát hành tiền, nên đố kỵ với bản chất của chế độ chính trị hiện hành của đất nước. Xin các anh chị đương kim trong vụ Kinh tế của Bộ Ngoại giao hôm nay đừng quên món nợ chưa trả được này đối với đất nước! Hồi đó chúng tôi rất “bám” đòi hỏi này, nhưng chúng tôi thua, mặc dù IMF, WB và UNDP hồi đó cung cấp cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm thành/bại về chủ đề này tại các nước đang phát triển! 

… 
Nhân đây xin kể lại tôi học anh Thạch như thế nào 

Khi nhận niệm vụ vụ trưởng Vụ Kinh tế, đầu tiên tôi tự hỏi mình: Phải làm gì, làm như thế nào? Phải biết gì để thực hiện nhiệm vụ? 

Hỏi mình chung chung như thế về nhiệm vụ được giao, công việc hàng ngày dẫn dắt tôi đến hỏi riêng cho từng vấn đề, cho từng vụ việc.., dựa vào đó mà đào bới kiến thức, sách vở, đặt ra cho mình cả chương trình “đào bới”… 

Nhiệm vụ và công việc lớn lên từng ngày theo đòi hỏi của đất nước – phải nói đấy là những năm tháng tôi ăn, thức, ngủ và sống với kinh tế - trước hết là với tất cả thông tin và sách báo với tới được. Quá trình này dẫn tôi đến câu hỏi lớn hơn: 

- Nếu được giao nhiệm vụ phải xây dựng một nền kinh tế của đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, tôi sẽ phải làm gì? 

Hỏi như vậy, có nghĩa ngay từ đầu tôi phải học những gì tôi cần, chứ không thể theo một chương trình giáo khoa nào, càng không thể có một trường nào giải quyết được yêu cầu của tôi cả! Vả lại trên đời không có loại những sách giao khoa và trường học nào đáp ứng được “thực đơn” của tôi yêu cầu như thế! Điều kiện kinh tế, vật chất, kỹ thuật và thời gian cũng không cho phép tôi học theo con đường như vậy. 

Dần dà tôi đi tới được kinh nghiệm tự tôi rút ra từ phấn đấu của chính mình: Đặt được câu hỏi đúng, có nghĩa là đã lần mò được tới vấn đề đặt ra và giải pháp. 

Trong thời gian ở Vụ Kinh tế, tôi tranh thủ mọi sự giúp đỡ của UNDP, WB và IMF và các chương trình giao lưu của những nước phát triển dành cho nước ta để học theo “thực đơn” tôi order. Nghĩa là xuất phát từ đòi hỏi của nhiệm vụ và công việc, nhất là từ những gì tôi chưa biết và đang phải đối mặt, tôi chủ động nêu nguyện vọng trước với các tổ chức tài trợ, chờ dịp có lớp hay hội thảo thích hợp họ sẽ mời. Cách làm này của tôi được lãnh đạo Bộ chấp thuận, hậu thuẫn, giúp đỡ thực hiện. Kết quả thu được chủ yếu là nhờ quyết định học theo “thực đơn” (order) như vậy! 

Trong thời gian này tôi đi khá nhiều nước, thường là các hội thảo mang tính tập huấn hay lớp học ngắn ngày, độ dài là vài ba ngày làm việc cho đến một tuần của những ngày làm việc. Nội dung chủ yếu là những vấn đề của chiến lược phát triển và vấn đề công nghiệp hóa của một quốc gia – một trường đời vô giá đối với tôi. Có thể nói, tôi đã có điều kiện tìm hiểu kỹ quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc, Nhật, Trung Quốc và môt số vấn đề lớn khác ở một số nước phát triển và mấy nước Bắc Âu… Mỗi chuyến đi là một “bồ” những điều mới lạ và sách báo mang về để cùng nhau tiêu hóa! 

…Tôi nhớ mãi đến hôm nay những điều tôi quan sát tại chỗ và học được của quá trình Thượng Hải đã dẹp bỏ ngành dệt truyền thống để dứt khoát chuyển sang phát triển thành một trung tâm kinh tế và tài chính tầm quốc tế của Trung Quốc như thế nào, bắt đầu từ xây dựng khu Phố Đông. Tổng cộng đến hôm nay tôi đã 3 lần đến đặc khu Thâm Quyến, khi mới bắt đầu thiết lập được mặt bằng và hình thành khu hành chính mới (lúc này khách đến thăm phải xin cấp thẻ ra vào và mua “tiền phiếu” – vì không cho tiêu nhân-dân-tệ hay ngoại tệ) trong nội địa khu, thời kỳ triển khai, thời kỳ phát triển, các kinh nghiệm hay / dở.… Với Hongkong tôi cũng có dịp tìm hiểu những đặc thù riêng của khu tô nhượng… Đi tìm hiểu trên thực địa chiến lược của Trung Quốc tạm thời “hy sinh” phía Tây để tập trung phát triển miền duyên hải phía Đông… Tôi cũng học được nhiều thứ của các Viện nghiên cứu của Hàn Quốc, mô hình các Chaebol, con đường công nghiệp hóa của quốc gia này, mô hình hợp tác nông nghiệp trong một nước đang công nghiệp hóa, chính sách đất đai… Tại Nhật, tôi bị câu chuyện xí nghiệp gia đình tham gia các sản phẩm công nghiệp của quốc gia thu hút – tôi đi thăm một số trong các chuỗi các gia đình sản xuất các linh kiện và phụ kiện cho công nghiệp ôtô Honda: ốc, vít, bình nhựa lọc khí của động cơ… Khi đi thăm Indonesia tôi thực sự ngạc nhiên có một xí nghiệp gia công sản xuất ghế máy bay cho một đơn đặt hàng của Mỹ… 

Có một lớp học ngắn ngày rất ấn tượng đối với tôi – chỉ khoảng 7 ngày làm việc – do UNDP tổ chức ở London, tôi được tham gia. Chủ đề là “3 trụ cột của một quốc gia trong quá trình phát triển: Kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự”. Học viên tất cả khoảng 20 người, phần lớn là các thứ trưởng, vụ trưởng của một số nước đang phát triển – từ châu Phi, Mỹ Latinh, châu Á duy nhất có Việt Nam là tôi. Nội dung không lý thuyết và triết lý xa xôi như “khế ước xã hội, “khai sáng”, “giải phóng”.., mà đi thẳng vào 3 trụ cột này, mối liên quan của nó, vai trò của bộ 3 này trong quá trình phát triển của một quốc gia. Tôi thấm thía: Phát triển và công nghiệp hóa không thể thiếu hay ra ngoài mô hình thể chế quốc gia như vậy, mặc dù thời gian sống ở CHLB Đức tôi đã quan tâm đến chủ đề này… Hay quá! Kết thúc lớp học, tôi tự thưởng cho mình: mua một mũ thể thao “Head”, còn giữ được đến hôm nay làm kỷ niệm – nó cũng gần 40 tuổi rồi!.. 

Những năm tháng này, học và làm việc hàng ngày còn dẫn tôi đến câu hỏi lớn hơn: 

- Sau cả một chặng đường 3 thế hệ gian khổ máu xương và với thực tế chúng ta đang sống, tổ quốc của chúng ta nên lựa chọn một đường lối phát triển nào là khả dĩ trong cái thế giới thực này? 

Hỏi được như thế, càng day dứt bao nhiêu, tôi càng lao sâu vào kinh tế bấy nhiêu… Từ các học thuyết Keynes, neo-Keynes, đến tân cổ điển.., chủ nghĩa trọng thương qua các thời kỳ và các vấn đề bảo hộ.., các chiến lược chiếm lĩnh thị trường từ inwards -, outwards-looking đến outsourcing.., và hôm nay là Trump đang nói nhiều đến back-wards from outsourcing, vai trò kinh tế trí thức[2], bây giờ là cách mạng công nghiệp 4.0… Con đường thành / bại của các nước đang phát triển… 

Càng hỏi, càng day dứt trong tư duy. Song tôi không có máu làm chính trị. Đơn giản vỉ tôi biết chắc nó không phù hợp với con người tôi. 

Có lần, khi ấy tôi đang là bí thư thứ 3 tại ĐSQ ta ở CHDC Đúc, ông chú họ tôi – Nguyễn Khai (phó ban Tổ chức Trung ương) – sang chữa bệnh, tôi được phân công trực tiếp phục vụ. Trước khi về nước, ông chú tôi khuyên tôi nên chuyển sang làm công tác đảng, vì đang rất cần những lớp trẻ như tôi, trước hết về ngay làm trợ lý cho ông. Tôi một mực xin tha, vì lệnh của chú có khác gì lệnh cha! 

Tôi thưa: 

- Nếu nhận cháu về, chú sẽ sớm thất vọng về cháu thôi ạ. 

- Tại sao? 

- Khi còn là sinh viên tại đại học Karl Marx, lúc bấy giờ cháu còn đang trong diện cảm tình đảng, suýt nữa cháu bị chi bộ đề nghị đuổi về nước. Vì trong một buổi họp bàn những vấn đề quan trọng, cháu đã phát biểu: “Chính trị là bẩn thỉu!” 

- ??? 

… 
Ngày 08-02-1992 tôi gửi Bộ Chính trị một báo cáo 47 trang, trình bầy đánh giá của tôi về toàn bộ tình hình đất nước và ĐCSVN, để góp ý chuẩn bị Đại hội VII. 

So với bây giờ, hiểu biết của tôi hồi ấy còn hạn chế lắm, song thẳng thắn nói những suy nghĩ của mình, chủ yếu trên một số vấn đề đường lối – chính sách về kinh tế và về đối ngoại. Trong đó tôi nhấn mạnh vai trò khu vực kinh tế tư nhân, vấn đề hòa hợp dân tộc, đường lối đối ngoại bám chắc không nghiêng ngả lợi ích quốc gia... 

Trong báo cáo này, sau khi đánh giá tình hình kinh tế đất nước, tôi trình bầy Bộ Chính trị 7 quan điểm cần xử lý để phát triển đất nước (trang 9-25, thực ra đó là nội dung, là chiến lược phát triển của một quốc gia, song tôi lựa chọn viết theo cách để mở như vậy cho đỡ gai góc). Đó là: 

1. Phải có một thể chế luật pháp, quản trị và điều hành tự do hóa nền kinh tế - thực ra tôi muốn nói phải có một nhà nước thích hợp cho nhiệm vụ này, song không thể viết thẳng ra như thế được. 

2. Vận dụng tối ưu nguyên tắc khuyến khích lợi ích từng con người và từng doanh nghiệp, cộng đồng... 

3. Thiết kế một nền tài chính lành mạnh do luật pháp bảo hộ. 

4. Thuế không đơn thuần chỉ để thu ngân sách, cần xây dựng một hệ thống thuế còn là một phương tiện điều hòa và đòn bẩy của nền kinh tế theo yêu cầu của chiến lược phát triển đặt ra; hệ thống thuế càng đơn giản và thuế suất càng thấp song kinh tế tự do có nhiều hàng hóa chịu thuế, nguồn thu ngân sách và khả năng tích lũy của nhà nước càng lớn và bớt được tham nhũng… 

5. Có cơ chế và chính sách đúng sẽ có tất cả và sẽ phát huy được tối ưu mọi nguồn lực của đất nước. 

6. Trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phải quán triệt quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng (sở dĩ phải nói thế này để giữ lập trường thôi, ngôn ngữ kinh tế là phát huy nền kinh tế nhiều thành phần) 

7. Nhìn nhận đúng và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân. 

Phần này kết luận: Đây là con đường phát triển đất nước, chứ không phải là bỏ CNXH để đi theo chủ nghĩa tư bản (nghĩa là tôi vẫn rất “lập trường” và không sai vào đâu được!). Song nếu coi CNXH là mục tiêu, chứ không phải là phương tiện, cũng phải làm như vậy… 

Về ĐCSVN trong báo cáo này tôi lưu ý: Có 4 nguyên nhân ĐCSVN đã làm nên thắng lợi thời chiến là (1) hiểu được quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, (2) đề ra được đúng lối đúng cho cách mạng, (3) tổ chức trong nhân dân thực hiện thành công, (4) bản thân đảng và đảng viên tiên phong xả thân và đồng thời gương mẫu thực hiện. Thời bình 4 ưu điểm này mai một, biên chế bộ máy của đảng quá cồng kềnh. Tôi nói rõ Đảng chưa bao giờ đông thế này; nhưng ngay trên đỉnh cao của chiến thắng, Đảng chưa bao giờ yếu kém như bây giờ. Đảng đang bị thách thức nghiêm trọng và biến dần thành đảng cai trị, cục bộ bè phái nặng nề. Đường lối xây dựng đảng thực ra chỉ giải quyết vấn đề nhân sự và chỉ làm “cùn” Đảng, đến một lúc nào đó sẽ bị nhân dân bác bỏ là điều không tránh khỏi (trang 46)… 

Trong toàn bộ báo cáo 47 trang này, tôi bỏ mọi thứ “chủ nghĩa” ra ngoài. Song tôi lại gửi báo Quan hệ Quốc tế của Bộ Ngoại giao bài “144 năm Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản”, đăng tháng 2-1992, mặc dù đây không phải năm chẵn kỷ niệm Tuyên Ngôn. Nội dung: Căn cứ vào thực tiễn kể từ khi có Tuyên Ngôn, sự thật cho thấy những diễn biến trên thế giới đến nay không giống như đã viết trong Tuyên ngôn; trích lại nguyên văn lời tự phê của Engels những biện pháp cách mạng của Tuyên Ngôn là sai… Tôi khuyến nghị nên đọc Tuyên Ngôn với con mắt hiện nay… Đơn giản vì hồi ấy tôi không thể viết toạc ra Tuyên Ngôn là sai, lại càng không thể đưa ý này vào những báo cáo gửi lãnh đạo… 

Đương nhiên, những thứ tôi viết ra và gửi đi như vậy chẳng bao giờ có hồi âm. Sự kiện nổi bật của khóa đại hội VII lại là Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (01-1994), đánh dấu thời kỳ thắt lại sau đổi mới 1986, và từ đây đất nước đi vào cuộc khủng hoảng toàn diện, cao điểm là 10 năm vừa qua. 

Kể lại những chuyện này, tôi thầm nghĩ nếu hôm nay tôi làm những việc nói trên, với những cái khung “19 điều cấm”, “quy định 102”, “quy định 105”… tôi chắc sẽ lĩnh đủ! 
Cũng trong thời gian này, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đi thăm chính thức Ấn Độ, khi dừng chân tại Bangkok muốn trực tiếp nghe tôi đánh giá tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của nước ta – tôi tự hỏi Bộ trưởng muốn sát hạch mình?.. Trình bầy của tôi chiếm gọn một buổi, sau đó tôi viết lại thành văn bản dài 53 trang, gửi về Bộ tháng 5-1992. Bộ trưởng muốn nghe, tôi còn muốn nói. 

Đây là dịp tôi trình bầy thẳng thắn sự sụp đổ của các nước LXĐA chủ yếu là do những nguyên nhân nội tại của hệ thống, không thể đơn thuần đổ lỗi cho Gorbachov-Yeltsin và CIA – dù rằng những yếu tố này có góp phần nhất định – (cho đến hôm nay trong Đảng vẫn có người nhận định Liên Xô sụp đổ là do Gorbachov và Yeltsin phản bội!). Tình hình đòi hỏi phải xem lại bàn cờ và xu thế của thế giới, CNXH như vẫn hiểu lâu nay (tập trung vào phe XHCN) không còn ý nghĩa thời đại. 

Tôi cũng trình bầy những suy yếu mới của Mỹ, những vấn đề Mỹ đang cố hạn chế xu thế đi xuống của mình. Sự phụ thuộc toàn cầu lẫn nhau gia tăng. Lưu ý Trung Quốc từ sau Đặng Tiểu Bình nhất quán khai thác xu thế toàn cầu hóa kinh tế để thực hiện chiến lược bá quyền, với tầm nhìn chiến lược sắc xảo, lựa chọn chính xác các bước đi – kể cả trong thực hiện những ý đồ Biển Đông và đánh chiếm các đảo của ta, tích tụ sức mạnh rất nhanh! – đây là thách thức quyết liệt đối với nước ta. 

Về đất nước, tôi nhấn mạnh phải có một nội trị bền vững mọi mặt – bao gồm thực lực, đoàn kết hòa hợp dân tộc, chế độ chính trị và nhà nước lành mạnh… - mới có thể có một chính sách đối ngoại đúng đắn và có hiệu quả. Đây là điểm yếu nhất của nước ta, trong khi đó thực tế khắc nghiệt là Đảng ngày càng bất cập, nhất thiết phải quan tâm khắc phục bằng được tất cả những yếu kém này! Vì những lẽ này, Việt Nam đang giữ vị trí rất thấp trong chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, nhất là những nước quan trọng, nước ta đang bị nhiều nước ăn hiếp. Ngoài ra ta cũng phải quan tâm đến một đường lối đối ngoại dấn thân vì các lợi ích chung của cộng đồng các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển để tập hợp lực lượng. 

… 
Thời kỳ làm đại sứ ở Thái Lan tôi được thực tế cuộc sống của đất nước này và những mối quan hệ của nó với thế giới kích thích suy nghĩ của mình, nên tôi báo cáo về nước nhiều vấn đề khác nhau, những kinh nghiệm đắt của họ, nhận định của tôi… – với nỗi lo lắng mà có lần tôi đã viết ra thành lời: 

Thái Lan hôm nay (lúc tôi đang sống ở đấy) sẽ có thể là một Việt Nam trong 20 năm tới, với nhiều bài học tệ hại, hoặc vào tình hình thực tiễn của nước ta sẽ có thể còn tệ hại hơn, nếu ta không chăm lo phòng tránh từ bây giờ!.. Có những cái Thái Lan đã làm được, nước ta có điều kiện có thể sẽ làm tốt hơn… 

Tất cả những gì tôi đã viết ra trong nhiệm kỳ này, tuy nói lên được một số vấn đề quan trọng, song nhiều điều nói chưa được đến nơi đến chốn, nhiều điều đã trở nên lạc hậu, có không ít suy nghĩ chưa đến tầm hoặc sai so với nhận thức mới hôm nay… Nhưng tôi đã viết với tất cả hiểu biết mình có hồi ấy và tấm lòng của mình. 

Duy nhất nỗi lo lắng nêu trên hầu như đang là sự thật ở nước ta, mà lẽ ra nhiều thứ ta có thể chủ động phòng tránh hoặc giảm thiểu được. Nhiều năm nay tôi vẫn không sao dứt mình ra được khỏi nỗi xót xa: Nước ta đã bỏ phí nghiêm trọng lợi thế của nước đi sau nên phải trả giá đắt, rất đắt.., nguyên nhân chính là ĐCSVN và chế độ chính trị có gen đề kháng hai chất sống cơ bản: Tự do và dân chủ. 

Bây giờ, vào năm 2018 này, câu chuyện lại khác mất rồi: Với nền kinh tế toàn cầu hóa thời cách mạng công nghiệp 4.0, việc đơn thuần chỉ vận dụng lợi thế nước đi sau không còn thích hợp cho hôm nay nữa! Đúng là thế giới chuyển động và biến động không ngừng! 

Sống hay chết, ở cục diện trật tự quốc tế mới thời cách mạng công nghiệp 4.0 hôm nay lại là: Phải biết tận dụng mọi nhân tố mới của sản xuất kinh doanh, của công nghệ, dịch vụ, để phát triển sản phẩm mới. Mỗi doanh nghiệp nói riêng và một quốc gia nói chung phải tìm ra sản phẩm riêng, thế mạnh riêng và lối đi riêngmới có cơ may tồn tại và phát triển, vì thế giới hôm nay đang dần dần đi vào một nền kinh tế khác, cách làm ăn khác... 

Xin nêu một ví dụ về một sản phẩm mới và lối đi riêng của Amazon, đó là bán lẻ trực tuyến thời hiện đại: Cách đây dăm sáu năm, Amazon chỉ là một chợ sách đơn thuần trên mạng. Hôm nay Amazon bán từ 1 cái chổiđót của Việt Nam, đến hầu như mọi sẩn phẩm trên thế giới này có người bán, để bán cho người mua ở khắp thế giới, mà Amazon không cần kho bãi, không cần cửa hàng, không cần đại lý, thậm chí với giá trị hóa đơn thanh toán mua hàng ở mức tối thiểu trở lên (tùy theo loại hàng) sẽ không lấy phí vận chuyển hàng (thực ra Amazon đã tính phí vận chuyển vào giá mua/bán hàng, hoặc phí quảng cáo của người làm ra sản phẩm để bán, thu phí quảng cáo và các dịch vụ khác nói chung để có thu nhập và có nguồn lực nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của toàn hệ thống), có phần mềm hiện đại và kỹ năng tổ chức các mạng công việc – networks – và các “chợ mạng” khác nhau, tận dụng internet – bưu điện – hệ thống giao thông vận tải hiện có của cả thế giới, có khả năng điều hành toàn bộ hoạt động hệ thống ở phạm vi thế giới – cốt lõi là hệ thống tin học thời CMCN 4.0… Tất cả để thực hiện được: Người mua chỉ cần một cái smart phone liên hệ tìm hàng và đặt hàng, được tư vấn trong quá trình mua hàng, và thanh toán, phương thức xử lý các khiếu nại… Toàn bộ quá trình giao dịch diễn ra qua trang web của Amazon là xong, hàng về đến người nhận theo đúng lịch, người mua có thể thực hiện mọi khiếu nại nếu hàng nhận được không như nội dung giao dịch..! 

Nói khái quát: Amazon làm được cái việc tận dụng các mối liên kết mạng và kết cấu hạ tầng sẵn có của cả thế giới để có hàng để bán lẻ ở mức cạnh tranh toàn diện cao nhất từ cả thế giới, cho người mua ở khắp thế giới! Amazon hiện nay là nhà bán lẻ trực tuyến lớn nhất thế giới, nhưng từ khoảng một năm nay đã bị Alibaba (Trung Quốc) đẩy xuống hàng thứ hai!.. Lợi thế lớn của Alibaba là có thêm sự hỗ trợ của dịch vụ thanh toán trực tuyến “Alipay” và “We chat”, cũng do Alibaba lập ra. Chủ tập đoàn Alibaba, Jack Ma: ai thống trị được dịch vụ sẽ thắng! 

Ví dụ này đủ cho thấy: Hôm nay đi đường mòn không còn chỉ là trâu chậm uống nước đục, mà gần như cầm chắc phá sản. Còn hơn thế, không thường xuyên dấn lên phía trước cũng sẽ mất chỗ! Viết tới đây tôi liên hệ đến dự án về 3 đặc khu kinh tế Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc và dự luật đi kèm đang gây nhiều tranh cãi cả nước, sẽ xin góp vài ý riêng ở phần ba của sách này. 

Hôm nay, năm 2018 này, sau chuyến đi thăm Thái Lan gần đây nhất của tôi, trong mắt tôi nước ta vẫn tụt hậu tiếp khoảng 20 năm so với Thái Lan – hoặc thậm chí có mặt còn xa hơn… Lại thêm những thách thức mới của thế giới hôm nay! Việc nước ta phải cạnh tranh sống còn chắc sẽ quyết liệt hơn nữa, thậm chí sẽ có thể rất nguy nếu cứ dùng dằng vừa tiến vừa lùi như hiện nay. 

… 
Một kỷ niệm vui: Bộ giao cho tôi nhiệm vụ đàm phán với đại sứ Hàn Quốc ở Bangkok thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước và trao đổi đại sứ (thành lập đại sứ quán). Nhiệm vụ hoàn thành nhanh chóng vì mọi chuyện đều thuận lợi. Vợ chồng tôi được Bộ Ngoại giao Hàn Quốc mời đi thăm xã giao, coi như miếng trầu là đầu câu chuyện. Bộ cho phép chúng tôi thực hiện chuyến đi này, thấm thoắt hôm nay đã là 25 năm! Có nghĩa tôi đã già nhanh quá! Tôi có dịp hiểu thêm quốc gia này. 

Một chuyện không được vui lắm liền ngay sau đó: Đại sứ Israel tại Bangkok chủ động gặp tôi, chuyển đạt đề nghị Israel muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, bất chấp lúc này Mỹ còn áp dụng cấm vận đối với nước ta. Báo cáo của tôi về nước không đem lại kết quả mong muốn, được giải thích nên chờ Việt Nam thêm chút nữa. Phía Israel không bỏ cuộc. Để tỏ thiện chí và sự sẵn sàng của mình, Israel đề nghị phía Việt Nam cho mượn một ít đất canh tác (có thể một hai chục ha – tôi đoán vậy) để giới thiệu một số mẫu canh tác nông nghiệp hiện đại của Israel… Kết quả bạn lại phải chờ… (sau đó tôi mãn nhiệm về nước). 

Trong khi làm đại sứ, tôi đã dành khá nhiều công sức thuyết phục phía Thái Lan cũng như thuyết phục phía Việt Nam: Thành lập một phân viện Học viện Công nghệ Châu Á (Asian Institute for Technology - AIT) tại Việt Nam. Đây là nơi đã đào tạo hàng trăm cán bộ kỹ thuật Việt Nam sau đại học, nhiều người thành đạt suất sắc, một số trở thành các vụ trưởng, thứ trưởng… trong các Bộ chuyên môn của nước ta. 

Có thể nói đến mức thế này, chỉ vài tháng sau khi đặt chân lên Bangkok tôi đã mê ngay học viện rất có tiếng tăm này, học viên đến từ nhiều nước châu Á, có những người trở thành bộ trưởng, thứ trưởng ở các quốc gia họ, trong đó có nhiều thứ / bộ trưởng và một phó thủ tướng ở Thái Lan, nước ta có bộ trưởng Trần Hồng Quân v… v… Trong khi tiến hành, tôi tự nói với mình: Tôi quyết chiến đến cùng để thực hiện bằng được ước mong này. Thuyết phục hai đầu cứ như hoạt động của con thoi, mệt vô cùng. Thú thực thuyết phục đầu phía Việt Nam khó hơn nhiều, việc lo địa điểm cho phân viện này ở Việt Nam còn khó nữa… 

Thế mà Phân viện AIT ở Việt Nam cũng 25 năm rồi! Thời gian đúng là luôn thù dai tôi! Song 25 năm cũng có nghĩa AIT ở Bangkok và AIT CV (ở Việt Nam) nếu muốn trụ được trong thế giới hôm nay, nhất thiết cần tự thay đổi trong diễn tiến của cách mạng công nghiệp 4.0 đang lan tỏa khắp thế giới… 
25 năm AIT CV cũng là bằng ấy năm tôi giấu trong lòng sự tiếc nuối và nỗi buồn sâu thẳm: Tôi thành công trong việc đưa được AIT CV về Việt Nam, nhưng tôi thất bại hoàn toàn trong hy vọng AIT CV sẽ là một gợi ý thiết thực, một cú hích, để Việt Nam tự nội lực của mình xây dựng nên cho mình một mô hình đào tạo như thế cho nền giáo dục nước nhà. Chuyện này hoàn toàn không xảy ra, trong khi đó hàng chục năm qua trong cả nước đã mọc lên hàng chục hàng trăm trường đại học rởm! Nghĩa là giáo dục nước nhà cũng đang mắc phải căn bệnh chung của quốc gia: Không chịu đi tìm con đường sống bằng phát triển nội lực của chính mình! 

Căn bệnh nền kinh tế quốc dân của chúng ta không có nội lực đang là căn bệnh vô cùng trầm kha của đất nước: Ta thu hút FDI không phải là để dựa vào FDI mà sống, mà là để có cú hích ban đầu và để có kinh nghiệm giải phóng, phát huy nội lực của chính mình, để ngày càng dựa vào nội lực của mình là chủ yếu, là quyết định để sống! Song đã 30 năm công nghiệp hóa – hiện đại hóa, với mọi nguồn lực trong ngoài huy động được vô cùng lớn, nhưng sức sống của nền kinh tế nước ta hôm nay vẫn phải dựa vào FDI là chính! Nguyên do hàng đầu là thiếu một thể chế chính trị / nhà nước khuyến khích mở ra con đường phát huy nội lực, để cho tham nhũng và ăn bám hủy hoại tất cả! 

Nền giáo dục nước nhà cũng đang be bét dang dở như vậy. 

Kính mong các thầy Phạm Phụ, Nguyễn Công Thành, Huỳnh Ngọc Phiên… của AIT và các AIT alumni nổi tiếng như bộ trưởng Trần Hồng Quân, tiến sỹ Tô Văn Trường.., nhiều nhà kinh doanh thành đạt, nhiều nhà khoa học và nhà quản lý… góp công sức với cả nước dựng nên nền giáo dục phải có của nước Việt Nam độc lập thống nhất trong thế giới quyết liệt hôm nay! 

Một nhiệm vụ khác cũng mở mắt cho tôi rất nhiều: Tôi dành mọi nỗ lực có thể hậu thuẫn nhóm cán bộ của ta trong Ủy ban thư ký Sông Mekong tại Bangkok, vì quyền lợi quốc gia đã đành, song nó còn là đấu tranh chính trị - ngoại giao giữa các nước liên quan, nhất là trong những vấn đề: Các mưu đồ hạ thấp hay vô hiệu hóa Ủy ban này, sự lấn át của Thái Lan, ý đồ vượt mặt và bỏ qua quyền lợi của Việt Nam… Nội dung kỹ thuật của vấn đề sông Mekong đã khó, thái độ chính trị của các nước không thân thiện với ta hồi ấy làm cho vấn đề phức tạp hơn, song phải nói có một số vấn đề phải thuyết phục trong nước không đơn giản chút nào! Tôi nể phục anh chị em ta công tác tại Ủy ban này về những nỗ lực chuyên môn và tinh thần bảo vệ lợi ích quốc gia – thật không đơn giản chút nào!.. 

Ngày nay vấn đề sông Mekong còn khó cho nước ta gấp bội, một mặt trận mới quyết liệt có tầm quan trọng sống còn đối với đất nước. Trên mặt trận này nước ta đang “đuối”, không chỉ vì ta có vị địa lý hạ nguồn, mà thực sự còn có rất nhiều hạn chế về năng lực đấu tranh với các quốc gia phía trên sông. 
Sự cố của cái duyên: Mọi việc chuẩn bị cho chuyến thăm chính thức Thái Lan đầu tiên của Thủ tướng Võ Văn Kiệt xong xuôi, rất tỷ mỷ từ A-Z cho mọi vấn đề trong toàn bộ nôi dung chuyến thăm có ý nghĩa này. Ngày mai Thủ tướng đến, tối hôm nay tôi chảy máu dạ dày cấp tính, phải đưa vào bệnh việc cấp cứu. Đây là lần tôi chảy máu dạ dày nặng lần thứ ba (hai lần trước một ở Đức, một ở Việt Nam, tôi sớm đau dạ dày từ năm 1959 chữa mãi không khỏi, dăm năm gần đây mới tàm tạm yên…). 

Cuộc đi thăm của Thủ tướng vẫn diễn ra suôn sẻ, người phó của tôi làm thay các nhiệm vụ của đại sứ. Tôi trở thành bệnh nhân nổi tiếng trong bệnh viện, vì được 2 Thủ tướng gởi hoa và quà vào hỏi thăm! Cả bệnh viện xì xào… 

Song chính kết quả của chuyến đi này – nói theo ngôn ngữ lãng mạn - tôi rơi vào mắt xanh của Thủ tướng. Kết thúc nhiệm kỳ ở Thái Lan đầu năm 1993, tôi được mời về Văn Phòng Chính phủ. Sự nghiệp 4 thập kỷ gắn bó với ngoại giao của tôi kết thúc. 

… 
Nhìn lại, hôm nay tôi có thể nói, những năm lăn lóc trên mặt trận ngoại giao của đất nước, đặc biệt là từ thời kỳ làm đại sứ ở Thái Lan cọ mặt với cả thế giới, tôi có điều kiện tiếp cận gần nhất những vấn đề sống còn của đất nước, hiểu thêm nhiều điều. Qua đó, nỗi day dứt của tôi về thân phận đất nước ngày càng dày vò tôi nhiều hơn! Tôi không bao giờ thích làm chính trị, hôm nay cũng vậy. Song nỗi day dứt cứ buộc tôi không tha vào những vấn đề chính trị của đất nước! 

Khi kết thúc cuộc đời ngoại giao, nhất là từ khi tôi là người tự do, tôi thực sự bước vào một cuộc chiến đấu mới – nói cho oai một chút là như vậy! Không hiếm lúc chùng chân, mỏi gối, hai tay muốn buông xuôi… Trong thâm tâm tôi thừa nhận: Nhân dân ta, đất nước ta bị thử thách lớn quá, không lúc nào dứt… Nhưng cũng tại chính chúng ta một phần không nhỏ - những người đã và đang tham gia vào sự nghiệp này!.. – từ đáy lòng tôi nghĩ như vậy. 

Chỉ có một niềm an ủi duy nhất: Tôi không phải xấu hổ với chính mình: Tôi không cưỡng lại được định mệnh buộc vào mình, song tôi đã nhìn thẳng vào nó… Và trước sau: Còn nước còn tát!… 
Xin cho phép tôi tại đây – cũng là cách hôm nay (06-05-2018) tôi nói lời chia tay muộn mằn với ngành đối ngoại đã làm nên con người tôi, với tính cách người lính già trên mặt trận đối ngoại, được lưu ý đôi điều theo nhận thức của tôi – dù đúng dù sai – để mong được tham khảo, bàn luận: 

1. Ngoại giao CHXHCNVN (tôi không nói đơn thuần về Bộ Ngoại giao) trong 43 năm đất nước độc lập thống nhất đầu tiên có nhiều nhiệm vụ thực hiện không bằng thời kỳ phải tiến hành bốn cuộc kháng chiến, nhất là trên phương diện tạo ra một tập hợp lực lượng thế giới mới mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời bình đòi hỏi. Về nhiều mặt cơ bản, ngoại giao CHXHCNVN không thực hiện được tốt nhiệm vụ chiến lược của nó là tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời bình, trên thực tế chủ yếu là bị động chống đỡ. Yếu kém này nói lên việc xác định lợi ích quốc gia vẫn bị tầm nhìn thế giới còn nhiều mặt hạn chế, ý thức hệ và lợi ích của chế độ chính trị chi phối. 

2. Trong thời kỳ này ngoại giao CHXHCNVN vấp nhiều thất bại nghiêm trọng nhất kể từ Cách mạng Tháng Tám: Ngoại giao CHXHCNVN chưa chủ động đóng góp được bao nhiêu vào nhiệm vụ xây dựng một nền nội trị mạnh của đất nước để làm nền tảng và hậu thuẫn cho đối ngoại. Nhìn chung vẫn là một nền ngoại giao chủ yếu thực thi nhiệm vụ được giao hình thành từ những đòi hỏi tình thế của đối nội, có nhiều nét bị động và đối phó, thành tựu đạt được có nhiều hạn chế; đất nước vấp phải không ít sai lầm chiến lược và thua thiệt lớn, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị uy hiếp và xâm phạm nghiêm trọng, lỡ những cơ hội lớn. 

3. Ngoại giao CHXHCNVN thiếu hẳn sự chủ động đóng góp phải có vào nhiệm vụ xây dựng một chiến lược lựa chọn cho quốc gia con đường phát triển nào, vị thế quốc tế nào nhất thiết phải giành lấy của một Việt Nam độc lập thống nhất trong một thế giới đã và đang thay đổi ngày càng quyết liệt. Về cơ bản, ngoại giao CHXHCNVN chưa được xây dựng trên nền tảng của (a) tầm nhìn chiến lược lẽ ra phải có phù hợp với vị thế khu vực và toàn cầu của quốc gia và sự giác ngộ sâu sắc nhất lợi ích quốc gia trong thế giới hôm nay, và (b)ngoại giao không dựa vào và phát huy sức mạnh của hòa hợp đoàn kết dân tộc, không có một nền nội trị vững mạnh làm nền tảng và hậu thuẫn. Nói cho công bằng: Trong thể chế chính trị hiện nay, đảng quyết định tất cả với tầm nhìn hạn chế khác hẳn với Trung Quốc, nên dù muốn nền ngoại giao hiện tại cũng không làm được. 

So sánh như sau để dễ nhận diện: 

- Ngoại giao Trung Quốc chiến đấu cho phục hưng đế chế Trung Hoa, ĐCSTQ nắm tuyệt đối quyền lực để phục vụ mục tiêu chiến lược này, ngọn cờ ý thức hệ CNXH đặc sắc TQ kỷ nguyên mới chỉ là phương tiện của mục tiêu chiến lược này. Từ ngày CHDCNDTH ra đời ngoại giao Trung Quốc kiên định mục tiêu chiến lược này bất luận mọi bước đường thăng trầm Trung Quốc đã phải trải qua. ĐCSTQ nắm quyền tuyệt đối và giương cao ngọn cờ ý thức hệ để thực hiện ngoại giao của đế chế Trung Hoa tìm đường phục hưng! 

- Trong khi đó ngoại giao CHXHCNVN lại lấy bảo vệ sự tồn tại quốc gia trong chế độ toàn trị của ĐCSVN làm gốc nhân danh độc lập dân tộc gắn với CNXH, ý thức hệ sai lầm của CNML lại trở thành ngọn cờ và định hướng cho quốc gia, trên thực tế dẫn tới đặt lợi ích đảng lên trên lợi ích tổ quốc. Cho nên ngoại giao CHXHCNVN luôn luôn trong trạng thái hoặc phải “leo dây”, hoặc phải theo ai / chống ai. Cho đến hôm nay ngoại giao CHXHCNVN chưa đặt ra cho mình mục tiêu chiến lược: Giành cho tổ quốc Việt Nam chúng ta chỗ đứng nào trong thế giới hiện tại. Vì không có khả năng đặt ra được mục tiêu chiến lược của quốc gia như vậy, ngoại giao CHXHCNVN không dựa vào nhân dân[3], không nuôi dưỡng sức mạnh của dân để phát huy truyền thống quốc gia, thậm chí chế độ toàn trị hôm nay đối nghịch và đang đánh mất dân. Một nền ngoại giao như đang có không thể đảm đương nhiệm vụ quốc gia nó phải làm. Toàn bộ thành tích ngoại giao đạt được 43 năm độc lập thống nhất vẫn chỉ là bảo vệ quốc gia trong sự tồn tại của chế độ toàn trị. So với Trung Quốc, có thể nói: ở nước ta thực chất hay cốt lõi đó là ngoại giao đảng giữ đất nước trong “định hướng XHCN” và trong chế độ toàn trị, chứ không phải là nền ngoại giao vì một quốc gia Việt Nam giành được chỗ đứng phải có trong thế giới của cục diện quốc tế mới hôm nay! 

Tóm lại, ngoại giao CHXHCNVN là một nền ngoại giao mang bóng dáng tiểu nhược quốc (một quốc gia chưa trưởng thành, có hơi hướng phong kiến), bởi vì nền ngoại giao này được dẫn dắt và chi phối bởi một nền nội trị của “tư tưởng nhiệm kỳ, nền kinh tế GDP tỉnh, quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, đất đai sở hữu toàn dân”. Đó là một nền ngoại giao mang nặng những nét “dựa” và “theo”, mang tư duy của đảng cai trị nhiều hơn là đòi hỏi của quốc gia. Về mặt nhiều nền ngoại giao CHXHCNVN chưa ra khỏi được cái bóng Trung Quốc từ ngàn xưa, chưa xác định rõ được chính mình (identity của chính quốc gia mình) trong thế giới hôm nay. 

Thực trạng này một phần do hệ quả của đất nước bị đô hộ thời thực dân Pháp. Song nguyên nhân nghiêm trọng là: 

(a) ĐCSVN hôm nay với mọi yếu kém của mình đã tự đồng nghĩa mình với quốc gia, nên không thể giác ngộ thấu đáo lợi ích quốc gia, và 

(b) về nhiều mặt trên thực tế đảng coi quốc gia là của mình, cho mình có độc quyền yêu nước; trong chế độ toàn trị, độc quyền yêu nước trở thành chiếm hữu đất nước. 

Thực chất là tổ quốc hiện nay đang bị chiếm hữu – nó không phải do dân tộc làm chủ, khác chăng lần này là do nội bang chiếm hữu. Trong khi đó, khác hẳn với ĐCSVN thời Cách Mạng Tháng Tám và 4 cuộc kháng chiến,ĐCSVN hôm nay không phải là lực lượng tinh hoa của đất nước. Trong khi đó ĐCSTQ lại là hiện thân hôm naycủa đế chế Trung Hoa. Như vậy, tính chất, nội dung và chất lượng đại diện quốc gia của 2 đảng này khác nhau một trời một vực! Nói cho đến cùng của sự vật theo tinh thần này: Ngoại giao Việt Nam 43 năm độc lập thống nhất đầu tiên là ngoại giao của một Việt Nam bị đảng chiếm hữu. 

Vì vậy, nhìn chung, ngoại giao của CHXHCNVN 43 năm qua về cơ bản là một nền ngoại giao hướng trong (inward-looking) để cố thủ, nhằm chủ yếu đáp ứng những yêu cầu sống sót và tồn tại (survival) của quốc gia trong chế độ toàn trị của ĐCSVN. Ngoại giao CHXHCNVN chưa chuyển sang được nền ngoại giao hướng ra bên ngoài (outward-looking) mà thế giới hôm nay đòi hỏi Việt Nam phải có, để dẫn dắt và phục vụ quốc gia trong quá trình phát triển và giành lấy vị thế phải có tại một vị trí địa đầu trong khu vực Đông Nam Á – nhất là từ vài thập kỷ nay khu vực CÁ-TBD đã trở thành trung tâm phát triển năng động nhất thế giới. 

Cứ nhìn xem cách lãnh đạo Trung Quốc lựa chọn và xây dựng chiến lược quốc gia như thế nào, phục vụ đế chế Trung Hoa như thế nào, sẽ thấy rõ những yếu kém của nước ta, sẽ thấy được ĐCSVN hôm nay đã làm được gì và đã không làm được gì cho đất nước. So sánh nước ta với cả thế giới, sẽ càng rõ hơn. Thực tế này chứng minh: Chỗ yếu kém cơ bản của ĐCSVN hôm nay là không giác ngộ đúng tầm lợi ích và chủ quyền quốc gia trong một thế giới ngày càng sôi động và quyết liệt, thậm chí đang gia tăng xu thế ngày càng tha hóa theo hướng đối kháng với lợi ích và chủ quyền quốc gia – một hiện tượng phổ biến trong lịch sử đất nước của các triều đại khi đi vào thời kỳ suy mạt (ví dụ: Xin hãy thử so sánh nước ta hôm nay với nước ta thời Lê mạt được mô tả trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí). 

Vì những lẽ nêu trên, ngoại giao CHXHCNVN chưa phải là một nền ngoại giao quốc gia Việt Nam, càng chưa phải là một nền ngoại giao của một quốc gia Việt Nam trưởng thành trong thế giới hôm nay. Nó thực chất là ngoại giao của đảng nắm quyền cai trị đất nước – một dẫn chứng nghiêm trọng của Điều 4 trong Hiến pháp trên phương diện đối ngoại – hội nghị Thành Đô và vụ Trịnh Xuân Thanh là 2 ví dụ tiêu biểu. Vì vậy, ĐCSVN hôm nay cần phải nhìn thẳng vào sự thật này, để tự quyết định vận mệnh của chính mình: Cam chịu thối nát tiếp trong tha hóa chiếm hữu đất nước, hay tự lột xác dựa vào dân để phấn đấu trở thành lực lượng tinh hoa của dân tộc? 

Những thiếu sót nói trên chủ yếu thuộc về trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo đảng và nhà nước và toàn bộ đội ngũ trí thức của đất nước. 

Nhìn vào những diễn biến trên bán đảo Triều Tiên bắt đầu từ quý II-2018, đến mức bàn cờ lớn đang chơi tại đây đã bị các chủ thể tại chỗ là 2 miền trên bán đảo Triều Tiên tự tay xóa đi, để chính họ mở ra cho họ một cuộc chơi mới, lôi kéo các “ông lớn” phải tham gia cuộc chơi của họ và do họ bày ra. Cả thế giới đang chứng kiến một thực tế khách quan mới tại đây đang dần dần lộ diện! Sự việc còn đang diễn tiến và để ngỏ mọi khả năng từ triển vọng nhất đến xấu nhất. Dù thế nào, sự kiện bán đảo Triều Tiên sẽ tác động mạnh mẽ đến Đông Nam Á và Biển Đông – còn hơn cả dứt dây động rừng! Đại thể như: Nếu Mỹ đấm Trung Quốc vào vai trái, Trung Quốc sẽ trả miếng lại Mỹ vào vai phải – nhiều khả năng là ở Biển Đông! Lại cảnh trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết hay sao? Biển Đông hiện nay đang nóng lên từng ngày![4] Thực tế mới này thôi thúc Việt Nam phải sớm đứng lên, tự tay mở ra cho mình con đường đi vào một nền ngoại giao quốc gia hướng ra bên ngoài! 

Tôi đứng ngồi không yên với câu hỏi: 

- Chẳng lẽ thân phận nước ta cứ cam tâm mãi mãi cảnh ruồi muỗi chết như thế này? 

Trả lời câu hỏi này trong cục diện quốc tế mới hôm nay, đất nước phải thông qua cải cách chính trị đổi đời để có một nền ngoại giao của một quốc gia trưởng thành, quyết giành lấy vị thế quốc tế xứng đáng của một quốc gia quan trọng tại vị trí địa đầu của khu vực Đông Nam Á. 

Trả lời câu hỏi này trước hết là nhiệm vụ của ĐCSVN đang nắm quyền đấy, đồng thời là nền ngoại giao Việt Nam! 

Trả lời câu hỏi này cũng là nhiệm vụ của toàn dân cả nước ta, trước hết là của trí thức cả nước! 

[1] Xem Trần Quang Cơ “Hồi ức và suy ngẫm”, https://lehonghiep.files.wordpress.com/2015/06/hoi-ky-tran-quang-co.pdf 

[2] Tôi đã viết một quyển sách về đề tài này, một nhà xuất bản đã nhận in, sau đó lại từ chối. Tôi giữ bản thào làm kỷ niệm… Có lẽ tôi sẽ lưu lại trên mạng. 

[3] Có thể xem việc đàm phán biên giới Việt – Trung là một trong rất nhiều ví dụ điển hình ngoại giao CHXHCNVN không cần dân, không lấy dân làm hậu phương và làm hậu thuẫn trong đấu tranh giải quyết vấn đề chiến lược này! Cũng có thể xem đây là một dẫn chứng ngoại giao CHXHCNVN không bước được ra ngoài cái bóng của Trung Quôc, 

[4] Tham khảo: Trong cuốn “The risk of America’s New Nationalism – World War Trump” NY – 2018, tác giả Hall Gardner cho rằng vấn đề Bắc Triều Tiên – Trung Quốc gây ra nguy cơ chiến tranh lớn trên Thái Bình Dương / Biển Đông, Nga tuy có quan hệ nhất định với Việt Nam song có những biểu hiện cho thấy sẽ không bảo vệ Việt Nam trong tình hình chiến tranh xảy ra (trang 179); tình hình càng trở nên phức tạp do Trung Quốc và Nga đang cố dựng lên một liên minh nhằm vào chống Mỹ và các đồng minh của Mỹ ( to push the China-Russia marriage of convenience to a proto-alliance in opposition to the US and its allies.) 
__________________________________________________

Tôi làm “chính trị”
Những kỉ niệm và trăn trở
Hồi ký 
Nguyễn Trung 


Phần hai: Kẻ thất bại toàn diện 
I. Trong tôi có nhiều anh Sáu 

…Bước chân về Văn phòng Chính phủ, từ đây tôi bước vào cuộc chiến trên mọi lĩnh vực có thể trong đời mình, do đó gặt hái được thất bại toàn diện. Kẻ chiến bại này tên là Nguyễn Trung. 

Nhiệm vụ tôi nhận đầu tiên ở cơ quan mới là Tổng thư ký Hội đồng kinh tế đối ngoại, do Phó Thủ tướng Phan Văn Khải làm chủ tịch, bộ trưởng ngoại giao và một số bộ trưởng kinh tế là thành viên. 

Tôi không rõ việc thành lập một Hội đồng như thế là sáng kiến của từ đâu, song thời kỳ này một số nước có tổ chức này, rất cần thiết cho phát triển kinh tế đối ngoại của họ, hoạt động có hiệu quả. Tôi dựa vào kinh nghiệm của những nước này lo toan công việc của mình. 

Song Hội đồng này chỉ tồn tại được một năm, và chỉ có hai phiên họp: Một để thành lập và ra mắt Hội đồng và thông qua chương trình làm việc, một để kiểm điểm tình hình công tác cuối năm và quyết định giải thể, vì không phù hợp với hệ thống. 

Sau đó tôi được giao nhiệm vụ làm trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt. 

Tôi nhận lời, với một vài đề nghị khoanh việc lại cho tôi, để có điều kiện tập trung vào nhiệm vụ trợ lý, mọi việc khác nên phát huy tối đa vai trò của tổ thư ký sẵn có của Thủ tướng. Tôi cũng đề nghị được hoàn toàn tự do trong nhận định, đề đạt ý kiến và kiến nghị, còn bỏ đi hay xử dụng và quyết định như thế nào… xin tùy Thủ tướng. Mọi việc như thế rõ ràng ngay từ đầu, tôi luôn luôn có thể nói thẳng suy nghĩ của mình, không phải e dè, công việc của tôi dễ dàng. 

Anh em bảo tôi phạm thượng, dám mặc cả với thủ tướng! 

Tôi thanh minh bằng câu nói mẹ tôi vẫn thường dạy tôi: “Mất lòng trước hơn được lòng sau!” 

Song quan trọng nhất tôi thấy anh Kiệt là người cởi mở, rất dễ gần, tôi còn muốn nói là rất hấp dẫn hay là lôi cuốn nữa! Nhiều chuyện rất tế nhị phải đề cập đến trong công tác, song nói ra với anh thật dễ, vì anh có cách lắng nghe chân thật, cởi mở, đặt ra nhiều câu hỏi, không ít những câu hỏi khiến tôi giật mình vì sự từng trải của người hỏi. Tôi thực sự có được một không khí làm việc khuyến khích mình làm việc. 
Nhân vô thập toàn… 

Hiểu như vậy, cho bản thân tôi cũng như cho các đối tác của mình, xưa nay tôi vẫn chọn cách sống bỏ hay vượt qua những gì là “vô toàn”, để tập trung hướng vào cái tốt, cái thiện. Nhận nhiệm vụ về giúp anh Kiệt, tôi cũng xử sự như vậy. Người bao giờ cũng là người, chỉ có tốt, tốt hơn, tốt nhất.., hoặc xấu, xấu hơn, xấu nhất… Tốt và xấu trong nhau, tan hòa vào nhau, giành ngôi nhau, biến động, thay đổi… Không bao giờ có người là thánh! Dù là có các hiền triết… 

Tôi nghĩ mãi, tìm mãi, hình như trong tôi không có khái niệm lãnh tụ hay thần tượng. Nghĩa là tôi thích sống theo cách tôi muốn hay yêu thích, hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về mình và mọi sự lựa chọn của mình – kể cả lựa chọn điều tôi tôn vinh, không thích có sợi dây nào vô hình hoặc hữu hình chăn dắt mình cả. 

Tôi thú nhận: sống, yêu, và ghét như vậy (chính trị là bẩn thỉu), nên không bao giờ tôi có thể làm chính trị… - nghĩa là tôi hoàn toàn không có tài chinh phục môn nghệ thuật này (Chính trị là nghệ thuật biến cái không thể thành có thể!) Cả đời chưa hề thử lấy một lần, vì tôi luôn luôn dị ứng với nó! 

Vốn là sống như thế, nên tôi thấy mình dễ làm việc với anh Kiệt. 

Nhận xét đầu tiên của tôi, có lẽ anh Kiệt là vị thủ tướng Việt Nam có nhiều nhất thủ tướng các nước khác coi là bạn, có nhiều nhân vật ở nhiều nước mến mộ, trong đó có Lý Quang Diệu, Helmut Kohl, Chatichai.., nhiều chính khách và những nhân vật có tên tuổi khác. 

Tôi hâm mộ những chính khách có cá tính, như tôi đã nói về anh Nguyễn Cơ Thạch. Anh Võ Văn Kiệt cũng là một chính khách như thế. Đấy là hai nhân cách tôi được sống gần gũi trên đời này ở nước mình – một quà tặng hiếm có cho tôi trên đời!.. 

Trong con mắt tôi, điều tôi quý mến nhất ở anh Kiệt là tính người! 

Đấy không phải chỉ là lòng nhân hậu, tính vị tha, sự rộng lượng… mà đi xa hơn thế nhiều: Đó là sự hiểu được, thông cảm được sâu sắc tất cả những gì liên quan đến thân phận con người – và anh Kiệt thật sự là người yêu cái đẹp của cuộc sống. Người lãnh đạo có tầm nhìn thấu đáo và xả thân vì nước, cùng với những phẩm chất riêng rất cá tính này khiến cho vị Thủ tướng “anh Sáu”, “chú Sáu”, “ông Sáu”… với dân là một. 

Tôi thật không khỏi ngạc nhiên, theo Thủ tướng đến bất kỳ đến địa phương nào trong Nam, tôi cũng thấy Thủ tướng có nhiều bạn bè cũ tới thăm hỏi, những bà con thân thuộc cũ kể lại biết bao nhiêu chuyện ngày trước - cứ như thể Thủ tướng là người của chính địa phương họ vậy... Hầu như không thấy dân địa phương nói “thưa Thủ tướng…”, mà chỉ thấy “thưa Anh Sáu… “, “thưa Chú Sáu… “ kể cả trong các cuộc họp. Thủ tướng gắn bó với họ tới mức gần như nhớ hết tên gọi theo thứ bậc gia đình của mọi người, trong nói chuyện chỉ gọi tên riêng của họ khi ai đó trong số họ có thứ bậc trùng nhau… Bữa cơm đến, chủ nhà mời Thủ tướng những món ăn dân dã của địa phương đã chia sẻ cùng nhau thuở trước... 

Ở những thành phố khác nhỏ hơn đã đành, song ở ngay Thành phố Hồ Chí Minh bao la và lúc nào cũng sôi động, sao tôi thấy Thủ tướng có nhiều bạn thế – “bạn” với đúng nghĩa – trong giới trí thức, nhà báo, các danh nhân văn nghệ sỹ, các nhà kinh doanh, trong giới thể thao, những cán bộ đương chức… Họ thường quần tụ chung quanh Thủ tướng ngay trên sân quần vợt trong những lúc giải lao, giờ nghỉ duy nhất của Thủ tướng trong ngày làm việc. Có lúc có những đề tài quan trọng được bàn ngay trên sân bóng như thế, rất dân dã và cởi mở, một mối gắn bó thực sự (tôi không muốn dùng từ bình dân vì nó không lột được hết tinh thần sự việc), những cuộc đàm đạo hay thậm chí là bàn công việc, thường được Thủ tướng chấp thuận từ trước, xắp xếp trước… 

Nói đến trí thức trong Thành phố nhiệt tình góp ý kiến với Thủ tướng trên mọi lĩnh vực không thể không kể ra ở đây “nhóm Thứ Sáu”, do anh Phan Chánh Dưỡng là trưởng nhóm – lại thêm một ví dụ sinh động nữa của Thủ tướng về sự gắn bó với giới trí thức... 

Tôi thực sự muốn nói: Không ít những quyết định và bước đi táo bạo mang tính “phá rào” trong kinh tế của anh Sáu Dân để cứu TPHCM khỏi những quẫn bách trong thời kỳ khó khăn ngay sau 30-04-1975, và những thập kỷ sau này là trong không ít những quyết định quan trọng của Thủ tướng trong một số lĩnh vực khác nhau, gắn liền với tâm huyết và sự cống hiến trí tuệ của nhiều trí thức cả nước - sống ở trong nước hay ở nước ngoài, một số người đã từng giữ chức vụ cao trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. 

Hình như trong suy nghĩ và trong những khát vọng vì đất nước, anh Sáu và họ là một. Chất người trong Anh Sáu thể hiện rõ nét nhất ở điểm này, tôi dám nói như vậy. 

Thật khó mà hình dung một ông cộng sản gộc, cộng sản từ cái ngày chỉ có mỗi cái quần xà-lỏn đến lúc làm nên đến tể tướng của quốc gia hôm nay (chúng tôi vẫn nói về anh Kiệt như thế!), và những con người trong cuộc sống muôn vẻ của đất nước – từ những nông dân đến những trí thức như thế, từ những chị ba Thi, những chị Tư Minh, đến những nhân vật Phùng Há, Điềm Phùng Thị.., đến Trần Ngọc Sương (Nông trường Sông Hậu), Kim Hạnh, Năm Triều, Thế Thanh, Út Thảo.., từ những Nguyễn Văn Thinh, đến những Nguyễn Xuân Oánh.., đến những Ngô Công Đức, những Trần Trọng Thức.., những Vũ Quang Việt, Ngô Vĩnh Long.., những Đặng Phong (đã mất), Nguyễn Quang A, Lê Đăng Doanh.., những nhà kinh doanh thành đạt Đặng Lê Nguyên Vũ, Nguyễn Trần Bạt.., những công dân bình thường.., đến những Nguyễn Duy, những nghệ nhân.., đến những Huỳnh Sơn Phước, Nguyễn Anh Tuấn.., nhiều nhà báo trẻ có tên tuổi, những công nhân xây dựng đường dây 500KV.., .., .., không thể kể hết được… Song trong tình cảm, tất cả có thể đều hòa với nhau làm một, vì nhau, cùng trong tấm lòng yêu nước, cùng nhau và giúp nhau đã làm nhiều việc tốt đẹp cho đời và cho đất nước… 

Xin đặc biệt lưu ý tại đây: Riêng tôi ngẫm nghĩ rất nhiều về những ý kiến đúng đắn và những mối thiện cảm của một số chính khách có tên tuổi và nhiều quan chức cao cấp trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa dành cho thủ tướng Võ Văn Kiệt trong những buổi họ về thăm đất nước và gặp thủ tướng… Tôi chạnh nhớ đến những đánh giá trân trọng của thủ tướng nói trực tiếp với chúng tôi dành cho tướng Dương Văn Minh khi vị tướng này phải đối mặt với giờ phút định mệnh… và Sài Gòn còn nguyên vẹn khi chiến tranh kết thúc!.. Phải chăng: Bất kể, muốn gì thì gì!.. Mầm mống của hòa hợp dân tộc không một giây phút nào ngừng trỗi dậy trong lòng dân tộc!?.. 

Xin nói thật, không phải cái chức thủ tướng hay là ủy viên Bộ chính trị, mà là cái chất giàu tình người của Võ Văn Kiệt khiến tôi yêu mến con người này – với tất cả những mặt được và chưa được của con người này, yêu mến đến mức dám cả quyết cái chất người này mới là nguyên tố quyết định làm nên con người này! 

Về tất cả những ai có mối liên quan nào đó với thủ tướng Võ Văn Kiệt, nói về họ - tôi dám tóm tắt trong một câu: Họ thích anh Sáu, họ yêu anh Sáu! 
Nhân đây xin kể một giai thoại tôi nhớ đời: 

Trong một buổi gặp nhau cuối năm giáp Tết, đã thành lệ một số năm sau khi đường dây 500 KV hoàn thành, giữa lúc liên hoan chúc mừng lẫn nhau nhân dịp đoàn tụ của hàng trăm con người từ Bắc đến Nam bao nhiêu năm ròng cùng nhau cheo leo với đường dây này xuyên núi rừng, anh Sáu Thủ tướng được mời lên phát biểu. 

Trong tay ly rượu trước micro, Anh Sáu nói mấy ý thôi: 

- Xin chúc tất cả sức khỏe và hạnh phúc, xin tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống trên đường dây này. Nhất là xin tất cả chúng ta hết lòng chăm lo chu đáo các cháu thiếu nhi của chúng ta đã ra đời trong quá trình xây dựng đường dây này!.. 

Hết. Anh Sáu chỉ nói có thế. Pháo tay nổ ran, nhưng tim tôi như đứng lại vì xúc động.. – Thật là một nhân cách lớn! 

…Phải, không chỉ những con người làm nên đường dây này gắn bó với công trình này! Sự gắn bó này còn ôm vào lòng nó những em bé của tình yêu – ra đời và sống với quá trình hình thành đường dây… Vì là của tình yêu, những em bé này không cần quan tâm đến những chuyện đúng và sai, không “care” đến việc trong hoặc ngoài giá thú… Đường dây này cùng ra đời với các em! Đường dây này là của các em!.. - …đứng nghe anh Sáu nói, trong tôi miên man bao nhiêu suy nghĩ như thế! Phải chăng tình yêu như một phép lạ làm nên tất cả?!.. 

… 

…Có thể nói trong lịch sử của Chính phủ, anh Sáu Dân là vị thủ tướng quan tâm và thành công nhất đến nay trong việc phát huy tốt nhất sự cống hiến của giới trí thức, và cũng là một Thủ tướng giàu tình người... Từ đó tôi hiểu vì sao Thủ tướng có tầm trí thức kỳ lạ, hiểu và có cái nhìn rất sát, rất sâu sắc những vấn đề của đất nước, của con người và cuộc sống: Ông đứng trên vai những trí thức hào phóng trí tuệ với ông, và sống bằng sự thân thương của mọi người dành cho ông! Tôi không thể nói khác được! 

Hơn nữa, nếu như những anh em chúng tôi đau một về những nỗi niềm của đất nước, có thể nói anh Kiệt đau mười. Không chỉ vì cương vị và trách nhiệm của anh, mà còn vì những ý kiến chân thật của các chính khách nước ngoài – cả Âu lẫn Á - chia sẻ với anh Sáu về những vấn đề của nước ta trong những buổi nói chuyện với nhau bên ngoài những nội dung tiếp xúc chính thức – người nói nhiều vấn đề sâu sắc đến tê tái lòng chúng ta – theo tôi - có lẽ là thủ tướng Lý Quang Diệu… Chính vị thủ tướng này hồi ấy muốn Việt Nam phải sớm trở thành một con hổ của châu Á mà địa kinh tế và địa chính trị đòi hỏi – ông ta nghĩ đến mối nguy Trung Quốc… Ông Lý nhấn mạnh: Nếu có một quốc gia nào dẫn đầu Đông Nam Á, đó sẽ phải là Việt Nam!.. Tiếc thay, nhiều năm sau, chính ông Lý Quang Diệu thất vọng, nói công khai với báo chí: Việt Nam không chịu phát triển!.. Chẳng lẽ chúng ta không ý thức được sự thất vọng này?.. 

Riêng thủ tướng Chatichai có một câu nói thật lòng, nghe mà điếng người: “May mắn hơn Việt Nam, cho đến nay Thái Lan không phải chịu một cuộc chiến tranh nào cả!”… 

…Thực sự họ và anh Sáu rất dễ nói chuyện với nhau… Song.. trong những buổi giao tiếp như vậy, tôi không sao quên được một cuộc gặp bên lề hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Bangkok giữa thủ tướng nước ta và thủ tướng Lý Bằng. Vị thủ tướng nước lớn này để anh Sáu chờ đến 15 phút – trịch thượng, cho lễ tân xin lỗi vì bận, nội dung câu chuyện cứ như là gỗ nói với gỗ, vì thái độ của Lý Bằng rất cứng… Hồi đó giữa ta và Trung Quốc trên diễn đàn ASEAN có những điều trái khoeo nhau – thực ra có lúc nào Trung Quốc hết tréo ngoe với ta!?.. 

Bạn sẽ là người hay là đất, nếu ở cương vị thủ tướng bạn được nghe những tiếng nói mọi chiều cạnh cắt gan xói ruột như vậy về đất nước mình từ miệng các đồng nhiệm những nước bạn bè? 

Không thể nói khác, thủ tướng Võ Văn Kiệt có một trường đời tôi nghĩ khó ai có được như thế để so sánh… Nguyên nhân quyết định để có một trường đời như thế là ý chí học hỏi không ngừng, sự chân thật rất dung dị, tự nhiên!.. Trong đó tôi rất phục trí nhớ của Thủ tướng… (Một người khác có trí nhớ kỳ lạ như vậy tôi biết là anh Việt Phương – tôi tặng anh Việt Phương biệt danh “một encyclopédie sống”). 

Xin nói thêm, anh Kiệt là một nghệ sỹ chụp ảnh, nhưng không bao giờ coi mình là nghệ sỹ. Tâm hồn nghệ sỹ này chỉ phản ánh yêu cái đẹp của Võ Văn Kiệt mà thôi. Phẩm chất này rõ nét hơn ở Võ Văn Kiệt có lẽ là trong yêu cái thiện, yêu cái dám sống, yêu những phẩm chất của con người, trong yêu tự nhiên và trong tình yêu… Tôi vẫn thường nói với đồng nghiệp của mình: Chúng ta có một thủ tướng giầu tình người! Tôi thích làm việc với con người này vì những lẽ như vậy. 

Tôi không biết nhiều, và thực lòng cũng không muốn nói nhiều về những điều lo âu của Thủ tướng. Có thể nói là nhiều lắm! Khi nào anh Sáu tự thổ lộ với chúng tôi điều gì, chúng tôi hiểu lúc ấy cũng là bức bách lắm rồi. Lúc nào không thể làm gì khác được nữa, anh Sáu thường kể lại với chúng tôi với câu kết luận: “…Nói mà không nghe thì để cho cuộc sống nó dậy vậy!..” Chúng tôi hiểu như thế là có chuyện lớn không ổn! Có những việc không thể làm gì khác được nữa, anh Sáu thường trì hoãn lâu nhất có thể, có khi là vài năm! Những giờ phút căng thẳng như thế không phải là hiếm, can trường như anh Sáu cũng không thể giấu được chúng tôi... Làm việc gần anh Sáu, dần dà tôi nhận thấy anh Sáu có một tác phong làm việc và cả một mạng lưới các thông tin, các luồng phản biện, giới trí thức tin cậy trong mọi lĩnh vực.., để anh Sáu lựa chọn, nhận định và quyết định. Tôi không rõ các ủy viên Bộ Chính trị khác có tác phong làm việc như thế nào. 

Nổi bật nhất là anh Sáu thường dành nhiều thời giờ cho cách làm việc trực tiếp với những vấn đề phải giải quyết và với những con người tại chỗ của những vấn đề. 

- Ví dụ thành công điển hình của cách làm việc này là dường dây 500kv; từ chuyên gia cho đến lãnh đạo ý kiến phản biện ngược nhau đến 180 độ, song anh Sáu quyết được và làm được. Anh bảo vệ đến cùng quan điểm chiến lược: Phải sớm có trong thời gian ngắn nhất mạng lưới điện quốc gia vì vấn đề phát triển và an ninh. Hôm nay có thể kết luận: Sự lựa chọn mục tiêu chiến lược như vậy là chính xác, và đã tìm được các phương án kỹ thuật tối ưu để thực hiện. 

- Ví dụ không thành công là vấn đề lớn hơn rất nhiều: Vấn đề giáo dục của nước ta! Có thể nói anh Sáu đã “đánh vật” với các Bộ và các cơ quan / nhân vật hữu quan, không tìm được kiến nghị nào thuyết phục. Anh Sáu quyết định gặp trực tiếp khá nhiều trí thức có uy tín trong lĩnh vực này – trong đó có các anh Hoàng Tụy, Phan Đình Diệu, Nguyễn Xuân Hãn, vân vân... Anh Sáu đồng tình với họ, kết luận: Vấn đề vô cùng hệ trọng đối với quốc gia, nó là thay đổi cuộc sống và con đường phát triển của quốc gia! Toàn thể Bộ Chính trị phải nghe trực tiếp và vào cuộc mới giải quyết được… Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ của mình – theo ý kiến riêng tôi – anh Sáu thất bại trong việc yêu cầu toàn thể Bộ Chính phải vào cuộc trên mặt trận này! – Một thất bại lớn quá, và tôi vô cùng nuối tiếc!.. 

Sự việc trên đây về vấn đề giáo dục là một trong những ví dụ cụ thể của lỗi của hệ thống chính trị, tôi đánh giá như vậy trên hai phương diện: (a) vấn đề tập trung dân chủ có thể cản trở những quyết định phải làm, và (b) không công khai minh bạch và không có trách nhiệm giải trình trước đất nước. 

Song trong thâm tâm tôi còn một điều đau hớn hơn: Chẳng lẽ Bộ Chính trị này không đủ sức tiếp cận một đại vấn đề của quốc gia như vậy? Phải chăng vì thế đã để cho nền giáo dục nước nhà bệnh hoạn như hôm nay? Một sự thật khác: Một chế độ toàn trị không thế hứa hẹn một nền giáo dục lành mạnh! Quả là vô cùng phũ phàng!.. 

Trong thâm tâm tôi thừa nhận có những việc anh Sáu không thể lay chuyển được Bộ Chính trị! 

Chính những vấn đề nóng bỏng hàng ngày như vậy đã dồn nén, tạo ra áp lực dẫn tới bức thư 09-08-1995 (sẽ nói dưới đây). 

Một số người nói với tôi, họ rất trách anh Sáu không quan tâm đến hay là không thành công trong việc chuẩn bị đội ngũ kế cận. Nên hệ quả là cứ mỗi khóa đại hội đảng phẩm chất cán bộ lại thấp đi một bước, và chẳng thấy được nhân vật nào có thể đem ra so sánh!.. Những ý kiến này cho rằng anh Sáu cũng như bao nhiêu người lãnh đạo khác của đảng phải chịu trách nhiệm về thực tế này. 

Tôi cho rằng đấy là những nhận xét khách quan, tôi tán thành. Chỉ xin nói thêm: Đảng có cả một hệ thống ngày càng tinh vi – bao gồm cả những “luật, lệ không thành văn” cho đào tạo, xây dựng và chuẩn bị đội ngũ kế cận. Vận hành hệ thống này như thế nào, lại là do tương quan các lực lượng quyền lực khác nhau quyết định… Hệ thống nào thì sản phẩm nấy!.. 

Cá nhân tôi cũng cho rằng với các nhân vật như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Nguyên Giáp và Võ Văn Kiệt là những người cuối cùng đã ra đi của một thế hệ lãnh đạo đã làm nên lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam nói chung và của Đảng Cộng Sản Việt Nam nói riêng. Thế hệ lãnh đạo hôm nay cần nhìn vào thực tế hẫng hụt rất lớn này của chính mình, và cần nhìn thẳng vào những đòi hỏi và thách thức đất nước đang đặt ra cho họ trong bối cảnh cục diện quốc tế mới hiện nay: Đảng hôm nay không còn là đảng hôm qua nữa! 

Hình như bi kịch muôn đời của lịch sử là chẳng có triều đại nào vào thời suy mạt có thể ý thức được thực trạng đang xảy ra của chính nó; thường là nó chỉ có phản ứng tất yếu là giãy giụa để kéo dài sự tồn tại của nó, qua đó đẩy mọi mâu thuẫn trong xã hội lên đỉnh điểm. Trí tuệ của đất nước cần nhìn ra sự vận động này của sự vật để định hướng cho mình. 

… 
Được sống gần gũi và giúp anh Võ Văn Kiệt với nhiệm vụ tôi được giao thực sự là một niềm hạnh phúc của tôi – và đây cũng là quãng đời tôi thực sự được thử sức mình, để biết mình đã thất bại toàn diện. 

Ngồi trong vườn nhà anh, có những lần tôi vừa trêu vừa tâm sự với anh: 

- Anh Kiệt ạ, trong con mắt tôi, anh là một Anh Hai (nói theo tiếng Nam Bộ) tôi quý mến. Tôi thích Anh Hai Võ Văn Kiệt hơn là thủ tướng Võ Văn Kiệt. 

- … 
Thực ra, ngoài những việc như tham gia một số sự kiện quốc tế và khu vực, một số chuyến thăm chính thức nước ngoài của Thủ tướng, góp ý vào một số chủ trương chính sách đang phải xử lý hàng ngày – phần lớn là trong phạm vi kinh tế đối ngoại, xử lý một số vụ việc cũ tồn tại đã lâu, thúc đẩy vấn đề "xóa chủ quản".., tôi hầu như chưa giúp Thủ tướng được việc gì đáng kể trong nhiệm vụ trợ lý. Tôi muốn nói tôi «lãi» nhiều hơn, với nghĩa được đi theo anh Kiệt khắp mọi nơi, biết và học thêm được rất nhiều thứ, nhưng giúp Thủ tướng chưa được bao nhiêu. 

Việc lớn nhất tôi hăm hở bắt tay vào là bức thư ngày 09-08-1995 của Thủ tướng gửi Bộ Chính trị. 

Đấy là kết quả cả một quá trình trăn trở của anh Kiệt, nhất là sau Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII họp từ 20-25 / 01-1994, mở ra thời kỳ siết lại kể từ sau đổi mới 1986. Từ đây đất nước đi vào cuộc khủng hoảng toàn diện cho đến hôm nay chưa có lối ra. 

Anh Kiệt kết luận: Cứ loay hoay chữa cháy và phá rào từng việc mãi như đang làm trong đánh vật với mọi vấn đề đất nước phải đối mặt, sẽ chỉ loay hoay tiếp mà thôi, ngày càng rối! 

Anh đặt vấn đề với tôi: Nghĩ đi, xem có cách nào thay đổi từ gốc, từ hệ thống, để xoay chuyển tình hình đất nước!? Xoay chuyển cái gì và như thế nào để có thể tạo ra một chuyển động mới năng động?.. 

Tôi biết chắc chắn anh Kiệt đã đặt vấn đề này với nhiều người khác lâu nay rồi, đã có những «đơn đặt hàng» cụ thể cho mỗi người của mỗi việc... Tác phong làm việc của Thủ tướng Sáu Dân xưa nay như vậy. 

Nhớ lại hôm ấy, được nhận một nhiệm vụ trọng đại từ một Thủ tướng dày dạn những thử thách trong cuộc đời và nhiệm vụ của mình, hai tai tôi nóng ran – vì nhiệm vụ này đối với tôi trân trọng quá, trang nghiêm quá, thiêng liêng quá!.. Trong lòng, tôi chỉ có nỗi lo, với hai cái tai nóng ran… 

- Mình có làm nổi không?.. 

… 

Câu chuyện bức thư ngày 09-08-1995 của Thủ tướng gửi Bộ Chính trị hình thành từ đầu là như thế. 

Nhưng bức thư này thất bại! Bộ Chính trị không tán thành những đề nghị của anh Kiệt. 

Một bản photo copy của thư này (hình như từ một người nào đó có tên trong danh sách những người được nhận thư) không biết làm sao lọt ra ngoài và lên mạng[1]. Tôi được biết anh Hồng Hà (nguyên chánh văn phòng Bộ công an), anh Hà Sỹ Phu và anh Nguyễn Kiến Giang đọc bản sao này nên bị công an bỏ tù, nghe đâu nhiều tuần… – vì tội xâm phạm bí mật nhà nước. 

Anh Việt Phương xót xa nói với tôi: 

- Lẽ ra phải bắt Nguyễn Trung đi tù mới đúng! 

Như thế là câu chuyện rất nghiêm trọng, tôi hiểu rõ như vậy. 

Song anh Kiệt trước sau không hé cho tôi nửa lời về ý kiến của Bộ Chính trị… Tôi ướm hỏi điều gì, thủ tướng cũng chỉ một mực bảo tôi tập trung lo công việc hàng ngày, coi như không có chuyện gì xảy ra. Thủ tướng chủ động bàn sang việc khác... 

Vài tuần sau, một cán bộ bên Văn phòng Trung ương nói với tôi: Có ý kiến của lãnh đạo đánh giá không thuận việc tôi làm trợ lý cho anh Kiệt, câu chuyện bức thư gây khó dễ cho anh ấy... 

Tôi nghĩ đã đến lúc mình phải tự quyết định rồi! 

Hôm sau đến cơ quan, tôi mang theo một bức thư đã viết sẵn từ nhà, rồi trình bầy với Thủ tướng: Tôi đã cân nhắc cặn kẽ câu chuyện bức thư, và tôi xin từ chức trợ lý. Tôi cũng xin nghỉ hưu luôn, từ ngày mai tôi sẽ không đến cơ quan nữa. Tôi xin lỗi sự đột ngột này và mong Thủ tướng lượng thứ. Song trước hết tôi xin lỗi Thủ tướng về những điều không ai muốn mà câu chuyện bức thư gây ra cho Thủ tướng. Tôi hứa với tư cách công dân tự do, tôi sẵn sàng giúp mọi việc Thủ tướng yêu cầu… 

Trình bầy xong, tôi biếu tặng anh Kiệt một chai rượu mơ tôi tự làm để chia tay. Tôi nói : Đây là loại rượu mơ tôi vẫn làm hàng năm để biếu cha tôi, vì Người rất thích loại rượu này… 

Sau đó tôi chìa tay xin cáo lui, anh Kiệt bắt tay tôi, cả hai chúng tôi cùng cười thay cho phải nói với nhau điều gì – anh Kiệt nhìn tôi, không kịp nói được gì, vì chưa ra khỏi sự ngỡ ngàng, mà tôi cũng không muốn để anh Kiệt có thể kịp nói với tôi câu gì… Tôi bước nhanh ra cửa… 

Khi lái xe đưa tôi về đến nhà, tôi nói: 

- Rất cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của anh lâu nay dành cho tôi. Nhờ anh nói với tổ xe, từ mai trở đi không cần phải đưa đón tôi nữa… 

Nằm khàn ở nhà, tôi càng thấy quyết định của mình là cần thiết, càng thấm thía sự hiểu biết của tôi về chính trị nông cạn quá. 

Tôi ân hận cứ tự hỏi mãi: Mình đã đủ tỉnh táo khuyên anh Thạch tạm đặt việc tổng kết sang một bên để chọn việc khác, nhưng tại sao trong trường hợp này mình chưa đủ tỉnh táo để kiến nghị với Thủ tướng một cách tiếp cận khác? 

Cú vấp lớn quá!.. 

Cho dù những vấn đề của đất nước nêu trong bức thư nóng bỏng đến đâu, song cách tiếp không phù hợp vẫn có thể hỏng việc… 

Cái tội lớn nhất của tôi trong thất bại nhớ đời này là già rồi mà vẫn chưa nhìn thấu những cái gì gọi là “chính trị”, mặc dù thời sinh viên tôi đã dám cả quyết trước chi bộ “chính trị là bẩn thỉu!”, đến nỗi xuýt bị đuổi học! 

…Tôi nhớ, đã có lần mẹ tôi vừa trách vừa trêu bố tôi: “Già rồi mà còn dại!” - về một câu chuyện gì đó ở cơ quan khiến bố tôi bị bẩy đi chỗ khác. Tôi nghĩ, nếu mẹ tôi còn sống, chắc tôi cũng sẽ được ăn một cái cốc vào đầu và được nhận một lời như thế! Nhưng cho đến hôm nay, vợ tôi và con cháu tôi, trong họ tôi… vẫn chưa một ai hay biết tôi “ra đi” vì câu chuyện bức thư… Đơn giản vì tôi thấy chuyện này chẳng có gì đáng phải nói trong gia đình. 

Câu chuyện bức thư mở mắt cho tôi: Trước sau tôi vẫn chỉ là một technocrat quèn, thiếu rất nhiều kỹ năng và phẩm chất là một tham mưu. Làm trợ lý mà tay nghề như thế thì non quá… Lẽ ra tôi phải cố vấn cho anh Kiệt chọn một cách tiếp cận tốt hơn. Tôi chưa học được điều này, vì tôi không bao giờ coi trọng nó! – đây là lý do người đời thường quy kết tôi là kiêu căng, có lẽ cũng đúng! - Tội lỗi của tôi là ở chỗ này, chứ không phải ở nội dung bức thư!.. Sự cố này khiến tôi nhìn lại cuộc đời cán bộ của mình, càng thấm thía: Đúng là tôi không bao giờ có ý thức làm chính trị, không thể làm chính trị!.. 

… 

Về bức thư, có thể nói sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng, có trách nhiệm, cố không xa rời thực tại đất nước, không duy ý chí; chỉ chọn một số vấn đề chính không thể không nói, nhưng liều lượng ở mức tối thiểu, chỉ mang tính đề cập, tính tới việc mở ra những bước sau này, lựa lời diễn đạt… Nghĩa là nội dung tổng thể của bức thư là triệt để, song tránh nói đến ý thức hệ hay CNXH… như các anh Đào Xuân Sâm, Việt Phương, Phan Đình Diệu… từ rất lâu đã trình bầy trực tiếp với lãnh đạo đảng và nhà nước về CNXH như đang thực hiện ở nước ta là sai rồi!.. 

Tôi nhận nhiệm vụ soạn thảo thư này còn với tính cách là thành viên Tổ nghiên cứu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Anh Kiệt nhiều lần góp ý cần sửa chỗ này chỗ khác, trao đổi thêm với một số anh khác và yêu cầu họ góp ý và sửa trực tiếp vào văn bản… Anh Việt Phương được anh Kiệt giao nhiệm vụ đọc lại lần chót trước khi bức thư được ký và gửi đi – xưa nay Thủ tướng vẫn dành cho anh Việt Phương một sự tin cậy như vậy… 

Bốn vấn đề hệ trọng được nêu trong bức thư đến hôm nay vẫn còn nguyên vẹn giá trị thời sự đối với đất nước. Đó là: (1) nhìn nhận lại xu thế phát triển của thế giới, (2) đất nước phải xem lại đường lối phát triển của mình để có thay đổi thích hợp, (3) phải xây dựng nhà nước pháp quyền và hoàn thiện kinh tế thị trường, (4) phải đổi mới đảng về đường lối và về tổ chức để tạo ra động lực và sự phát triển bền vững của đất nước. 

Hôm về Vĩnh Long thăm quê anh Sáu, tức cảnh, tôi viết mấy lời: 
Khi chia tay, xin tặng anh chén rượu 

Rượu không thơ, rượu không thành rượu 
Thơ không rượu, thơ thêm nỗi vẩn vơ 
Vậy nay xin tặng cả rượu và thơ 
… 
Tôi quá già 
Để anh chọn làm thư ký… 
Tôi quá trẻ 
Để anh chọn làm trợ lý… 
Những mong giúp anh đôi ba việc 
Nhưng tôi mắt bé tí, trí mỏng, nhìn không thấu đời 
Chọn tôi anh chuốc thêm cực vào người 
Duyên phận hai ta là như thế 
Nay xin đổi lại bằng thơ và rượu đế… 

Kính tặng Anh Sáu, 
Vĩnh Long – Vũng Liêm, 26-07-1996 
Sự chia tay như thế, lại là bắt đầu một giao kèo mới giữa hai chúng tôi, cho đến lúc anh Sáu đi xa… Trong đời tôi có những biến đổi không ngờ như thế… 

Có thể dựng lên hình ảnh thế này: 

Tôi đến với anh Kiệt từ một bệnh viện ở Bangkok, sự chia tay tại cơ quan chỉ đánh dấu một thời kỳ gắn bó mới… Nhưng khi anh đi xa, lại chẳng có sự tiễn đưa nào cả - vì anh đang ở một vùng trời, tôi lại đang lang thang trong vùng trời khác… Cho đến hôm nay, cũng không có sự chia tay nào cả. Vì tôi chưa cảm thấy một lúc nào xa anh, vẫn mang nặng món nợ đối với anh mà cho đến hôm nay tôi vẫn không biết sẽ trang trải như thế nào… 

Đó là món nợ của tôi đối với đất nước mà anh Kiệt đặt vào tay tôi!.. 

… 

…Bữa cơm cuối cùng anh Sáu mời chúng tôi là tại một nhà nghỉ trong khu nhà khách Trung ương tại Hồ Tây, lần này là ngôi nhà anh Sáu đã sống những năm tháng đầu tiên, khi từ Nam ra Bắc nhận trọng trách mới... Anh chị em nhân viên phục vụ tại nhà này kể lại bao nhiêu chuyện cũ… Quay trở lại một kỷ niệm cũ như thế, chúng tôi không ngờ đó lại là nơi: từ đây anh Sáu vài tuần sau chia tay với chúng tôi – lần này là mãi mãi… 

… 

…Cũng như mọi khi, từ lúc thôi làm Thủ tướng, mỗi lần anh Sáu ra Hà Nội, chúng tôi đều có những cuộc hàn huyên như thế, vì anh Sáu là người của cuộc sống. Không lúc nào không có những vấn đề để trao đổi. Mỗi lần anh Sáu trở về Thành phố, đều để lại cho chúng tôi những «đơn đặt hàng mới» - những vấn đề anh Sáu yêu cầu chúng tôi nghiên cứu, có ý kiến, có kết quả thì gửi vào báo cáo cho anh Sáu, hoặc sẽ bàn đến trong cuộc gặp sau… Thực sự là không có lúc nào rỗi. Cả anh Sáu và chúng tôi đều là những người nghỉ hưu, tất cả đều qua cái « thất thập cổ lai hy» lâu rồi… Song đầu óc chúng tôi vẫn làm việc bình thường – vì đòi hỏi hiểu biết của mình, vì có lợi cho đời cho đất nước chút nào hay chút đó, vì nhàn rỗi nghĩa là chết! 

Ngoài việc thường xuyên trình bầy với anh Sáu những diễn biến mới và thông tin về các vấn đề đối ngoại, thời sự quốc tế.., tôi được anh Sáu yêu cầu tiếp tục đi sâu vào chuyên đề đổi mới Đảng. Cuộc đời trớ trêu thật, giao việc này vào cái tay không thích chính trị! 

…Thật ra từ lâu rồi, tôi vốn dĩ phải sống với cuộc đời luôn luôn thích trêu ngươi mình, theo cái kiểu «ghét của nào, trời trao của nấy!»… Tôi cứ tự hỏi mình hoài, tại sao không chọn làm một nhạc sỹ, nhà văn.., hay thậm chí làm một chuyên viên kỹ thuật ?.. – vì khi học trung học tôi cũng có năng khướu về khoa học tự nhiên.., thế mà lại đi làm cái nghề ngoại giao, rồi bây giờ đụng vào đâu cũng chỉ toàn là chính trị?!.. 

Song tôi hiểu việc anh Sáu giao: Anh không bỏ dở câu chuyện bức thư! 

Anh Kiệt "trói" tôi vào đề tài này từ khi tôi tự về vườn và nghỉ hưu, nghĩa là rất sớm – tôi không biết lý do tại sao, hay chỉ là ngẫu nhiên. Thỉnh thoảng tôi cũng được anh Sáu gọi vào Thành phố báo cáo trực tiếp các suy nghĩ của mình về đề tài này… (Hay là tại tôi vẫn thường phê phán đảng khá gay gắt?!.. – tôi chịu.) 

Trong bữa cơm cuối cùng tại căn nhà xưa nói trên trong khu Hồ Tây, khi chia tay, anh Sáu nói với tôi: 

- Anh cần tôi đi đâu, gặp ai trong lãnh đạo để nói điều hệ trọng gì đối với Đảng và đất nước mà anh chưa thể nói được, tôi sẵn sàng cầm thẻ đảng của mình đi làm việc đó! Nhưng không được bỏ dở nhiệm vụ nghiên cứu góp phần đổi mới Đảng thành đảng của dân tộc!.. 

- !!!… 

Ai hiểu hết được ý chí vì dân vì nước của người đảng viên ĐCSVN Võ Văn Kiệt đã cống hiến cả đời mình cho đảng đã làm nên sự nghiệp của chính ông, nhưng chính hôm nay ông kiên định ý chí phải thay đổi đảng này thành đảng của dân tộc!?.. Và tôi hiểu, ông đã giao cho tôi một việc cho đến lúc nhắm mắt tôi cũng không được thoái thác! 

… 

Mọi người còn nhớ, anh Sáu lâm trọng bệnh giữa lúc chuẩn bị lên đường đi Hà Lan, muốn tìm hiểu vấn đề chung sống với biển của quốc gia này, mong mỏi có thể tìm ra được điều gì cho nước mình, nhất là hệ quả của biến đổi khí hậu đối với nước ta năm sau dữ dằn hơn năm trước trông thấy!.. Lúc này Anh Sáu đã 86 tuổi… 

Tin sét đánh đến với tôi, trong lúc tôi đang ở Mỹ… 

… 

[1] Thư của Thủ tướng Võ Văn Kiệt ngày 09-08-1995 gửi Bộ Chính trị - https://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-048/thu-vo-van-kiet-1995/


Tôi làm “chính trị”
Những kỉ niệm và trăn trở
Hồi ký

Nguyễn Trung 


Phần hai: Kẻ thất bại toàn diện 
6 

II. Kẻ thất bại toàn diện 

Tựa đề huênh hoang như vậy của phần này thực ra là tổng kết của chính tôi trong một câu về toàn bộ những gì tôi đã trăn trở và đã viết ra trong khoảng 28 năm qua, nhất là trong 23 năm nghỉ hưu đến nay – và kết quả gặt hái được : Thất bại toàn diện!.. 
Tôi chưa tìm được ngôn từ nào có thể huênh hoang cao hơn nữa, để giễu cợt mình chua cay hơn nữa, để xát thêm muối vào những nỗi đau của những thất bại tôi hứng chịu trên quãng đường này – để tỉnh ngộ thêm, suy nghĩ thêm, xem còn có thể làm được chút việc gì nữa không, trước khi trao trả cuộc đời này cho đời và trở về với cát bụi!?... 
Có thể nói, từ khi chia tay với ngoại giao, tôi quan tâm đến mọi vấn đề của đất nước mà tôi quan sát được, với tới được và làm tôi bức xúc – hầu như không trừ một lĩnh vực nào. Tôi cũng tự hỏi mình: Như thế có tham lam quá không? 
Tôi tự trả lời: - Không! 
Về vườn, trở thành một công dân như mọi công dân, tôi thực sự có điều kiện hiểu biết hơn thế nào là cuộc sống của một người dân thường. Cái nhìn của tôi trở nên rõ nét hơn, song nỗi đau riêng cũng sâu nặng hơn… 
Cuộc sống của một người dân thường là cuộc sống của một con người và đồng thời cũng là một công dân trong lòng đất nước – với nghĩa: Quốc gia và chế độ chính trị này có bao nhiêu quyết sách, chính sách, luật lệ, quy định, tác động, ảnh hưởng, phúc lợi, gánh nặng, tệ nạn… thì từng người dân thường – từ em bé mới ra đời đến người cao tuổi nhất – đều phải đội trên đầu mình toàn bộ những gánh nặng, hoặc được hưởng lợi những điều gì đó mà quốc gia này và chế độ chính trị này mang lại. 
Chính vì bức xúc được – dù chỉ là ở mức độ nhất định nào đó bức xúc của người dân thường, bức xúc trong tôi về những vấn đề của đất nước càng day dứt thêm. Tôi tự đặt ra cho mình cái gì mình hiểu được và nói được, thì nhất thiết phải lên tiếng! Biết mà im lặng là có tội! Tôi lao vào cuộc chiến đấu toàn diện là vì như thế. Thậm chí có những lĩnh vực tôi hoàn toàn i-tờ-mít, nhưng không nói không được, - như bauxite Tây Nguyên, thép Thạch Khê, Formosa, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực văn hóa… Không biết thì đào bới bất kể chỗ nào đào bới được để tìm thông tin, tìm kiến thức mà nói! Không bàng quan được!.. 
Song tôi phải tự tổng kết: Mình là kẻ thất bại toàn diện trong cuộc chiến này. Tôi chỉ có thể sắm vai: Hữu trí vô mưu! Nghĩa là: Trí không có mưu, nên cũng chỉ là thứ trí rẻ tiền thôi! 
Không phải là vì tôi toàn nói ra, hay là viết ra những điều vô nghĩa – sự thực không đến nỗi tệ hại như vậy. Mà chỉ vì tôi có cảm nghĩ: Mọi nỗ lực của mình cho đến hôm nay hình như chưa lay động được đến cái lông chân của chế độ chính trị này và những con người của quyền lực! 
Đấy là sự thật tôi đang đối mặt! 
Chỉ một điều nhỏ nhoi hôm nay tôi có thể nói được với mình: Đúng là mình đã thất bại toàn diện… Viết rất nhiều, nhưng không xoay chuyển được gì. Đến nay chỉ có chưa giơ tay hàng! 
Có một niềm vui, một điều an ủi trong cái thất bại toàn diện này, đó là: Tôi học được rất nhiều cái khác, cái mới, cái chưa biết từ các anh các chị bốn phương trời… Có thể nói, nếu không có sự «bổ sung» này tôi sẽ có những thiếu hụt lớn và không ít cái sai từ những định kiến có sẵn. Hơn nữa, trong quá trình này tôi có thêm nhều bạn mới – từ Mỹ là các anh Vũ Quang Việt, Ngô Vĩnh Long, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Mạnh Hùng, Ngô Thanh Nhàn, Phạm Đỗ Chí.., từ Pháp là các anh Cao Huy Thuần, Nguyễn Ngọc Giao, Hà Dương Tường, Trần Hải Hạc.., Từ Nhật là anh Trần Văn Thọ, từ Úc là anh Phạm Việt Hưng… … 
Tại đây tôi xin dành lời cảm ơn đặc biệt đến trang mạng viet-studies.net và chủ nhân Trần Hữu Dũng, nơi tôi từ hàng chục năm nay nhận được rất nhiều bài quan trọng của giới học giả và báo chí Mỹ không thể thiếu cho sự tham khảo của tôi, và cũng là nơi cửa ngõ của mọi bài viết của tôi đi qua để tới bạn đọc. 
…Về vườn, 

Đấy là cuộc khai sinh mới: Tôi là người tự do! 

Thật khó nói được niềm vui: Tôi sống cuộc đời của tôi, do tôi, vì tôi …và vì mọi thứ tôi muốn… – ngay lập tức bài tập văn năm vào đời tự động phát đi tín hiệu cảnh báo tôi: «tự do là hiểu lẽ tất yếu!» 

Từ trải nghiệm của mình trong cuộc đời, tôi còn muốn bổ sung thêm một mệnh đề phái sinh nữa: «tự do là dám đối mặt với thách thức mình bị thách thức!» - thành công hay thất bại đều chấp nhận! 

Không có ai chỉ huy hay sai khiến mình nữa, tôi quyết từ miền đất «đối ngoại» và «kinh tế» mình canh tác lâu nay, vươn vào miền đất cuộc đời của đất nước, ngẫm nghĩ lại về mình và về đất nước, muốn cầy cuốc trồng trọt cái gì đó trên vùng đất mới này… 

Như đã nói trong Phần một "Vào đời", tôi muốn nhìn lại tất cả những chặng đường đất nước đã trải qua, từ thời Gia Long. Bởi vì đất nước ta hoàn chỉnh như hôm nay bắt đầu từ thời kỳ này – gần như đồng thời với Nhật của Minh Trị. Thực tế này dấy lên trong đầu tôi câu hỏi khôn nguôi: Cái gì khiến cho mỗi quốc gia mỗi ngả trên con đường của nó sau này?.. 

Song tham vọng này lớn quá, phải khoanh bớt lại: từ năm 1930 đến nay vậy, để từ cái nhìn lại này (review) cố sao hiểu rõ con đường đã trải qua đất nước… Sâu thẳm trong tim, tôi rất muốn viết sử đất nước nằm gọn trong vòng một đời người này - mà chính tôi là nhân chứng, đồng thời cũng là tác nhân và nạn nhân. Bởi vì, chỉ trong một khoảnh khắc lịch sử ngắn ngủi như vậy, song đất nước ta đã phải trải qua những tình huống nghiêm trọng, biết bao nhiêu thăng trầm đẫm máu và nước mắt, những biến cố và sự cố quan trọng… 

Cho phép tôi ngay tại đây nói lên lời cầu xin với hiện tại và tương lai: Mong sao mọi trí tuệ của đất nước từ những bài học đất nước đã tích lũy được, từ chỗ đứng trong thế giới hôm nay, vạch ra được con đường dẫn đất nước ta đi vào một cuộc đời mới trong một thế giới đã đổi khác rất nhiều: Một quốc gia độc lập tự do của một dân tộc tự do! 

Tôi dám cả quyết: Nếu tất cả những kinh nghiệm và bài học của mọi thành / bại đất nước ta đã trải qua từ thời Gia Long đến nay, đặc biệt là từ năm 1930 đến nay, được rút ra và đánh giá nghiêm túc, cùng với những kiến thức mới của trí tuệ văn minh nhân loại hôm nay, nhân dân ta hoàn toàn có đủ trí tuệ và nuôi được cho mình ý chí để vượt qua mọi thách thức, trở thành một nước phát triển của độc lập, tự do, dân chủ, giàu mạnh và hạnh phúc. Kinh nghiệm và bài học quan trọng nhất của đất nước trên chặng đường lịch sử này mà nhân dân ta nên khắc cốt ghi xương là: Cần hiểu đúng thế giới chúng ta đang sống để giác ngộ bằng được lợi ích quốc gia! Đây cũng là bài học dân tộc Việt Nam ta đã phải trả giá lớn nhất trên chặng đường lịch sử này. 

Tôi phải vô cùng xin lỗi đất nước, xin lỗi dân tộc mình vì suy nghĩ như vậy. 

Sâu thẳm trong suy nghĩ này là nỗi đau của tôi – dù đúng hoặc sai: Cho đến hôm nay, có lẽ chúng ta[11] – trước hết là giới quyền lực và các tầng lớp ăn theo – vẫn nặng về nhìn thế giới qua hay nhờ vào con mắt của người khác, cho nên nhận thức lợi ích quốc gia cũng vẫn nặng về theo lối nghĩ của người khác! Chẳng lẽ cho đến hôm nay chúng ta – tôi hiểu đây là dân tộc Việt Nam chúng ta – dù đã có độc lập quốc gia, những vẫn chưa sao đặt chân lên được vũ đài của độc lập trong cách nhìn và trong tư duy!? Câu hỏi này day dứt tôi cùng năm tháng… Nỗi đau này càng đau thêm, vì đất nước cứ rộ lên ngày càng nhiều những điều ba hoa chích chòe – trong đó không hiếm các danh nhân «trí thức» cũng góp phần đích đáng của mình… Tất cả hình như chỉ cốt lấn át đi hay làm lạc hướng sự chú ý về những điều đang xảy ra trong thực tại. Thời hiện đại còn huy động có dụng ý cả sự hỗ trợ của các công nghiệp giải trí để đánh lạc hướng!.. 

Nghề nghiệp và nhiệm vụ của tôi có thể cho phép tôi nói: Tôi đã sống với tất cả sức mình trong những bước đường nói trên của đất nước, đã lặn ngụp trong không ít những khó khăn đất nước phải đối mặt, tìm kiếm mọi ý tưởng có thể trong hay ngoài nước, những kinh nghiệm trong quá khứ hay trong hiện tại, mạnh dạn góp ý giải quyết... Càng nhìn nhận được sự thật diễn ra trong cuộc sống những bước đường này, nỗi day dứt của tôi càng lớn, cho đến hôm nay – với biết bao nhiêu nỗi lo, bởi vì thảm họa không lúc nào buông tha rình rập đất nước ta. Chưa thoát khỏi được những hệ quả của 4 cuộc kháng chiến, hôm nay đất nước lại đối mặt với một trật tự quốc tế mới của một thế giới khác! Chưa nói đến những tai ương có thể đến từ trong tự nhiên, từ một đột biến nào của địa kinh tế và địa chính trị của thế giới hoặc khu vực, đó nội trị của quốc gia quá nhiều yếu kém! Trong khi đó lối mòn trong cách nhìn và trong cách nghĩ của chiếm quyền chủ đạo đất nước vẫn cứ đang dài mãi ra, thậm chí đang được gia cố thêm của «độc lập dân tộc gắn với CNXH» và trung thành với CNML, bằng mọi bạo lực chuyên chính có thể!.. 

Tôi xin tóm trong một câu: Trong 43 năm đầu tiên độc lập thống nhất, tuy đã giành được mức quốc gia có thu nhập trung bình (thấp) - song đất nước ta có lẽ chưa bao giờ lại nhiều chuyện ươn hèn đốn mạt như bây giờ, và hầu như đất nước chưa có được sự chuẩn bị sẵn sàng ở mức phải có cho bất cứ một thách thức hay biến cố nào lớn! 

Không phải chỉ từ khi nghỉ hưu, mà ngay từ những năm công tác đầu tiên, tôi đã hình thành cho mình sự chân thật và thẳng thắn cả trong những vấn đề chính trị nhạy cảm nhất. Nghề nghiệp đòi hỏi tôi như thế, song cũng mang đến cho tôi những cơ hội hiếm có. Tôi đã nhiều lần được làm phiên dịch hay phục vụ những lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước trong nhiều việc hệ trọng khác nhau cũng như trong những chuyến đi công tác ngắn ngày – từ tổng bí thư Lê Duẩn, tổng bí thư Trường Chinh, thủ tướng Phạm Văn Đồng, các ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị… … .., và tôi không bao giờ giấu giếm những băn khoăn của tôi về những vấn đề liên quan đến sống còn của đất nước, mạnh dạn nói lên quan điểm riêng của mình… Trong các báo cáo, các bài nghiên cứu, bài viết… cũng vậy. 

Có một mẩu chuyện thế này, khi tôi được yêu cầu đi làm phiên dịch cho tổng bí thư Lê Duẩn, mọi người dặn dò tôi rất kỹ lưỡng, phải thế này, phải thế kia… Tôi chưa từng thấy sự cẩn thận nào như thế… … Tôi đâm lo, trong đó cái lo nhất là tổng bí thư nói nhanh theo giọng nói của quê mình, tôi chỉ sợ nghe không hiểu hết nội dung và có thể dịch sai. Khi đến chào ra mắt tổng bí thư, ngay câu đầu tiên tôi nói nỗi lo của mình: 

- Thưa Anh, tôi được dặn kỹ phải cố hiểu hết ý của Anh và dịch cho đúng. Nhưng tôi lo Anh nói nhanh và tôi có thể dịch sai. Vậy xin đề nghị Anh nói thong thả cho tôi dịch được. Nếu không, có thể tôi sẽ dịch sai và không làm tròn được nhiệm vụ của mình. 

Không ngờ, cách thật thà vào đề câu chuyện của tôi như vậy, tạo ra không khí cởi mở ngay từ đầu. Tổng bí thư đồng ý sẽ chú ý, hỏi thăm tôi về nghề nghiệp, công tác, gia đình… Tổng bí thư chủ động hỏi nhiều chuyện, tôi cũng thưa nhiều chuyện… Mãi cho đến lúc có người vào mời tổng bí thư đi làm công việc khác. Dọc chuyến đi công tác này, đôi lúc tổng bí thư gọi tôi lên ngồi cạnh trên máy bay, hỏi rất nhiều chuyện về các nước LXĐA – vì biết tôi ở Đức lâu năm và có nhiều thông tin để trình bầy, nhất là cách nhìn của tôi từ CHDCĐ về Liên Xô… Cả trong những ngày ở CHDCĐ cũng có đôi lần những chuyện như thế… Tôi thấy tổng bí thư Lê Duẩn là người dễ gần và cởi mở, nghĩa là khác những gì tôi nghe được … Còn tôi có dịp mở hộp thư bí mật về những điều mình lo âu – xoay quanh câu chuyện nội tình phe xã hội chủ nghĩa, và vấn đề cái dốt ở đất nước ta đang lên ngôi… 

… 

…Nỗi niềm day dứt 

Xin nói thêm về tôi một chút. 

Tôi không lựa chọn cho mình, song cuộc sống của nghề nghiệp ngoại giao rất sớm đặt tôi vào trong lòng sự cọ sát đối kháng quyết liệt giữa 2 thế giới Đông – Tây, còn có một tên gọi khác là «cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa 2 con đường – CNXH và CNĐQ?» - trong suốt 4 cuộc chiến tranh mất / còn vô cùng đẫm máu của đất nước để giành lại độc lập thống nhất, và cho đến khi phe XHCN sụp đổ. 

Sau đó nghề nghiệp cũng gắn bó tôi với mọi bước đi của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước thời bình. 
…Tôi có thể dám chắc, mong muốn của tôi mổ xẻ lịch sử như vậy đến từ những nỗi đau của đất nước và của họ hàng ruột thịt trong gia tộc của tôi, ngay trong gia đình tôi… mà tôi cảm nhận được trên da thịt mình suốt đường đời mình đã trải qua. Hầu như mong muốn này không đến từ hoài bão nào trong tôi cả – đành rằng làm sao ai sống mà không có hoài bão!? 

Song cũng có thể nói, mong muốn này của tôi còn nảy sinh từ truyền thống yêu nước của chính gia đình và họ tộc mình.., yêu nước theo con đường định mệnh đã đặt chúng tôi vào… Trong khi đó, kể từ khi có vỹ tuyến 17, một nửa máu mủ họ hàng của chúng tôi ở bên kia cũng có những người định mệnh đặt họ vào con đường này hoặc con đường khác… 

Riêng trong gia đình tôi, bố tôi đã có hai em tham gia cách mạng từ trước 1945... Hai chú của tôi đã trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ thủ đô mãi đến tận tháng 3-1947 mới rút ra khỏi nội thành… 

Thời kháng chiến chống Mỹ bố mẹ tôi có một con dâu, một con rể và ba con trai tại ngũ, trong đó bốn người cầm súng chiến đấu trên các chiến trường khác nhau của tổ quốc. Vợ tôi là người đã nhập ngũ ngay sau khi tốt nghiệp đại học của thời «3 sẵn sàng» năm 1965… Gia đình mẹ vợ tôi là cơ sở cách mạng của ta ở Hà Nội trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp… Kể lể ra như thế chỉ để nói chúng tôi sống có ý thức đối với đất nước trên con đường chúng tôi đi. 

Trước đây lâu lắm rồi, đôi lúc có dịp hàn huyên trong nhà, mấy người anh em họ và bạn chí cốt trì triết tôi: …Trung ơi, người như mi sao ngu lâu thế!?.. Bố tôi nghe, chỉ cười không nói gì… Tôi cũng không biết trả lời thế nào. Ngồi nói chuyện với nhau như thế trong nhà, cứ 10 người thì đến 9 người cho rằng chẳng có ĐCS nắm quyền nào trên thế giới này có thể thay đổi được, nó chỉ có khả năng tự đổ vỡ hay bị đập tan!.. Họ cũng nghĩ như vậy về ĐCSVN, dù rằng đa phần trong số họ đều là đảng viên lâu năm! 

Các vị này bây giờ đi xa hết cả rồi, bỏ tôi lại một mình… Song đến hôm nay tôi vẫn chưa có câu trả lời dành cho câu hỏi về tôi của các vị!.. 

Nỗi đau trong tôi kinh niên lâu quá, có lẽ đã trở thành bản năng, nó gần như không cần biết đúng sai nữa!?.. 

Thú thật, sống giữa gia đình và họ hàng, ăn ngủ thở hàng ngày giữa lòng đất nước, thế nhưng cái bản năng như là “nghiệp” mà trong những lúc thất vọng chính tôi cũng không muốn ôm lấy nữa, không hiếm lúc làm cho tôi nhức buốt với cảm giác: Tôi như đang một mình lạc vào một sa mạc chưa từng biết đến, đơn độc và không hy vọng tìm được đường về - dù đang sống giữa những người thân của mình!.. 

Không dưới một lần tôi đã nói với anh em, con cháu, bạn bè mình, kể cả trong những lúc trà dư tửu hậu: Tôi chắc sẽ không có may mắn được chứng kiến đất nước thay đổi đâu! Thế hệ các chắt của tôi thì may ra có thể! 

Nhưng vì là nỗi lo đã trở thành “bản năng”, nên tôi không bỏ được niềm tin: Tiền đồ của đất nước chỉ có thể nằm trên con đường thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược![12] Phải có dân trí và hòa hợp dân tộc để có sức mạnh hoàn thành… 

Cái bản năng niềm tin này đối với tôi vì thế nhiều khi như là nghiệp! 

Trong những người ngồi nói chuyện với nhau trong nhà như vậy, có một ông anh của tôi cùng học thi với anh Việt Phương, cũng một dạng thông minh như vậy, nhưng con nhà giàu phố Hàng Bạc. Ông học trên anh Việt Phương một năm, nhưng sau đó anh Việt Phương đuổi kịp – không rõ vì ông đúp một năm hay anh Việt Phương nhảy cóc một năm. Học xong ông sống làm dân thường, ở lại Hà Nội không tham gia kháng chiến, tiếp tục là dân thường cho đến lúc về với tổ tiên. Ông anh này là con giai trưởng họ hàng thân thiết bên ngoại của gia đình tôi. Đôi lần ông nói với tôi: 

- Anh chỉ là người Việt Nam, đối với anh thế là đủ rồi chú ạ! 

Ông anh tôi giữ được những cốt cách như tôi thấy ở ông bà ngoại mình thời xưa, rất hiền lành của một nhà nho, mà tôi được coi như là một đứa cháu cưng… Nhưng không rõ truyền thống này bền được bao lâu. Ngay trước khi ông đi xa, con cháu ông đã thành các chi, các nhánh rất khác nhau, ở trong nước và ở nước ngoài hết cả rồi… 

Một mẩu truyện tôi nhớ đến hôm nay, trong tuần lễ đầu tiên khi tôi về tiếp quản Hà Nội (10-10-1954): Người bên họ ngoại tôi gặp đầu tiên chính là ông anh trưởng bên họ ngoại này. Tôi còn nhớ, hôm ấy, ngay sau phần thăm hỏi họ hàng ra sao, ai còn ai mất, ai sống ở đâu đi đâu.., câu chuyện đi ngay vào «chính trị» - có lẽ vì nỗi lo của anh tôi đối với chế độ. Tôi ra sức bảo vệ chủ nghĩa xã hội, tìm đủ mọi thứ chứng minh Liên Xô tốt đẹp như thế nào và hơn đứt Mỹ. Liên Xô của tôi lúc bấy giờ chủ yếu là Liên Xô trong «Thép đã tôi thế đấy» của Nikolai A.Ostrovsky – tiểu thuyết Liên Xô đầu tiên tôi được “nghe” trong đời. 

Sự thể “nghe” tiểu thuyết là thế này: Hồi ấy, khoảng 1951, tôi được tham gia lớp huấn luyện chính trị cho các học sinh là hiệu đoàn trưởng, hiệu đoàn phó… các trường trung học toàn Liên khu Viêt Bắc, tổ chức tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên, lúc đó tôi là hiệu đoàn trưởng trường Trung học Yên Bái. Chương trình ngoại khóa của lớp là giới thiệu tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy!”. Tại lớp học này, bọn tôi chỉ mong ngày chóng tối để được “nghe” tiểu thuyết quá hấp dẫn này. Cứ đến giờ, là bọn tôi tề tựu đủ mặt trong lán, ngồi chung quanh cái đèn dầu măng-sông sáng choang, người vừa đọc vừa kể truyện tùy đoạn là anh Cao Kiến Thức (cùng lứa và công tác thanh vận với anh Nguyễn Lam - 1922-1990). Anh Thức giỏi tiếng Pháp, đọc thẳng bằng tiếng Việt từ truyện ra những phần hay nhất, nên ngồi nghe càng hấp dẫn. Hỏi thăm nhau, hóa ra anh Thức ở phố Hàng Bông, mẹ là chủ cửa hiệu bán hàng trang sức mỹ kim, mẹ anh Thức lại là bạn với mẹ tôi – con gái phố Hàng Bạc… Chuyện không may, khi lớp học bế mạc, anh Thức đột ngột lên cơn sốt rét ác tính. Ở giữa rừng sâu, thuốc chữa hồi đó duy nhất chỉ có kí-ninh uống hoặc tiêm. Chúng tôi thay nhau ôm chặt anh Thức những lúc anh lên cơn co giật mạnh, lúc dùng thìa cố cậy hai hàm răng anh nghiến chặt để đổ thuốc, đổ sữa… Nhưng bệnh tật đã cướp mất anh Thức của chúng tôi!.. 

…Những năm gặp nhau sau này, kể cả đôi lần trước khi ông đi xa, ông anh trưởng bên họ ngoại của tôi thường mở đầu câu chuyện «Chủ nghĩa xã hội của chú Trung hôm nay thế nào?», để nghe tôi kể tình hình thời sự đất nước. Rất ít khi ông mở đầu câu chuyện với câu hỏi: “Tình hình đất nước có gì mới không chú?”… Một hai lần ông buông lời bình: «Nó khác với chủ nghĩa xã hội lần đầu tiên chú kể cho tôi nghe năm nào, chú Trung nhỉ!»… Tôi chỉ biết cười trừ. Xót xa… 

Kể lể ra như vậy, chỉ để nói lên: Nỗi day dứt trong tôi không phải là sản phẩm của bất kỳ một sự động dao, «diễn biến», hay «tự diễn biến nào»! Nỗi day dứt này là một nhận thức tất yếu không thể khác được của một con người đã cùng với cả gia đình và họ tộc mình dấn thân trên con đường đất nước đã trải qua từ Cách Mạng Tháng Tám đến nay! Chính tôi đã trực tiếp sống trong bom đạn và tự thân mình cảm nhận bằng tất cả tâm hồn, ý thức và các giác quan thế nào là chiến tranh, là đau khổ mất mát… mà dân tộc ta đã phải chịu đựng… Tôi đã trải nghiệm và phân biệt được thế nào là đúng, thế nào là sai.., thế nào là bất công, là man rợ, là sự thật, là dối trá.., thế nào là công, thế nào là tội… đã xẩy ra trên đất nước ta suốt chặng đường này, nhất là trong 43 năm đầu tiên đất nước độc lập thống nhất… 

Nói đơn giản, đi cùng với con đường gian khổ và đầy thương đau này của tổ quốc mình, tôi là người, chứ không phải là gỗ, càng không phải là một vật nuôi! 

Nói là tôi đau nỗi đau của dân tộc tôi và tổ quốc tôi… – sẽ hoàn toàn không sai. Nhưng như thế nghe đại ngôn quá! Tôi không dám tự nói cho mình như thế! 

Song tôi đủ can đảm dám nói: Tôi thực sự đau lòng về nỗi bất lực của mình. Tôi không làm sao nói lên được đúng tầm cái giá quá lớn dân tộc và tổ quốc chúng ta đã phải trả trong 2 thế kỷ này, nhất là từ năm 1930 đến nay, những gì nhất thiết phải tránh, những gì cha truyền con nối phải làm bằng được, những gì phải đặt vào cái đích chung của toàn dân tộc, để từ nay thế hệ này sang thế hệ khác quyết giành lấy và gìn giữ… 

Nỗi đau nói trên khiến tôi cả quyết: 

Chính khoảng lịch sử chưa đầy một thế kỷ này (1930 – 2018) sẽ quyết định tương lai của đất nước từ nay trở đi: 

- Hoặc là dân tộc Việt Nam ta sẽ đổi đời được chính mình, làm cho đất nước sánh vai được cùng với thiên hạ; 

- hoặc là dân tộc Việt Nam ta sẽ vẫn mãi mãi bị cầm chân tiếp trong cái khoang đen chứa phế liệu của con tàu thế giới.., nước đã độc lập thống nhất – song vẫn là một quốc gia bị chiếm hữu!..[13]

tất cả tùy thuộc vào dân tộc Việt Nam ta hôm nay có hay không học được những gì phải học trong những thành / bại, những cái giá rất đắt đã phải trả, và những kinh nghiệm chính mình tích lũy được trong khoảng lịch sử này. 

Tại đây tôi xin thú tội: 

Đã có những đêm không ngủ, tôi muốn hét vào mặt ĐCSVN hôm nay, hét vào mặt từng người dân trong cả nước – trong đó có cả tôi: Đất nước bẩy tám thập kỷ nay bị bầm dập đến thế này, đã mấy chục năm độc lập thống nhất rồi mà vẫn không giúp được nhau khôn lớn lên, không quyết cùng nhau khôn ngoan lên, thì thân phận ruồi muỗi đất nước chúng ta đã phải trải qua và hôm nay lại đang lăm le phía trước cũng đáng thôi! Chẳng có định mệnh nào cả! Chỉ tại chính chúng ta mà thôi! Cái thế giới này thật vô cùng cùng ác nghiệt.., nhưng cũng sòng phẳng vô cùng!.. 

Không một ai trong trong cộng đồng nhân dân cả nước chúng ta có thể đổ lỗi cho người khác bên cạnh! Mỗi người trong cộng đồng nhân dân cả nước chúng ta – từ người có quyền lực cao nhất, đến cùng đinh hạng chót trắng trơn – đều có phần lỗi của riêng mình về thân phận đất nước hôm nay, quyền càng cao tội lỗi càng lớn! – tôi nghĩ như vậy, không ai thoát được! 

Tôi cũng không dưới một lần đã nói và viết ra: 

- Để đất nước mình như hôm nay, không một đảng viên ĐCSVN nào – trong đó có tôi – là vô can! 

Cứ nhìn ra Biển Đông hôm nay đi, cứ nhìn vào những ngổn ngang be bét trong nước đi, mọi người sẽ thấy tất cả! 

Xin đừng vội khép tôi vào tội ngạo mạn khi các bạn phải đọc những dòng chữ này. Tôi bị day dứt như vậy, và xin chia sẻ thực lòng như vậy! 

Có thể tôi đúng hoặc sai! Tôi cho phép mình tự vượt lên trên mọi đúng và sai để bộc bạch nỗi lòng của mình như vậy! 

Tôi vô cùng mong mỏi mỗi chúng ta nghiêm túc nhìn nhận lại tất cả! 

… 

Từ những gì tôi đã viết suốt gần 3 thập kỷ vừa qua (tôi không thể tổng kết lại được là bao nhiêu bài, có thể là vài trăm bài với hàng chục nghìn trang.., trên nhiều lĩnh vực trong cuộc sống đất nước), xin nêu ra vài nét khái quát dưới đây về đất nước trong suốt thời kỳ này, bắt đầu từ 30-04-1975. 

Con đường đất nước trải qua từ sau 30-04-1975 đến nay có thể diễn tả như sau: 

1. Thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong hòa bình nước ta chẳng những có muôn vàn khó khăn thời hậu chiến, mà còn phải đối mặt với biến cố thế giới nghiêm trọng là sự sụp đổ của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa. Lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và ý thức hệ của nó vừa là mục tiêu chiến lược, vừa là hơi thở và là một động lực quyết định của 4 cuộc kháng chiến. Thực tế này tự nó đã định hình hướng đi của đất nước ta trong thời bình như một khách quan tất yếu – trước hết với nghĩa không thể tránh được. 

2. Tuy nhiên, sự nghiệp hồi sinh đất nước coi như bị thực tế diễn biến của đời sống quốc tế bứt ra khỏi quá trình vốn đã định hướng cho nó: ĐCSVN xây dựng CNXH trên đất nước độc lập thống nhất của mình trong bối cảnh cuộc đấu tranh «ai thắng ai?» thất bại đã nghiêng hẳn về phía CNXH. Trong tình hình này, đất nước ta có nhiều bỡ ngỡ, hẫng hụt mới không ngờ tới, đồng thời đứng trước nhiều khác biệt quá lớn so với thế giới bên ngoài. 

Có thể nói lãnh đạo đảng bất cập và bị choáng! – tôi nghĩ như vậy. Tất cả những gì đã xảy ra trên đất nước ta ngay từ ngày đầu tiên sau 30-04-1975 cho đến Hội nghị Thành Đô 3&4-09-1990 giải thích thực tế này. 

3. Trong khi đó tư duy của đảng lãnh đạo và thượng tầng kiến trúc của đất nước độc lập thống nhất vốn hình thành trong suốt quá trình cách mạng này, nên tất yếu lạc hậu và không thể phù hợp với bối cảnh và xu thế phát triển của thế giới bên ngoài – nhất là trên 2 phương diện: (a)sự vận động không thể cưỡng lại của quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới, (b)quan hệ Việt Nam – Trung Quốc chẳng những không phải là «quan hệ đối ngoại XHCN» (thật ra chưa bao giờ như vậy), mà còn tích tụ ngày càng nhiều yếu tố đối kháng; trong khi đó kể từ sau hội nghị Thành Đô phía Việt Nam lại đi hẳn sang chiều hướng lấy sự đồng dạng ý thức hệ với TQ làm căn bản xây dựng quan hệ hai nước! 

4. Trong mối quan hệ song phương Việt – Trung phần đối kháng của Trung Quốc giữ vai trò quyết định, phần hợp tác của Trung Quốc nhẹ cân hơn nhiều và còn có chức năng trang điểm và hẫu thuẫn cho phần đối kháng. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, song không nên chỉ một chiều đổ lỗi cho chính sách bá quyền và quyền lực mềm của Trung Quốc – vì làm gì có một Trung Quốc không bá quyền! Nên nhìn nhận đầy đủ hơn những yếu kém và sai lầm của phía ta để nghĩ đến lối ra sau này. Xu thế phát triển tiêu cực của mối quan hệ song phương này hiện đang gia tăng, do (a)vì mục đích toàn cầu, những bước đi của Trung Quốc ngày càng ráo riết và tập trung vào khu vực nước ta, sự can thiệp thường xuyên bằng quyền lực mềm và quyền lực rắn của Trung Quốc vào Việt Nam gia tăng, bước ngoặt là hội nghị Thành Đô; (b)phía ta ngày càng bất cập, đồng thời sự tha hóa của chế độ chính trị tự nó cũng mang lại cho đất nước những thách thức mới nguy hiểm. 

5. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, lãnh đạo vấp nhiều bất cập, đồng thời phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng của duy ý chí và tha hóa. Tuy nhiên, phẩm chất chính trị của lãnh đạo thời kỳ những năm đầu sau 1975 này đã cho phép nhận thức ra phát huy được sức sống của đất nước, từ đó dựa vào dân nên đã đi tới được công cuộc đổi mới 1986 thay da đổi thịt nền kinh tế. Đất nước có bộ mặt mới. Thời kỳ ngoạn mục này kéo dài khoảng 1 thập kỷ, sau đó sớm đối mặt với mâu thuẫn mới: Vô cùng đáng tiếc, kinh tế càng phát triển, chế độ chính trị càng bất cập. Nguyên nhân chính: trối bỏ cải cách chính trị, với lập luận giữ vững định hướng XHCN. Sau đổi mới 1986, nhất là sau hội nghị Thành Đô, phẩm chất chính trị của lãnh đạo ngày càng sa sút hẳn từ đây. 

6. Yêu cầu phát triển của đất nước đòi hỏi phải mở cửa đẩy mạnh tham gia quá trình toàn cầu hóa, song phản ứng của lãnh đạo và chế độ chính trị lại là co lại, để gia tăng kiểm xoát và tăng cường quyền lực. Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ tháng 1-1994 của ĐCSVN trong nhiệm kỳ khóa VII đánh dấu bước thụt lùi lớn. Sự năng động của nền kinh tế đất nước thời hội nhập ngày càng mâu thuẫn sâu sắc với chế độ chính trị đang ngày càng bất cập và tha hóa. Mâu thuẫn này cùng với sự tha hóa của đảng và chế độ chính trị ngày càng gia tăng đã làm cho nhiều giá trị của dân tộc và đất nước bị băng hoại: Đất nước đi hẳn vào thời kỳ chế độ toàn trị, dẫn tới tham nhũng và lãng phí lên ngôi làm kiệt quệ đất nước, bất công và trấn áp bùng phát chưa từng có. Cuộc khủng hoảng toàn diện của đất nước bắt đầu từ đây cho đến hôm nay chưa có lối ra. 

Có thể xem từ cuối khóa đại hội IX cho đến hôm nay (khoảng 15 năm) là thời kỳ có những tiêu cực, tội ác và tham nhũng đen tối nhất cho đến nay trong 43 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước – giữa lúc sức sống của đất nước và những thách thức trên thế giới đang đòi hỏi đất nước phải có những thay đổi quyết liệt. 

7. Đặc biệt là từ khi chế độ toàn trị trở thành quyền lực tuyệt đối và biến chất tuyệt đối toàn bộ hệ thống chính tri, đảng nắm quyền đã tha hóa đến mức đứng trước nguy cơ phân rã (trước Đại hội XII). Đây là nguyên nhân chính khiến đảng nắm quyền và chế độ chính trị suy yếu toàn diện, phạm những sai lầm nghiêm trọng trong cả đối nội và đối ngoại, trong kinh tế đối ngoại – nhất là kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng toàn diện hiện nay. Trong quá trình này đã xảy ra không ít sai lầm và tội ác phản lại hay bán rẻ lợi ích quốc gia, bờ cõi đất nước bị xâm phạm. 

8. Môt trong những nguyên nhân trầm trọng nhất làm tha hóa đảng nắm quyền và chế độ chính trị là bệnh dối trá, đi liền với bóp nghẹt dân chủ. Bưng bít thông tin tự nó trở thành chính sách ngu dân, thực trạng đất nước bị cách giáo dục và tuyên truyền theo giữ vững định hướng che lấp. Nhân dân cả nước hôm nay không được cảnh báo đầy đủ những nguy cơ, thách thức để sẵn sàng, những cơ hội hay lợi thế đang đến cần tranh thủ và phát huy..; nhất là đất nước hầu như chưa sẵn sàng hay không được chuẩn bị thỏa đáng để ứng xử với những bất định chưa từng có trong thời kỳ thế giới đã sang trang đi vào trật tự quốc tế mới hôm nay – nan giải nhất là vấn đề Trung Quốc. Trong khi đó xu thế tụt hậu của đất nước chưa dừng lại, nguy cơ đất nước rơi vào cái hố đen của những bất ngờ không kịp trở tay không nhỏ... 

9. Nhìn lại tổng thể 43 năm qua chiến lược xây dựng và phát triển đất nước đã phạm những sai lầm trầm trọng: 

(a)Lợi thế lớn nhất của đất nước là nguồn lực con người không phát huy được, thậm chí bị làm cho tha hóa, suy thoái và làm cho suy kiệt; 

(b)tư tưởng nhiệm kỳ + nền kinh tế GDP tỉnh + quốc doanh là chủ đạo + đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân là những yếu tố gây ra những tác động tổng hợp: (1)một mặt băm nát nền kinh tế quốc dân, (2)mặt khác là tạo ra cái nôi lý tưởng của những tệ nạn quan liêu, tham nhũng và lãng phí, hút hết sinh lực của đất nước, (3)đồng thời làm phá sản hầu như mọi chiến lược phát triển của quốc gia đã đề ra được cho từng ngành hoặc từng lĩnh vực, (4)giam hãm đất nước trong nền kinh tế tiểu sản xuất và lạc hậu. 

(c)toàn bộ hệ thống chính trị và bộ máy quản trị quốc gia bị lợi ích nhóm và tầm nhìn của tư tưởng nhiệm kỳ chi phối nặng nề, một mặt dẫn đến những lựa chọn quyết định thiển cận và sai lầm trong chiến lược phát triển, mặt khác không thể vận hành và quản trị có hiệu quả nền kinh tế quôc dân. Kinh tế đất nước chìm sâu vào công nghiệp gia công, công nghiệp hạ nguồn, công nghệ lạc hậu, tài nguyên cạn kiệt và môi trường bị xâm phạm nghiêm trọng, kết cấu hạ tầng lạc hậu… Sức sống của nền kinh tế chủ yếu dựa vào sự vận động của những nguồn lực bên ngoài. 
Nguồn gốc của toàn bộ yếu kém nêu trong điểm «9» này là chế độ chính trị và những thể chế hiện hành, năng lực yếu kém của con người trong hệ thống. Hệ quả: Chiến lược hoàn thành công nghiệp hóa vào năm 2020 thất bại là tất yếu, chiến lược giáo dục hoàn toàn phá sản, cơ cấu toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhìn chung lạc hậu so với đòi hỏ phát triển của đất nước. Kinh tế đất nước đã đi hết còn đường phát triển theo chiều rộng, song vì “bóc ngắn cắn dài” nên hầu như không còn nội lực, không được chuẩn bị và không còn gì nhiều trong tay để chuẩn bị cho chuyển sang thời kỳ phát triển theo chiều sâu. Lực cản lớn nhất và trực tiếp đối kháng với đòi hỏi phát triển của đất nước lại là sự bất cập và tha hóa của chế độ chính trị, cái nghèo chỉ là hệ quả và là thứ yếu. Xin lưu ý cho: Không bao giờ có thể có một nền kinh tế phát triển lại do một thể chế chinh trị lạc hậu và tha hóa vận hành! Cải cách chính trị vì thế trở thành đòi hỏi sống còn! 

Trong cục diện hôm nay của thế giới và khu vực, thậm chí chỉ một cái xẩy tay, một bước đi sai lầm, một sự cố đất nước không làm chủ được.., cái giá phải trả thật khó lường. Đất nước chưa bao giờ có quy mô kinh tế lớn như hôm nay, song cũng chưa bao giờ ở vị thế bị uy hiếp nghiêm trọng và phải chịu hèn như thế này... Cũng phải lưu ý: 30 năm công nghiệp hóa (1986-2018) của nước ta GDP pc tăng 12 lần, nhưng của Hàn Quốc trong thời kỳ như thế (1960-1988) tăng khoảng 40 lần, của Trung Quốc (1978-2018) khoảng 25 lần.., song chi phí cho 1% tăng trưởng như thế ở nước ta cao hơn rất nhiều, riêng so với Hàn Quốc thời kỳ CNH này ước lượng khoảng <2 a="" bi="" c="" ch="" con="" d="" gi="" gia="" h="" i:="" i="" kho="" l="" m="" n="" nan="" nay="" nbsp="" ng="" ngh="" nhi="" o:p="" o="" p="" ph="" qu="" quan="" r="" s="" so="" song="" t="" ta="" th="" ti="" tr="" tri="" u="" v="" xa="">

Xin bỏ cách so sánh ta hôm nay với ta hôm qua để tự sướng. Mỗi chúng ta nên dành tâm trí tự hỏi: Nội lực của ta hôm nay như thế nào? Có thể tạo ra cho mình một tập hợp lực lượng trên thế giới ra sao nếu đất nước cứ một mình một lối trong cái thế giới đầy sát phạt hôm nay? Còn ai là bạn của mình khi tắt lửa tối đèn? Đã có cách gì tránh được thân phận là cái bãi đổ rác và là nơi bị các cơn lũ của những đồng tiền bẩn mọi xuất xứ càn quét? … … Một thể chế chính trị yếu kém như hiện nay sẽ kiểm soát như thế nào những con lũ bẩn này đang đổ vào đất nước (bây giờ đang nóng lên chuyện 3 ĐKKT!)… 

Song tôi càng lo, chiến lược hoàn thành công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta vào năm 2020 như đã ghi trong nhiều nghị quyết quan trọng của ĐCSVN hiển nhiên đã thất bại. Thế nhưng không thấy nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá, rút kinh nghiệm việc đã làm. Càng không thấy chỉ ra nguyên nhân số 1 của thất bại chiến lược này là thể chế chính trị và hệ thống nhà nước hoàn toàn bất cập hay không phù hợp cho quá trình công nghiệp hóa một quốc gia! Nghị quyết mới của Bộ Chính trị số 23-NQ/TW ngày 22-03-21018 về phát triển công nghiệp quốc gia lại đi thẳng vào chiến lược đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, nội dung tuy có nói đến cách mạng công nghiệp 4.0, nhưng là nói chỉ để cho đủ mâm đủ bát bầy lên bàn thờ, là những đòi hỏi / mong muốn chính trị hơn là một chiến lược công nghiệp hóa, không làm rõ được Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp kiểu gì và phải giành vị trí nào trong cấu trúc mới của kinh tế thế giới và quá trình toàn cầu hóa của thời kỳ mới này, càng không thấy nói phải có một thể chế quản trị quốc gia nào để hình thành và vận hành nền công nghiệp mới của đất nước… … 

Hầu như mọi chuyện đại sự quốc gia đang được đặt sang một bên, chỉ để tập trung lo chuyện «lò - củi» và vấn đề cán bộ - giữa lúc mọi vấn đề trong nước và ngoài thế giới của quốc gia đều rất nóng! Sự suy yếu toàn diện hiện nay của đất nước đang gia tăng nguy hiểm tình trạng bị lệ thuộc và sự uy hiếp của bên ngoài chưa từng có! 

Tuy nhiên, ngày đêm tôi cứ như húc đầu vào đá, vì mọi đề đạt của mình về nhiều điều hệ trọng, đến lãnh đạo, đến một số cơ quan hữu quan.., hàng chục năm nay cứ đi mãi trong không trung không về. 

Song tôi không có ý nghĩ bỏ cuộc. 

Khi Myanmar rục rịch những bước đi từ một chế độ quân phiệt đẫm máu sang một thể chế dân chủ hơn, tôi đã đến tân nơi tìm hiểu tất cả. Tôi đã cố gắng tiếp xúc các nhân vật tôi có thể gặp được trong chuyến đi này, tìm hiểu những chuyển biến đang diễn ra trong những ngày nóng hổi ngay sau cuộc bầu cử 08-11-2015 – cuộc bầu cử tự do đầu tiên của chế độ quân phiệt Myanmar, đã bầu ra thổng thống Thein Sein, một trong những người giữ vai trò quyết định mở ra một thời kỳ phát triển mới cho đất nước này. Tôi cũng cố tìm hiểu TQ đã làm được gì và không làm được gì trong những diễn biến ở Myanmar. Mong muốn của tôi về cải cách chính trị ở nước ta càng nóng bỏng. Trở về nước, tôi đã làm tất cả những gì có thể để kiến nghị một bước đi tương tự như thế của nước ta, do ĐCSVN tiến hành – vì hoàn cảnh nước ta không thể khác được. Tôi đánh giá nước ta có nhiều thuận lợi cho cải cách hơn Myanmar rất nhiều, chỉ thiếu điều duy nhất: Lãnh đạo ĐCSVN không hồi âm đề nghị của tôi. 

Myanmar hôm nay còn cho thêm một bài học mới về nguy cơ quay trở lại của chế độ quân phiệt và của sự can thiệp trở lại của Trung Quốc – liên quan mật thiết đến vấn đề bộ tộc người Rohingya và đạo Hồi (thế lực của bà Aung San Suu Kiji có lẽ không đủ mạnh để giải quyết v/đ quá sâu sắc này). Thật may mắn biết bao nước ta không có vấn đề sắc tộc đau khổ này, cũng không có vấn đề mâu thuẫn tôn giáo – song không được vì thế mà ăn no ngủ kỹ hay làm liều! 

Lâu nay tôi vẫn ngưỡng mộ Israel tồn tại và phát triển được gần như chỉ với sa mạc, lọt vào giữa trận địa của cả một thế giới bài Do Thái, tỷ lệ tính theo người là 1/23… Gần đây, đầu năm 2017, tôi cũng tìm cách sang tận nơi tìm hiểu tại chỗ, để kiểm nghiệm những gì tôi đã đọc về quốc gia hạt tiêu này… Thật đáng khâm phục. Tôi nghiệm được: Gìn giữ ý chí cố kết dân tộc, và nuôi nấng trí tuệ - đấy là 2 nhân tố hàng đầu đã mang lại cho quốc gia hạt tiêu này tất cả. Đối tượng của họ thì rõ rồi, thế nhưng đối tác của họ là cả thế giới, kể cả doanh nghiệp của gia đình cũng tìm đối tác cho mình là cả thế giới – lựa chọn những sản phẩm hàm lượng chất xám cao đến mức gần như độc quyền vì khó ai cạnh tranh được… Thật là khôn như người Do Thái!.. Ra về, tôi càng nôn nóng cho nước mình!.. 

Tôi không bao giờ nghĩ lẽ phải hoàn toàn thuộc về những ý kiến của mình, chắc chắn có nhiều đúng / sai khác nhau theo những quan điểm khác nhau. Song tôi tin rằng một khi vấn đề nêu ra có hồi âm và được xới lên, chắc chắn sẽ gợi mở nhiều điều có ích cho đất nước. Vì lẽ này trước sau tôi kiên trì… Nhất là tôi không muốn mọi hy sinh và mất mát của đất nước trong gần một thế kỷ vừa qua bị hôm nay phản bội, càng không thể chấp nhận đất nước ta cứ bị giam hãm mãi trong tụt hậu… 

Tôi viết không nản, còn vì không muốn im lặng trước những vấn đề tôi thấy không nên im lặng, ít nhất là để chia sẻ suy nghĩ của mình với mọi người. Vả lại tôi cũng có những bạn đọc thường xuyên – số đông trong họ là những người đã nghỉ hưu ở một số địa phương khác nhau trong nước và nước ngoài, nhận được từ họ ý kiến nhận xét đủ màu sắc – từ khen lên đến trời và chê còn hơn chửi độc: đồ ngu trung, con chim mồi… Song cũng không ít ý kiến của họ giúp tôi đào sâu suy nghĩ. 

Tôi lắng nghe hết, chỉ xuýt xoa trong lòng tại sao không thể tổ chức trong cả nước những diễn đàn trao đổi với nhau để cùng nhau học hỏi và rộng đường dư luận! Điều này cần thiết lắm cho đất nước, nhưng không thể - chỉ vì cấm tự do ngôn luận! Đến mức trên 40% dân số cả nước dùng inhternet và mobile fone mà đất nước vẫn trì trệ kéo dài, ý chí dân tộc sa sút và phân hóa… 

Cấm tự do ngôn luận chỉ che đậy được phần nào với hiệu quả gần như bằng không những cái sai và sự dối trá của người cầm quyền và chế độ. Nhưng cấm thế này trở thành sự buông bỏ hoàn toàn trận địa dư luận cho cái ác, cái xấu hoành hành. Trong bài toán «cấm» này, người cầm quyền trở thành kẻ ngu dốt và yếu kém, người bị hại là lợi ích quốc gia và quyền thông tin chính đáng của người dân, kẻ thắng lớn nhất là cái ác ngự trị đời sống đất nước. 

Suốt gần 3 thập kỷ nay, tong mọi báo cáo, bài nghiên cứu, bài viết, thư gửi lãnh đạo, trong các sách đã hoặc chưa xuất bản.., tôi luôn luôn nhấ quán quan điểm xuyên suốt : 

Gìn giữ mọi thành tựu và mọi vốn liếng đất nước phải trả bao xương máu mới có được, nhất quyết không phản bội một hy sinh nào, không một mất mát nào của đất nước được phép bỏ qua, tìm đường từ thực tại cải cách và phát triển để đưa nước ta đi lên – bằng sức mạnh của hòa giải và đoàn kết dân tộc. 

Tôi dứt khoát bác bỏ con đường cách mạng bạo lực, ngoại trừ xẩy ra trường hợp bất khả kháng, bởi vì 

(1): Cuộc đời đã dạy tôi mọi cuộc cách mạng trên thế giới đến nay đều ăn thịt những đứa con của mình, đến nay không một cuộc cách mạng nào trên thế giới đã thực hiên được lý tưởng tạo ra chính nó, vì thực hiện những lý tưởng cao đẹp ấy chỉ có thể là nhiệm vụ của phát triển; chưa nói đến những quốc gia đã diễn ra những cuộc cách mạng mang tên các mùa hoa này nọ đang bị những hỗn loạn thời hậu cách mạng biến đất nước họ thành những miếng «da lừa» cho các hùm sói giành giật nhau đến hôm nay chưa có hồi kết! 

(2): Tôi không chấp nhận đất nước ta 3 thế hệ liên tiếp đã phải gánh chịu 4 cuộc kháng chiến chống xâm lược, lại sẽ phải bước vào một cuộc bể dâu mới – vì lẽ này, tôi kiên trì theo đuổi ý chí thay đổi ĐCSVN thành đảng của dân tộc. Ai nói gì mặc, với tinh thần còn nước còn tát, cho đến khi tôi thất bại hoàn toàn hoặc tôi thành công! 

(3): Đòi hỏi tiên quyết cho sự phát triển đổi đời đất nước là vấn đề dân trí,trong thế giới hôm nay lại càng như vậy! Cuộc sống hôm nay hình như chỉ dành cho nước ta một con đường: Từ những thỏa hiệp và đồng thuận dân tộc nhỏ nhất tạo ra và tích tụ khả năng dưỡng sức dân, để tập trung tất cả cho nỗ lực nâng cao dân trí và đồng thời qua đó đẩy mạnh quá trình hòa hợp dân tộc. Đất nước chỉ có thể đi lên bằng trí tuệ của những công dân tự do của nó và sức mạnh của hòa giải đoàn kết dân tộc trong một thể chế chính trị dân chủ và tiến bộ! 

Nhìn lại con đường đất nước đã trải qua từ năm 1930 cho đến hôm nay, tôi rút ra kết luận từ nay trở đi, dân tộc Việt Nam ta cha chuyền con nối, cần đem tất cả nghị lực và ý chí thực hiện bằng được: 

Một là: Nhiệm vụ xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giầu mạnh, tự do, hạnh phúc, là thành viên có năng lực, được tin cậy và được tôn trọng trong cộng đồng quốc tế. 

Hai là: Nhiệm vụ tạo ra sức mạnh, trí tuệ và bản lĩnh thực hiện được là láng giềng của hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng và cùng phát triển bên cạnh Trung Quốc, được Trung Quốc tôn trọng![14]

Cá nhân tôi nguyện đem hết sức mình phục vụ hai mục tiêu chiến lược này. 

Bàn về lập luận: cấm tự do ngôn luận là đề phòng độc hại 

Độc gì? và hại ai? là cả một vấn đề. 

Cuộc sống đất nước cho thấy: Cấm tự do ngôn luận, bưng bít thông tin và dối trá như đang làm, chỉ đem lại ngu dân, gây ra nhiều tổn thất lớn mọi mặt, làm suy yếu đất nước, chỉ chứng minh được sự yếu kém của chế độ toàn trị! 

Phòng độc & hại một cách hiệu quả với đúng nghĩa vì lợi ích quốc gia là phải nâng cao dân trí. 

Cho phép tôi ngay tại đây nói thế này: 

Trong thế giới đã sang trang hôm nay để bước vào trật tự quốc tế mới, Việt Nam sẽ thắng hay thua, trước hết tùy thuộc vào dân trí! 

Hiện nay Việt Nam đang thua thiệt trên nhiều mặt trong thế giới này, vì chính sách ngu dân[15], chứ không phải vì dân trí thấp. Thực trạng dân trí thấp ở mức rất nguy hiểm hiện nay ở nước ta không phải do nhân dân ta dốt nát, mà là do chính sách ngu dân của chế độ! Thực trạng này đang trở thành thách thức lớn nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong một thế giới đầy biến động quyết liệt, lại vào giữa lúc đất nước đòi hỏi phải có những thay đổi sâu sắc! 

Về dân trí, nói khái quát cho 43 năm qua theo tôi nhìn lại là thế này: 

Ra khỏi chiến tranh, lẽ ra vấn đề dân trí nói chung và vấn đề giáo dục nói riêng của đất nước ngay tức khắc phải được trao cho một cuộc sống mới, một nội dung mới, để góp phần chuyển cuộc sống của đất nước từ thời chiến sang thời bình mở cửa ra thế giới, để sẵn sàng và chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới… Song trên thực tế chỉ làm vẻn vẹn có 2 việc: (a) tuyên truyền niềm tự hào không giới hạn về chiến thắng vinh quang – và chỉ có thế, đến mức trong nhiều bài viết tôi gọi là hiện tượng “mài quá khứ ra mà sống!”.., và (b) giương cao ý thức hệ của CNXH, khẳng định độc lập dân tộc gắn với CNXH. 

Lúc đi vào thời chế độ toàn trị lên ngôi, nội dung trên còn được bổ sung thêm chính sách ngu dân trên thực tế, (de facto, do hệ quả của những chính sách khác nhau dẫn tới, nghĩa là không thành văn…). 

Kêu dân trí nước ta thấp mà không nói tới nguyên nhân sự vật, đồng nghĩa đổ mọi tội lỗi cho dân! 

Quá trình tha hóa kéo dài hàng chục năm này dần dà đã hình thành nên ở nước ta một văn hóa của ngu dân và dân trí thấp. Thứ văn hóa này cùng với sự lên ngôi của chế độ toàn trị đang ngày càng ngự trị đời sống văn hóa đất nước. Vì thế, trong lòng một chế độ chính trị định hướng XHCN xuất hiện quá nhiều hiện tượng hoang dã kinh hồn, đạo đức xã hội xuống cấp, sức sống năng động của đất nước bị chà đạp, bờ cõi bị xâm phạm..! Dù hôm nay mức sống nhìn chung của cả nước cao hơn nhiều so với lúc ra khỏi chiến tranh, đất nước đã giành được những phát triển nhất định, nhưng xin tha lỗi cho tôi: Tôi vẫn nghĩ đất nước mình đang thời mạt vận, bên trong thì hư đốn, bên ngoài thì bị uy hiếp. Đau lắm! Tất cả dồn nén thành nỗi ai oán “ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH?” (Trần Thị Lam). 

Thứ văn hóa này của chế độ toàn trị đang hồi sinh nhiều hủ lậu vốn có từ quá khứ, đầu độc suy nghĩ của nhân dân bằng nhiều quan điểm sai lầm, đánh lạc hướng những nỗi lo của đất nước bằng mọi cách, đồng thời tự nó góp phần đáng kể làm suy đồi đạo đức con người và ý chí của dân tộc. 

Đem chất lượng đạo đức, văn hóa, xã hội của nước ta hiện nay so sánh với Lào, Campuchia, Myanmar và Thái Lan, nếu bạn yêu nước mình chắc chắn bạn sẽ rút ra được nhiều điều đau lòng, có lẽ chỉ không nên so sánh với Trung Quốc! 

Một ví dụ nữa: Trong khi câu hỏi «Liệu Singapore có thể sống sót trong thế giới hôm nay?» từ mấy năm nay đang trở thành nỗi lo và được bàn luận sôi nổi của cả quốc gia này để tìm đường sống, ở nước ta chỉ có duy nhất một khẩu hiệu «độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội» như một thánh chỉ! 

Quyền lực giao cho thánh chỉ tối thiêng nói trên chức năng chi phối và quyết định đời sống mọi mặt của đất nước, giữ vững định hướng này bằng mọi bạo lực tinh thần và vật chất! Giữa lúc này, đất nước ta đang đứng trước đòi hỏi quyết liệt: Toàn bộ sức sống và nguồn năng lượng quốc gia phải được giải phóng và hướng vào con đường xây dựng nước ta trở thành nước phát triển!.. 

Thực tế hai thập kỷ nay đang chứng minh thứ văn hóa này hoàn toàn đủ sức cùng với chế độ toàn trị giam cầm nước ta trong lạc hậu, bất công và lệ thuộc bên ngoài. Ở nhiều nước khác, nếu có thực trạng nội trị như ta hiện nay, có lẽ chế độ hiện hành phải sụp đổ tới ba, bốn lần rồi – tôi đã viết rõ ra như thế, trong đó có một số lần đã gửi đến lãnh đạo ĐCSVN – trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. 

Mới đây nhất, báo chí đăng tải Quy định 102 và quy định 105 của Đảng về những vấn đề nội bộ đảng, và bản mẫu nội dung kiểm điểm hàng năm của đảng viên. Những văn bản này của ĐCSVN tự nó phản ánh đậm nét nội dung và hệ quả của văn hóa chế độ toàn trị đang ngự trị đất nước – bắt đầu ngay từ trong đảng ra ngoài xã hội. Những văn bản này tự nó nói lên mức suy thoái trầm trọng trong đảng… Bởi lẽ tính tự giác và tiền phong chiến đấu của đảng viên hầu như không còn nữa hay sao? Nếu thế đảng phải tự nhìn lại mình ghê gớm lắm: Hư như thế mà sao vẫn đòi quyền lãnh đạo?.. Đi qua 4 cuộc kháng chiến, đảng viên chúng tôi hồi đó đâu cần phải có quy định nào!.. Hệ thống hỏng, thì quy định nào giữ được?.. 

Một số người trong nước đau đớn tự hỏi: Tại sao dân mình ngu lâu, hư lâu, dễ bị lừa, mãi không chịu lớn?.. Còn thế giới bên ngoài đã có ý kiến (trong đó sau này có Lý Quang Diệu) gọi ta là nước không chịu phát triển, là NATO (No Action,Talk Only)… 

Phải nói đất nước chúng ta đổi đời được hay không? trong thế giới đã sang trang đi vào trật tự quốc tế mới hôm nay, sẽ phải bắt đầu từ đất nước chúng ta thắng hay bại trong loại bỏ thứ (nền) văn hóa cấu thành từ hủ lậu của quá khứ cộng sinh với văn hóa ngu dân của chế độ toàn trị hôm nay sản sinh ra. [Cách đây hơn một thế kỷ Phan Châu Trinh đã khắc khoải nói lên với cả nước đòi hỏi tiên dân trí, chấn dân chí, hậu dân sinh.] 

Thứ văn hóa này đã và đang ký sinh trên những yếu kém của từng người dân chúng ta, phát triển thành nhiều gốc rễ bò lan khắp đất nước, ngày đêm đầu độc tâm hồn Việt, nó có tuổi đời đến nay là 43 năm! Xin được gọi trong một cái tên chung: Đấy là thứ văn hóa của chế độ toàn trị. 

Nhưng nếu nói nước ta đang thua thiệt nhiều mặt, có quá nhiều vấn đề tệ hại vì quan trí thấp, tôi tán thành không do dự! 

Xin chia sẻ như vậy để cùng suy nghĩ. 

Còn một thứ võ thông qua mọi loại hình quan hệ trên các lĩnh vực, đẩy mạnh thâm nhập của quyền lực mềm mọi dạng, với một núi tiền sẵn sàng mua mọi thứ - ít tiền không xong thì nhiều tiền hơn, nham hiểm một không thắng thì nham hiểm hai, ba, bốn… cho đến khi đạt mục tiêu, được vận dụng theo nguyên lý không đánh mà thắng có từ thời Tôn Tẫn, không giết mà vẫn chết của môn cờ vây, không dùng súng đạn nhưng hạ gục đối phương bằng lý thuyết trò chơi [16]. Quyền lực mềm này đang củng cố những trận địa kinh tế đã án ngữ được, chiếm thêm những trận địa mới trong những lĩnh vực khác (văn hóa, chính trị, tư tưởng, an ninh…), khi cần thiết có thể dọn dẹp sẵn trận địa cho xâm lược vũ trang của một đội quân lớn nhất thế giới có thể đè bẹp các đối tượng tại chỗ, chớp nhoáng gây ra những «chuyện đã rồi!» nào đó. Đã xuất hiện những lời đe dọa không thể rõ hơn (tướng Phạm Trường Long dọa ta về Biển Đông)! V… v… Phải chăng lúc ẩn lúc hiện đã và đang phảng phất một bức tranh như thế trên bầu trời nước ta? 

Xin hãy thử đặt ra những con tính kinh tế, làm những việc cân đối các nhu cầu của quốc gia, đặt ra những bài toán tình thế, giả định những tình huống bất khả kháng (forces majeures), ai - ở đâu - và chuẩn bị sẵn sàng cái gì, những kịch bản...? Mặt trận nhân dân, mặt trận kinh tế, mặt trận ngoại giao, mặt trận quân sự v… v... Xong rồi, đem so sánh, đối chiếu với mọi chuẩn bị, tính toán, sẵn sàng của ta, sự trang bị thông tin, tinh thần và trí tuệ cho nhân dân, v… v…… Có lẽ khó mà nói, Việt Nam chúng ta đã ý thức đầy đủ về nguy cơ và tầm vóc xâm lăng mềm và rắn như vậy. Càng khó nói là chúng đã động não, động chân, động tay ở mức thỏa đáng, đạt tới sự phòng ngừa tin cạy… 

Song trong tôi còn có một nỗi lo khác nữa: Liệu khả năng đề kháng dân tộc ta còn giữ được cho đến hôm nay sẽ mang lại sự đề kháng phải có? Hay là với hệ quả của một văn hóa trong đó có vốn cổ tích «tấm, cám», nay được nhào luyện thêm thứ văn hóa ngu dân 43 năm nay của chế độ toàn trị, nó sẽ có thể còn đẻ thêm ra cái gì nữa?!.. Mối nguy này không nhỏ! Hiện nay đã và đang âm thầm diễn ra hiện tượng di tản qua xuất khẩu lao động hay dưới hình thức được cho cái tên là “tỵ nạn giáo dục”, doanh nhân bỏ ra ngoài sinh sống... Trong lòng đất nước đang có hiện tượng di tản tại chỗ: lòng người rời bỏ hay quay lưng lại đối với chế độ chính trị! 

Xin đừng bao giờ quên trong thời kháng chiến chống Pháp và chống MỸ, mối nguy lớn nhất của quốc gia là dân tộc bị chia rẽ, vì thế đất nước đã phải trả giá rất đắt! Cho đến hôm nay nước ta chưa có tổng kết nghiêm túc để nhận thức sâu sắc mối nguy này và những hệ lụy của nó. Hôm nay mối nguy này đang tiềm tàng trong những vấn đề mới của đất nước và trong bối cảnh quốc tế mới, nguyên nhân chính là những yếu kém của chế độ toàn trị! 

Chỉ có khi nào dân là một, dân và chế độ chính trị là một, khi ấy cả nước sẽ là một núi chắn bất khả kháng đối với bất kỳ loại sóng thần hay xâm lăng nào có thể xảy ra, bất kể nó từ đâu đến. Là một như thế, đất nước này không một ai trên thế giới này có thể biến nó thành vật đổi chác! Là một như thế, nhân loại văn minh – kể cả nhân loại văn minh trong lòng 1,3 tỷ dân Trung Quốc, sẽ đứng về phía chúng ta, đồng thời dân tộc ta cũng sẽ trở thành một bộ phận gắn bó của nhân loại văn minh ấy. Chân lý là một như thế đã có từ thời Diên Hồng. 

Bất chấp sự khuynh đảo hiện nay của thứ văn hóa của chế độ toàn trị, cái gen Diên Hồng của dân tộc ta là bất diệt! 

Tòa nhà Quốc hội hiện nay phòng họp chính có tên là Diên Hồng, song người ngồi trong đó – chứ không phải ai khác, đang làm cho tên gọi này chưa có nội dung. Đã đến lúc phải vượt qua mọi sao nhãng, làm tất cả để xác lập lại ngay bây giờ và mãi mãi ý chí là một như thế! 

Xin lưu ý cho, dù một nghìn năm Bắc thuộc, đất nước này vẫn làm nên Bà Triệu, Hai Bà Trưng... Dù thời thế làm cho tan tác, đất nước này vẫn dấy lên bông lau Đinh Bộ Lĩnh làm cờ dựng lại cơ đồ… Trên con đường lịch sử vạn dặm đầy thử thách mất / còn này cho đến ngày nay, đất nước này đã tạo ra, và cuối cùng luôn luôn là không bao giờ đánh mất cái gen là một của mình trong mọi tình huống bị vùi giập, cho dù bị vùi giập thế nào đi nữa! Kẻ thù của đất nước, dù là ai, luôn luôn ngán cái gen này! 4 cuộc kháng chiến vừa qua đã chứng tỏ như vậy. 

Trong hiện tai, cái gen này chắc chắn sẽ tiếp tục làm tan tác mọi ý đồ và bạo lực muốn vùi giập đất nước này một lần nữa - dù là như thế nào và do ai. 

Tuy nhiên, tôi ước ao, nhiệm vụ của mọi người dân Việt chúng ta hôm nay và mãi mãi các thế hệ sau này, là phải làm cho mỗi bản thân chúng ta và cả nước, từ nguồn gen này quyết trưởng thành lên thành một quốc gia phát triển của một dân tộc tự do, chủ động làm nản mọi ý đồ muốn vùi giập đất nước ta. Đơn giản vì: 

Sống là phát triển, muốn sống phải phát triển, gen nào cũng vậy! Từ gen phát triển tiếp tục lên thì sống được. Nhưng biến đổi gen sẽ đồng nghĩa với diệt vong!   

Tôi cầu mong khát vọng này là đúng và được tự giác bàn đến trong cả nước và trong toàn thể cộng đồng người Việt ta ở nước ngoài, được lựa chọn, được quyết định! 

[11] Có nhiều bạn đọc dị ứng gay gắt với khái niệm “chúng ta” tôi dùng ở đây, tôi mòn được thông cảm. Tôi nói “chúng ta” ở đây trong tinh thần của hòa giải dân tộc, hơn nữa để dễ thảo luận. – Nguyễn Trung./. 

[12] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Phải sống” 

Một là: Nhiệm vụ xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giầu mạnh, tự do, hạnh phúc, là thành viên có năng lực, được tin cậy và được tôn trọng trong cộng đồng quốc tế. 

Hai là: Nhiệm vụ tạo ra sức mạnh, trí tuệ và bản lĩnh thực hiện được lẽ tất yếu đời đời là láng giềng của hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng và cùng phát triển bên cạnh Trung Quốc, được Trung Quốc tôn trọng! 

[13] Suy nghĩ này tôi đã nêu trong loạt bài “Thời cơ vàng” năm 2006 và trong một số bài viết khác. 

[14] Tham khảo Nguyễn Trung, “Phải sống!” http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_PhaiSong.html

[15] Theo tôi, chính sách ngu dân của chế độ ta hiện nay đã vượt xa thời bị thực dân pháp đô hộ, có rất nhiều dân chứng trên giấy trắng mực đen để đi tới kết luận này. Chỉ riêng việc nhà nước ta không đủ bản lĩnh công khai làm sự so sánh rất nên làm này, đủ nói lên tất cả. 

[16] Conspiration theory / gambit theory – nổi bật ở 2 điểm cốt lõi: (1) mọi nguyên tắc đều có thể thay đổi, và (2) mục tiêu biện minh cho biện pháp. Trong ứng dụng, khi tình huống đi vào bế tắc hay có khả năng đột biến, người chơi có thể xóa bỏ cuộc chơi đang diễn ra, tự mình bày ra một cuộc chơi mới với những nguyên tắc mới và tham số mới, lôi kéo hay cưỡng ép người cùng chơi phải tham gia. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét