Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

Tôi làm “chính trị” Những kỉ niệm và trăn trở(7,8)


Tôi làm “chính trị”
Những kỉ niệm và trăn trở(7,8)

Hồi ký 
Nguyễn Trung 

Phần hai: Kẻ thất bại toàn diện 

Về Ban Nghiên cứu và Viện Nghiên cứu phát triển (IDS) 

Suốt thời gian từ khi về hưu đến nay, tôi tham gia tổ nghiên cứu của thủ tướng Võ Văn Kiệt, Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn khải, Viện Nghiên cứu phát triển (IDS). Ngoài ra tôi còn tham gia một số diễn đàn của các tổ chức dân sự (NGO). 

Dưới đây xin nêu ra đôi điều đáng ghi nhớ. 

Trước hết nói về tổ và Ban nghiên cứu (1993-2006, bao gồm thời kỳ Tổ nghiên cứu của thủ tướng Võ Văn Kiệt, Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ thời thủ tướng Phan Văn Khải và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng) Xin gọi chung là Ban, vì thực chất là một công việc xuyên suốt, thống nhất. 

Từ khi hình thành là một “tổ”, rồi trưởng thành là “Ban”, cho đến khi bị giải thể là 13 năm (1993-2006). Khi thành Ban, người trưởng Ban đầu tiên là anh Trần Đức Nguyên, người tiếp theo là anh Trần Xuân Giá, và đồng thời cũng là người sau này được tận tay trực tiếp nhận văn bản quyết định giải thể Ban, mặc dù ngày hôm trước còn được yêu cầu bàn về công việc của Ban. 

Trong kết cấu của tổ chức này, còn tổ kinh tế đối ngoại, là một đơn vị riêng, song có sự hợp tác mật thiết với Ban. Tổ do anh Đậu Ngoc Xuân làm tổ trưởng, có các thành viên là anh Nguyễn Mại, anh Phạm Gia Toàn và tôi. Tổ này thời kỳ đầu còn nhiều thành viên khác. 

Ban gồm các chị các anh đã nghỉ hưu, từ nhiều cơ quan khác nhau, có bề dày nhất định về kiến thức và kinh nghiệm – có những cây cổ thụ là Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn, Việt Phương, Trần Đức Nguyên... Số đương chức chiếm tỷ lệ rất nhỏ và chỉ giữ vai trò cái khung hành chính của Ban. Ngay từ đầu, chúng tôi thỏa thuận với nhau nguyên tắc “5 không, một có”. Đó là: không lương, không chức vụ, không dưới ai, không trên ai, không vụ lợi, có trách nhiệm với ý kiến của mình. 

Trong làm việc và mọi mối quan hệ với nhau, chúng tôi không ai bảo ai, ngay từ đầu hoàn toàn tự giác mang vào tổ chức này tác phong: dân chủ, cởi mở, tranh luận đến cùng, tôn trọng lẫn nhau.. – cứ như là những đặc tính tự nhiên và tất nhiên của Ban vậy. 

Sản phẩm của toàn Ban có chất lượng tăng dần theo ngày tháng và cũng đúng với sự phát triển từng bước của Ban, phù hợp với đòi hỏi của công việc, càng về sau Ban càng chủ động chú ý tham gia nhiều hơn vào những vấn đề chính trị hệ trọng của đất nước. 

Cả đời công tác của mình, có lẽ Ban là cái tập thể duy nhất tôi có được – nói cho hoành tráng – để cùng nhau vẫy vùng cho những gì tốt đẹp mình mong muốn cho đất nước. Tại đây, tôi học được rất nhiều – nhất là phương pháp tiếp cận vấn đề rất riêng của mỗi người, cách nghĩ, cách giải quyết… Sự độc đáo riêng như vậy của mỗi người là những gợi ý, những bổ sung vô giá cho hiểu biết và phương pháp làm việc của tôi. Rõ ràng, học không bao giờ là muộn và ở tuổi nào cũng học được! Theo tôi, yếu tố quan trọng nhất dẫn đến chất lượng làm việc này của Ban có lẽ là sự cởi mở chân thật! Không ngại giấu dốt, nhưng cũng không phải giữ ý, dè dặt vì chuyện này chuyện kia!.. 

Một nguyên nhân thành công nữa là Ban luôn luôn bám sát cuộc sống, cố tránh nói chay, nói lý… Trong thời gian này, phải nói các thành viên của Ban lặn lội rất nhiều nơi trong nước, ngoài nước, học hỏi các nước nhưng đồng thời không rời thực tiễn rất gai góc của đất nước. 

Những đóng góp của Ban vào xây dựng Luật Doanh nghiệp đã được ban hành dưới thời thủ tướng Phan Văn Khải là một ví dụ tiêu biểu cho sự nỗ lực và phương pháp làm việc này của Ban. 

Tôi muốn nói thêm thế này: Chính chúng tôi cũng trưởng thành lên rất nhiều trong quá trình cùng với các cơ quan khác và những nhà kinh tế khác của đất nước đã cùng nhau xây dựng nên Luật này. 

Thực tế cũng chứng minh: Các thành viên của Ban không nằm trong biên chế cán bộ Văn phòng Chính phủ là những đầu mối liên hệ lý tưởng cho hình thành sự hợp tác rộng nhiều địa phương trong cả nước từ Bắc chí Nam và hợp tác liên ngành rất đáng mong đợi. Thực tế này mang lại cho Ban nhiều thông tin và nhận thức quan trọng. 

Cá nhân tôi xin cảm ơn các thành viên này như chị Chi Lan, chị Nguyễn Thị Hiền, các anh Đào Xuân Sâm, Lê Đăng Doanh, Đào Công Tiến, Nguyễn Văn Ký, Võ Đại Lược, Trần Hậu, Nguyễn Phú Hiệp, Nguyễn Lê, Tạ Đình Thính, Nguyễn Sỹ Dũng, Đinh Văn Ân, Lưu Bích Hồ, Nguyễn Văn Miện, vân vân … về ân huệ tôi được hưởng này. 

Riêng về kinh tế, tôi thực sự có ấn tượng sâu sắc về những phản biện trong lĩnh vực kinh tế của chị Phạm Chi Lan và chị Nguyễn Thị Hiền, vì luôn luôn bám sát những diễn biến rất đa chiều trong đời sống kinh tế đất nước và có những lỹ lẽ, dẫn chứng thuyết phục, trình bày rành mạch. 

Trong tấm gương về phong cách làm việc tận tụy, tôi nhớ đến anh Tương Lai, người đã cùng với học trò của mình lặn lội ngày đêm ở Quỳnh Phụ - Thái Bình, (1997) mang về cho chúng tôi những nhận xét, đánh giá xác thực tại chỗ. Cùng với những thông tin từ những chuyến khảo sát khác nhau của các thành viên khác trong sự kiện Hà Tây và tại một số địa phương khác, Ban chúng tôi qua đó đã tổng hợp được cho mình những quan điểm và hình thành được cái nhìn toàn diện về cụm vần đề nông dân - nông nghiệp - nông thôn rất hệ trọng của nước ta. Trong những lĩnh vực sản xuất công nghiệp, FDI, xuất nhập khẩu… công việc nghiên cứu của Ban có chất lượng một phần quan trọng là nhờ mạng lưới rộng và liên ngành như vậy. 

Nhìn chung những kiến nghị của Ban (đặc biệt là vào dịp Hội nghị Trung ương 4 khóa đại hội VIII 1996-2001) tập trung vào đòi hỏi của đất nước về thay đổi chính sách và thể chế hành chính. Hôm nay nhìn lại có thể nói: Nội dung những đề nghị này từ các khía cạnh khác nhau thực chất đã đặt ra vấn đề cần xúc tiến cải cách chính trị. 

Tổng hợp lại có thể kết luận: Những đóng góp của Ban trong 13 năm này trên lĩnh vực kinh tế vỹ mô và hệ thống chính trị nếu như được chấp nhận và thực hiện, trên đất nước đã có thể manh nha và hình thành được ở mức độ nhất định nào đấy như là những bước đi mở đầu vỡ vạc cho một cuộc cải cách chính trị, mà lãnh đạo đảng đã tránh né ngay từ khi tiến hành đổi mới 1986, và Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (01-2004) đã đưa ra 4 nguy cơ đã loại bỏ hẳn đòi hỏi này. 
Viện Nghiên cứu phát triển[1]

(IDS, *27-09-2007 to -14-09-2009) 
Một hôm, ít lâu sau khi IDS được thành lập, anh Quang A và anh Chu Hảo đến thăm tôi trong bệnh viện, mời tôi tham gia IDS. Phần thì chúng tôi vốn chơi với nhau từ lâu và rất biết nhau, phần thì IDS đáp ứng đúng nguyện vọng lâu nay của tôi, ngay lập tức tôi cảm ơn và nhận lời mời. Trong lòng vui lắm và mừng cho đất nước, cảm ơn những người sáng lập. 

Tôi không dám nói IDS là một think tank, nhưng sự thật nó là một tổ chức đang lớn lên với dáng vóc như thế, có thể xem đây là lần đâu tiên trong xã hội dân sự của đất nước XHCN của chúng ta có một viện nghiên cứu tư nhân những vấn đề vỹ mô của đất nước. Số thành viên cũng như nguồn lực tài chính của IDS rất khiêm tốn. Tuy nhiên có thể nói IDS rất giầu nhiệt tình gắn bó với vận mệnh của đất nước và cũng giầu có như thế trong khả năng huy động thông tin và kiến thức từ mọi nơi trên thế giới. Chúng tôi hy vọng rất nhiều: Với vốn liếng về sự gắn bó với thực tiễn cuộc sống đất nước và với mọi thông tin & kiến thức thu thập được, chúng tôi hoàn toàn hy vọng có thể giúp ích đất nước. Nhất là chúng tôi mong đợi sự có mặt của IDS trong cuộc sống sẽ khơi dậy những hoạt động như thế trong mọi nguồn trí tuệ của đất nước. Hai năm tồn tại và hoạt động của IDS cũng như sự hưởng ứng của xã nội đã nói lên điều này. 

Xin hãy thử hình dung, điều gì sẽ đến nếu trí tuệ trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự vận động của đất nước chúng ta!?. Song chính triển vọng này lại là lý do chế độ chính trị phải cấm IDS! 

Nhìn lại những gì đã xảy ra, có thể nói IDS là nguyên nhân đầu tiên của việc hình thành và ra đời quyết định kèm theo văn bản pháp quy của sự cấm đoán này cho mọi hoạt động tương tự trong cả nước! 

Toàn viện chúng tôi đã bàn luận với nhau rất nhiều mọi chiều cạnh, đi đến kết luận phải chủ động tuyên bố tự giải thể, để IDS với chính danh là một tổ chức think tank có thể làm được việc cuối cùng nó phải làm: Đánh thức dư luận cả nước trước việc làm sai trái này của chính quyền. Cũng với mục đích này, tôi xin chép lại tại đây toàn văn tuyên bố ngày 14-09-2009 của IDS để bạn đọc tham khảo và tìm hiểu: 

Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS 

IDS|14/09/2009 

Ngày 24-7-2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (sau đây gọi là Quyết định 97), có hiệu lực từ ngày 15-09-2009. 

Viện Nghiên cứu phát triển IDS nhận thấy Quyết định 97 có những sai phạm nghiêm trọng sau đây: 

Một là: Điều 2 của Quyết định 97 không phù hợp với thực tế khách quan của cuộc sống. 

Khoản 2, điều 2 trong quyết định này ghi: cá nhân thành lập tổ chức khoa học công nghệ “chỉ hoạt động trong lĩnh vực thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.” 

Như vậy khoản 2 của điều 2 bao gồm 2 điểm chính là: 

(1) các lĩnh vực được phép nghiên cứu quy định trong danh mục kèm theo Quyết định, và 

(2) không được công bố công khai ý kiến phản biện với danh nghĩa của một tổ chức khoa học và công nghệ. 

Về vấn đề danh mục các lĩnh vực được phép tổ chức nghiên cứu: 

Cuộc sống vô cùng phong phú, có nhiều vấn đề chưa biết đến, luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, luôn luôn đặt ra những đòi hỏi mới, cần có các quyết sách mới và các giải pháp thích hợp. Vì vậy không thể bó khuôn mọi vấn đề được phép nghiên cứu trong cuộc sống vào một danh mục dù danh mục ấy có rộng đến đâu. Quy định như vậy sẽ bó tay các nhà khoa học, những người nghiên cứu độc lập, hạn chế sự đóng góp của họ vào việc xây dựng chính sách đổi mới và phát triển đất nước. 

Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo nhằm khám phá các quy luật vận động trong tự nhiên và xã hội; từ đó tạo ra công nghệ mới, hoạch định chính sách phát triển và nâng cao dân trí để thúc đẩy xã hội tiến lên. Trong cuộc sống còn có những lĩnh vực, những vấn đề đã trở nên lỗi thời hoặc đã bị vượt qua. Thực tế này cũng là một đối tượng quan trọng của công việc nghiên cứu, nhất là trong tình hình một quốc gia phải ra sức phấn đấu khắc phục tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Trong một xã hội tiến bộ, công việc nghiên cứu với tính cách như vậy không thể đóng khung trong một danh mục gồm các lĩnh vực được quy định như đã nêu trong Quyết định 97. 

Trong khi đó, công văn ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng) cho rằng cách quy định một danh mục các lĩnh vực cho phép cá nhân được thành lập tổ chức nghiên cứu là thông lệ ở nhiều nước trên thế giới, có nước quy định một danh mục cho phép, có nước quy định một danh mục cấm, hoặc cả hai. Chúng tôi đã tìm hiểu kỹ thì chưa thấy nước nào có quy định danh mục các lĩnh vực được phép nghiên cứu khoa học. Vì vậy cách trả lời trong công văn của Bộ Tư pháp là không trung thực, thiếu trách nhiệm. Cho đến nay, trên thế giới, việc phân loại các lĩnh vực khoa học là để thống kê, so sánh, không thể lấy đó làm căn cứ để quy định các lĩnh vực được phép nghiên cứu. Cách làm như Quyết định 97 sẽ bị dư luận chê cười, làm hại uy tín của lãnh đạo và của đất nước. 

Ý kiến trong công văn của Bộ Tư pháp cho rằng Quyết định vẫn để mở, sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung dần các lĩnh vực cho phép, là một cách biện bạch gượng gạo, bởi vì “cho phép” thì không bao giờ đủ. Không ai có thể “cho phép” đời sống sẽ được phát triển đến đâu. Thực chất với Quyết định này, “cho phép” tức là cấm, và vùng cấm rộng gấp ngàn lần vùng được phép. 

Về vấn đề phản biện: 

Quá trình đi lên của đất nước chưa có con đường vạch sẵn, cuộc sống có vô vàn vấn đề thuộc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cần được phản biện để có thể xử lý đúng đắn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất nhiều ý kiến phản biện về đường lối chính sách bị cất hầu như không có thời hạn trong các “ngăn kéo” của các cơ quan chức năng hoặc của những người có thẩm quyền có liên quan. Có quá nhiều phản biện dưới mọi dạng như kiến nghị, đề nghị, thư, tài liệu nghiên cứu… không bao giờ được hồi âm. 

Ví dụ nổi bật nhất là cải cách giáo dục – một vấn đề sống còn của sự phát triển đất nước, một yêu cầu bức xúc của xã hội đang được dư luận và giới nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm, phản biện công khai sôi nổi từ nhiều năm nay nhằm thực hiện những nghị quyết của Đại hội Đảng và các Hội nghị Trung ương Đảng về cải cách giáo dục. Tuy vậy, sự phản biện này chưa được đánh giá và tiếp thu nghiêm túc. 

Một ví dụ khác gần đây là vấn đề bô-xít, được coi là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Sự phản biện công khai, quyết liệt vừa qua của rất nhiều nhà khoa học và các hiệp hội thuộc các lĩnh vực khác nhau đã góp phần thúc đẩy việc ban hành quyết định ngày 24-04-2009 của Bộ Chính trị lưu ý những vấn đề phải quan tâm trong khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Tuy vậy, còn biết bao nhiêu phản biện quan trọng khác trong vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên vẫn còn bị bỏ ngỏ. 

Trong tình hình nêu trên, cấm các tổ chức khoa học công nghệ do các cá nhân thành lập phản biện công khai như nêu trong Quyết định 97 thực chất là cấm phản biện xã hội, hệ quả sẽ khôn lường. 

Khoản 2 trong điều 2 của Quyết định 97 không viết thành văn nhưng hàm ý để ngỏ khả năng: cá nhân được phép phản biện công khai với tư cách riêng của mình. Như vậy, sẽ không thể giải thích: 

(a) Tại sao cá nhân thì được phản biện công khai, còn tổ chức, tức trí tuệ tập thể và liên ngành được tập họp để có thể có chất lượng cao hơn, thì lại không? Quy định chỉ cho phép cá nhân phản biện công khai tạo thuận tiện cho việc vô hiệu hóa hay hình sự hóa việc phản biện của cá nhân? Phải chăng quy định như vậy ngay từ đầu đã mang tính chất không khuyến khích phản biện, mà có hàm ý làm nản lòng, thậm chí hăm dọa sự phản biện của cá nhân. 

(b) Tại sao trong nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một văn bản pháp quy có tầm quan trọng như vậy lại có thể được thiết kế như một cái bẫy và để ngỏ khả năng cho việc vận dụng cái bẫy đó? 

Hai là: Việc cấm phản biện công khai là phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ. 

– Cấm như vậy là phản khoa học, bởi lẽ: Bất kể một phản biện nào nếu không chịu sự “sát hạch” công khai, minh bạch trong công luận, sẽ khó xác định phản biện ấy là đúng hay sai, độ tin cậy của nó, sự đóng góp hay tác hại nó có thể gây ra, khó lường được các khả năng sử dụng hoặc lợi dụng việc phản biện này. 

– Cấm như vậy là phản tiến bộ, bởi lẽ: Người dân sẽ không biết đến các phản biện đã được đề xuất hay các vấn đề đang cần phải phản biện, càng không thể biết chất lượng và tác dụng của những phản biện ấy, không biết nó sẽ được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, tiếp thu hay xử lý như thế nào. Phản biện và tiếp thu phản biện không công khai sẽ không thể tranh thủ được sự đóng góp xây dựng từ trí tuệ trong và ngoài nước, hạn chế khả năng sáng tạo tìm ra con đường tối ưu cho sự phát triển đất nước và vứt bỏ lợi thế của nước đi sau. Trên hết cả, cấm như vậy là cản trở việc nâng cao trí tuệ và bản lĩnh của người dân, cản trở vai trò làm chủ đất nước của nhân dân. Cấm như vậy chẳng khác nào biểu hiện chính sách ngu dân. 

– Cấm như vậy là phản dân chủ, bởi lẽ: Nhân dân – người chủ của đất nước – sẽ thiếu những thông tin để tự mình tìm hiểu, đánh giá mọi vấn đề có liên quan của đất nước mà họ không thể không quan tâm. Cấm như vậy là tước bỏ hay làm giảm sút khả năng của nhân dân giám sát, kiểm tra, đánh giá hay đóng góp xây dựng, hình thành và nói lên các ý kiến của họ, tán thành hay bác bỏ một chủ trương nào đó; trên thực tế là cấm hay ngăn cản quyền của nhân dân tham gia vào công việc của đất nước. Cấm như vậy là ngược với tiêu chí Nhà nước của dân, do dân và vì dân. 

Ba là: Quyết định 97 có nhiều điểm trái với đường lối của Đảng và vi phạm pháp luật của Nhà nước. 

– Trước hết, đối với Hiến pháp, điều 2 trong Quyết định 97 vi phạm Điều 53 quy định công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; Điều 60 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác; Điều 69 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. 

– Đối với Luật Khoa học và công nghệ, điều 2 Quyết định 97 không phù hợp với tinh thần của Luật này coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, khuyến khích sự tham gia nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân, Nhà nước đảm bảo và hỗ trợ sự thực hiện những kết quả nghiên cứu, khuyến khích các hội khoa học và công nghệ có trách nhiệm tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ… v.v. 

– Đặc biệt quan trọng là Quyết định 97 có nhiều điểm trái với tinh thần và nội dung Nghị quyết số 27 – NQ/T.Ư “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mới được ban hành tháng 10-2008. Nghị quyết này nhấn mạnh thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 

– Việc ban hành Quyết định 97 còn vi phạm khoản 2 và khoản 4 Điều 67 trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là đã bỏ qua trình tự bắt buộc phải công bố dự thảo quyết định trước ít nhất 60 ngày trước khi kí để bảo đảm sự tham gia ý kiến của dân. Trong công văn trả lời Viện IDS, Bộ trưởng Bộ Tư pháp lập luận rằng: quyết định 97 được xây dựng và ban hành đúng luật vì toàn bộ các bước soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định dự thảo quyết định đã được hoàn tất trong năm 2008 khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi năm 2008) phải đến 1-1-2009 mới có hiệu lực. Sự biện bạch này không thể chấp nhận được. Quá trình soạn thảo, thẩm định bắt đầu từ bao giờ, kéo dài bao lâu, là việc nội bộ của các cơ quan hữu trách. Nhân dân, là những người chịu tác động của Quyết định, chỉ có thể biết ngày ban hành chính thức của Quyết định 97 là ngày 24-7-2009, hơn 7 tháng sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực. Như vậy rõ ràng là việc ban hành Quyết định 97 vi phạm luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vì sao một quyết định quan trọng liên quan đến một lĩnh vực lớn được coi là quốc sách hàng đầu, lại được thực hiện môt cách vội vã và tùy tiện như vậy. 

Có thể kết luận, Quyết định 97 nếu được thực hiện sẽ làm nặng nề thêm thực trạng thiếu công khai minh bạch rất nguy hại cho việc xây dựng và thực thi pháp luật, làm trầm trọng thêm tình trạng tụt hậu hiện nay của đất nước. 

* * * 

Trong gần 2 năm hoạt động, Viện Nghiên cứu phát triển IDS đã làm được một số việc có ích cho đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng đối với một số vấn đề hay chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, được dư luận xã hội, đặc biệt là giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Mọi hoạt động của Viện IDS từ ngày thành lập cho đến nay đều tiến hành đúng pháp luật, công khai, minh bạch. 

Tuy nhiên trong thời gian qua, tồn tại dai dẳng một số nhận xét sai lệch của cơ quan an ninh về Viện IDS, thậm chí cho rằng Viện nhận tiền của nước ngoài và có hoạt động chống đối Nhà nước… Ngày 16-01-2009 Viện IDS đã có thư gửi các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước nêu rõ quan điểm của Viện về những nhận định sai trái này, song tiếc rằng cho đến nay bức thư này của Viện chưa nhận được bất kể một hồi âm nào. 

Ngay sau khi có Quyết định 97, Hội đồng Viện IDS đã thảo luận, phân tích những chỗ sai cả về thủ tục và nội dung của quyết định này. Với ý thức tôn trọng Chính phủ và Thủ tướng, và để biểu thị thiện chí của mình, Hội đồng Viện chúng tôi nhất trí chưa bày tỏ ý kiến công khai mà trước hết gi thư ngày 6-8-2009 nêu rõ vi Th tướng nhng ch sai ca Quyết định 97 và kiến ngh cách gii quyết nhm tránh các h qu bt li v nhiu mt. 

Sau khi gửi thư, đại diện của Hội đồng Viện được mấy vị lãnh đạo mời gặp, riêng Thủ tướng mời gặp hai lần; nhân dịp đó chúng tôi trình bày rõ thêm và trao đổi ý kiến thẳng thắn về những nhận xét và kiến nghị đã nêu trong thư. 

Viện IDS đã kiên tâm chờ đợi. Ngày 11-9-2009, Chủ tịch Hội đồng Viện IDS được Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thừa ủy quyền của Thủ tướng mời đến VPCP và trao cho hai văn bản. Một là công văn số 3182/BTP-PLDSKT ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời Hội đồng Viện Nghiên cứu phát triển IDS về những điều nêu trong thư của Viện gửi Thủ tướng ngày 6-8-2009. Hai là công văn số 1618/TTg-PL ngày 10-9-2009 của Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP thừa ủy quyền của Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và công nghệ ra văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định 97 và thu thập ý kiến để kiến ngh b sung danh mc ban hành theo quyết định này. 

Hai công văn này cho thấy tất cả các kiến nghị của Viện IDS về Quyết định 97 đều không được chấp nhận. 

Toàn viện IDS và từng thành viên đã hết sức đề cao tinh thần trách nhiệm công dân, ý thức kỷ luật và thiện chí, nhưng những cố gắng đó đã không được đáp ứng. 

Trước tình hình như vậy, với một quyết định hạn chế đến mức vô lý quyền nghiên cứu của một tổ chức khoa học, Viện nghiên cứu phát triển IDS không thể tiếp tục hoạt động theo sứ mệnh đã xác định trong mục tiêu ghi vào Điều lệ của mình. Chấp nhận hoạt động theo Quyết định 97, viện IDS và các thành viên sẽ không thể làm đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng về trí thức mới ban hành, đồng thời không thể làm tròn trách nhiệm công dân và nghĩa vụ người trí thức của mình. 

Ngày 14-09-2009, Hội đồng Viện IDS đã họp phiên toàn thể, quyết định tự giải thể để biểu thị thái độ dứt khoát của Viện đối với Quyết định 97. Quan điểm của Viện chúng tôi được trình bày trong tuyên bố này và được công bố kèm theo các tài liệu liên quan [1]. Chúng tôi cũng giữ quyền sử dụng tiếp các công cụ pháp lý để bảo vệ sự trong sáng của luật pháp. 

Làm tại Hà Nội ngày 14-09-2009 

Các thành viên Hội đồng IDS đã ký 
1/ Hoàng Tụy, Chủ tịch Hội đồng IDS
2/ Nguyễn Quang A, Viện trưởng
3/ Phạm Chi Lan, Phó Viện trưởng
4/ Phan Đình Diệu
5/ Lê Đăng Doanh
6/ Vũ Kim Hạnh
7/ Chu Hảo
8/ Phạm Duy Hiển
9/ Vũ Quốc Huy
10/ Tương Lai
11/ Phan Huy Lê
12/ Nguyên Ngọc
13/ Trần Đức Nguyên
14/ Huỳnh Sơn Phước
15/ Trần Việt Phương
16/ Nguyễn Trung 

Kết thúc phần này, cá nhân tôi xin chân thành cảm ơn anh chị Hoàng Tụy tuy tuổi cao nhưng đã sống hết lòng với IDS (chị Ngọc Anh đã mất). Anh Tụy cho chúng tôi một gương sáng về sự trung thực của người làm khoa học và những nỗ lực không mệt mỏi của anh cho cải cách giáo dục. 

Tôi học được rất nhiều ở anh Quang A về sự cống hiến tận tụy cho IDS, và cũng nhân dịp này xin bày tỏ sự trân trọng của riêng tôi dành cho anh về sự dấn thân quyết liệt và không mệt mỏi của anh cho dân chủ và tiến bộ của đất nước. Đất nước chúng ta hôm nay đang rất cần những sự dấn thân xây dựng và có hiểu biết của mỗi cá nhân như thế trong cộng đồng dân tộc chúng ta, cố sao tạo ra được tiếng nói chung và nỗ lực chung cùng nhau đưa đất nước chúng ta đi lên. 

Viết đến đây, tôi nhớ lại hôm nào cụ Nguyễn Trọng Vĩnh và các anh Việt Phương, Trần Đức Nguyên, Phạm Duy Hiển, Nguyễn Hữu Vinh, Xuân Diện, anh, tôi và một vài anh nữa đi thắp hương tại đài tưởng niệm các liệt sỹ tại Ba Đình – Hà Nội, vào dịp nhớ đến ngày TQ tiến hành chiến tranh chống nước ta trên biên giới phía Bắc, song bị bảo vệ dứt khoát ngăn cản. Sau đó chúng ta đành dựng hoa và thắp hương phía bên kia đường bái vọng lại! Thật là buồn. Ít lâu sau Nguyễn Hữu Vinh bị bắt và kết án tù vì trang Anh Ba Sàm, chúng ta đã làm hết cách mà không sao cứu được! Còn nhiều chuyện buồn như thế trong trấn áp quyết liệt mitting, biểu tình phản đối những hành động thù địch của TQ trên Biển Đông, tôi đã điểm lại vài sự việc và nêu trong tiểu thuyết “Lũ” (chương 26). 

Trong “vùng trời” hoạt động của IDS tôi “giầu” lên rất nhiều, vì được gần gũi và học được rất nhiều ở những con người dễ mến ở mọi nơi. Tất cả đều thiện chí, cởi mở, dù tuổi đời giữa chúng tôi khác nhau thế nào… Thực sự họ là những người uyên bác, có tư duy sắc sảo và luôn luôn sẵn sàng chia sẻ… Các anh Đặng Hữu, Phạm Duy Hiển, Huệ Chi, Hoàng Xuân Phú, Trần Văn Thủy, Trần Văn Thành, Phạm Gia Khải, Nguyễn Văn Trọng, Phạm Gia Minh… … là những người luôn luôn mang đến cho tôi những điều buộc tôi phải động não suy nghĩ. Xin cảm ơn tất cả các anh, được sống với nhau như thế nên chúng ta không thể lười được!.. 

Trong những năm tháng được tham gia Viện VIDS (Viện Nghiên cứu phát triển) của anh Thang Văn Phúc và anh Nguyễn Vi Khải, có một kỷ niệm buồn tôi nhớ mãi. Đó là VIDS và Trung tâm minh triết của anh Nguyễn Khắc Mai đã phối hợp với tỉnh ủy Đà Nẵng tổ chức lễ thắp nến trên bãi biển Đà Nẵng tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh trong bảo vệ Gạc Ma và những đảo khác ở Trường Sa đã bị TQ đánh chiếm. Cùng với lễ thắp nến trên bãi biển là những hoạt động khác trong đất liền, bao gồm triển lãm tường thuật cuộc chiến bảo vệ Gạc Ma, tố cáo những hành động TQ xâm lược biển đảo, họp báo, hội thảo... Anh Nguyễn Khắc Mai, anh Vi Khải, anh Đinh Hoàng Thắng và tôi đã về tận nơi phối hợp với chính quyền và đoàn thể Đà Nẵng tổ chức chu đáo mọi việc. Song khoảng 12 tiếng đồng hồ trước khi tiến hành lễ thắp nến trên bãi biển, tỉnh ủy thông báo cho chúng tôi: Có lệnh của trên phải dừng lại mọi hoạt đông ngoài trời, toàn bộ những hoạt động đã dự định chỉ được phép tiến hành trong nhà tại nơi triển lãm, hội thảo, họp báo! Đành phải thực hiện đúng như thế. Song các cháu thanh niên và nhân dân vẫn tự bảo nhau mang nến ra thắp trên bãi biển, có tốp mang theo bức trướng ghi 2 câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm “Biển Đông vạn dậm giang tay giữ - Đất Việt muôn năm vững trị bình” do anh Nguyễn Khắc Mai sưu tầm. 

VIDS và Trung tâm minh triết còn làm được nhiều việc đáng nhớ khác, kỷ yếu của VIDS là một ấn phẩm được nhiều độc giả hoan nghênh. 
Kiến nghị 72 về sửa đổi Hiến pháp (19-11-2013) 

Việc sửa đổi Hiến pháp 1992 được cả nước coi là sự kiện trọng đại và tham gia sôi nổi. Một số thành viên của Ban Nghiên cứu đã bị giải thể và của Viện Nghiên cứu phát triển đã phải tự giải thể đã cùng với nhiều nhân vật và nhân sỹ các ngành nghề khác nhau trong cả nước – tổng cộng là 72 người, soạn thảo Bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992, làm tại Hà Nội ngày 19-01-2013. Kiến nghị này do 72 người soạn thảo và ký tên, nên có tên gọi Kiến nghị 72. 

Nội dung cốt lõi của Kiến nghi 72 là bỏ Điều 4, xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ trên nguyên tắc tam quyền phân lập, xác lập quyền làm chủ đất nước của nhân dân và các quyền công dân, sửa đổi quyền sở hữu đất đai, sửa đổi và bổ sung một số quyền và nội dung khác… 

Toàn văn Kiến nghị 72 xin được chép lại tại đây như sau: 

KIẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (dưới đây gọi tắt là Dự thảo), chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây, xin trình bày với Quốc hội và Uỷ ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 một số kiến nghị, đồng thời mong mỏi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước thẳng thắn nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai. 

Hiến pháp của một quốc gia do dân làm chủ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân và được hình thành từ sự thỏa thuận giữa các thành phần đa dạng trong xã hội. Dự thảo chưa thấu suốt bản chất của một hiến pháp dân chủ, chưa thể hiện sự tin cậy, tín nhiệm của nhân dân với chính quyền theo tinh thần thỏa thuận kiến tạo một môi trường có sự kiểm soát bên trong và bên ngoài đối với quyền lực. Kiểm soát bên trong giữa các nhánh quyền lực nhà nước bằng các cơ chế đối trọng kiềm chế lẫn nhau, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp không thể vượt quá giới hạn được ấn định. Kiểm soát từ bên ngoài đối với công quyền được thực hiện bởi nhân dân với vai trò quan trọng của xã hội dân sự mà tiền đề là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, lập hội, hội họp, biểu tình,... 

Hiến pháp phải mang tính chính đáng được đo bằng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, hiến pháp phải có mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền, kiến tạo tự do, dân chủ, công bằng, hạnh phúc; đồng thời đoàn kết toàn dân, loại bỏ mọi sự chia rẽ hay áp bức, hướng đến sự phát triển bền vững của dân tộc. Thứ hai, hiến pháp phải thể hiện ý chí chung của nhân dân, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân để lập ra các cơ quan nhà nước. Thứ ba, hiến pháp phải được xây dựng theo các nguyên tắc pháp luật phổ biến của thế giới văn minh, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt nam đã tham gia. 
Theo tinh thần đó, trước mắt chúng tôi kiến nghị 7 điểm như sau. 
Kiến nghị thứ nhất về Lời nói đầu và về Chương I 

Lời nói đầu của Dự thảo không làm rõ mục tiêu của hiến pháp và chủ thể quy định hiến pháp. Hiến pháp cần xác định mục tiêu trước hết là để bảo đảm sự an toàn, tự do và hạnh phúc của mọi người dân. Một bản hiến pháp tốt phải hạn chế sự lạm quyền của những người cầm quyền, tạo dựng khuôn khổ cho các sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hoá diễn ra một cách an bình và hiệu quả. Hiến pháp cũng phải hướng đến hạnh phúc của các thế hệ tương lai. 

Quyền lập hiến (xây dựng, ban hành hay sửa đổi hiến pháp) là quyền sinh ra các quyền khác (lập pháp, hành pháp và tư pháp) phải thuộc về toàn dân, chứ không thể thuộc về bất kỳ một tổ chức hay cơ quan nào, kể cả Quốc hội. Lời nói đầu cần xác định rõ chủ thể quyết định, ban hành hiến pháp là nhân dân. 

Lời nói đầu không phải là chỗ để tuyên dương công trạng của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào. 

Lời nói đầu của Dự thảo không đáp ứng được các yêu cầu trên nên chúng tôi đề nghị bỏ và thay bằng: 

“Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân, 

vì một xã hội dân chủ, công bằng và pháp quyền, vì tự do và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai, 

chúng tôi, nhân dân Việt Nam, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này.” 

Trong Chương I, cần nhấn mạnh nguyên tắc chủ quyền nhân dân đòi hỏi phải tôn trọng ý của dân tộc. Nếu hiến pháp thực sự do nhân dân quyết định thì việc định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc về một tổ chức chính trị hay một tầng lớp là trái với quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân và ngược với bản chất của một nhà nước pháp quyền. 

Chủ thể nào lãnh đạo xã hội sẽ do nhân dân bầu chọn ra trong các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, định kỳ. Một chính đảng thực sự có chính nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân sẽ không lo bị thất bại trong các cuộc bầu cử như vậy. Hiến pháp của Liên Xô năm 1977 quy định ở điều 6 vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản đối với nhà nước và xã hội đã không tránh được sự sụp đổ của chế độ Xô-viết khi không còn lòng tin của dân. 

Việc đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng Sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước. 

Ý kiến nêu trên được tiếp thu sẽ tạo cơ hội cho Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lại niềm tin đã từng có trong dân để thực sự trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị được xã hội chấp nhận 

Kiến nghị thứ hai về quyền con người. 

Một mục đích của việc thành lập Nhà nước là để bảo vệ các quyền đương nhiên của con người. 

Dự thảo đã điều chỉnh thứ tự để đề cao các quyền này so với Hiến pháp hiện hành, nhưng lại có nhiều điểm chưa phù hợp với các quy định và chuẩn mực quốc tế về quyền con người; như các quy định trong Dự thảo về giới hạn quyền (Điều 15), “không lợi dụng quyền con người, quyền công dân” (Điều 16), “quyền không tách rời nghĩa vụ” (Điều 20). Dự thảo còn quy định quá nhiều nghĩa vụ một cách tùy tiện (Điều 41, Điều 42, Điều 49,…). Việc nhấn mạnh trong Dự thảo các lý do về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị, việc đưa cụm từ “theo quy định của pháp luật”, ... nhằm hạn chế những quyền đó sẽ mở đường cho việc nhân danh hiến pháp để vi phạm quyền con người, đàn áp các công dân thực thi quyền tự do như đã diễn ra trong thực tế những năm qua ở nước ta. 

Chúng tôi yêu cầu sửa dự thảo theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn về Quyền Con người năm 1948 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. 

Nếu các quyền này được ghi trong Hiến pháp mà không được thực thi nghiêm túc như hiện nay, thì việc quy định các quyền ấy cũng trở nên vô nghĩa. Vì vậy chúng tôi yêu cầu Hiến pháp quy định thành lập một Ủy ban Quốc gia về Quyền con người hoạt động độc lập. 
Kiến nghị thứ ba về sở hữu đất đai. 

Chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đã tồn tại từ lâu trên đất nước ta. Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân kể từ Hiến pháp Việt Nam 1980 là sự sao chép Hiến pháp Liên Xô, một điều hoàn toàn xa lạ với nhân dân Việt Nam và đã gây ra rất nhiều bất ổn xã hội. Điều 57 Dự thảo tiếp tục khẳng định đất đai “thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” là duy trì quy định sai trái, bỏ qua những vấn đề ngày càng trầm trọng do quy định này gây ra mà hàng triệu khiếu nại, khiếu kiện về đất đai trong những năm qua chỉ là phần nổi của tảng băng chìm hết sức nguy hiểm. 

Không thừa nhận sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng về đất đai cùng tồn tại với sở hữu nhà nước là tước đoạt một quyền tài sản quan trọng bậc nhất của người dân. Đánh đồng sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân về đất đai là tạo điều kiện cho quan chức các cấp chính quyền tham nhũng, lộng quyền, bắt tay với nhiều tư nhân, doanh nghiệp cùng trục lợi, gây thiệt hại cho nhân dân, đặc biệt là nông dân. 

Dự thảo còn “hợp hiến hóa” việc thu hồi đất, trong đó lại mở rộng phạm vi áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội; đây là một sự thụt lùi so với Hiến pháp 1992 và có thể gây bùng nổ bất ổn xã hội. 

Vì thế chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 57 của Dự thảo, trở lại như Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Có thể quy định như sau: “Sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng và nhà nước về đất đai được tôn trọng. Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và thống nhất quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và các tài nguyên, nguồn lợi khác ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư.” 

Thay thế quy định thu hồi đất bằng trưng mua đất và không áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội như nêu trong Điều 58 của Dự thảo. 
Kiến nghị thứ tư về tổ chức Nhà nước. 

Tổ chức bộ máy Nhà nước phải phân biệt rạch ròi các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các cơ quan hiến định khác. Tất cả các cơ quan nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và luật. Các nhánh quyền lực ràng buộc, chế ước lẫn nhau nhưng không thể bị chi phối bởi bất kỳ một tổ chức hay cá nhân duy nhất nào, nghiêm cấm mọi sự độc quyền quyền lực. Đặc biệt, hệ thống tư pháp phải được bảo đảm trên thực tế quyền xét xử độc lập, chỉ dựa vào Hiến pháp và luật. Tòa án Hiến pháp phải được thành lập, có chức năng phán quyết, chứ không phải là tư vấn, kiến nghị như chức năng của Hội đồng Hiến pháp được quy định trong Dự thảo. 
Kiến nghị thứ năm về lực lượng vũ trang. 

Hiến pháp đặt lợi ích của toàn dân lên trên lợi ích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào. Mọi hoạt động của các lực lượng vũ trang chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân. Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. 
Kiến nghị thứ sáu về trưng cầu dân ý đối với Hiến pháp. 

Quyền lập hiến là quyền của toàn dân, phải phân biệt với quyền lập pháp của Quốc hội. Vì vậy phải có trưng cầu dân ý để phúc quyết Hiến pháp. Chúng tôi đề xuất quy định trong Hiến pháp: "Bảo đảm quyền phúc quyết của nhân dân đối với Hiến pháp, thông qua trưng cầu dân ý được tổ chức thật sự minh bạch và dân chủ với sự giám sát của người dân và báo giới." 
Kiến nghị thứ bảy về thời hạn góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp 

Việc lấy ý kiến đóng góp của toàn dân về sửa đổi Hiến pháp là một việc hệ trọng đến vận mệnh quốc gia, phải được tiến hành một cách nghiêm chỉnh, không thể tắc trách, lấy lệ. Vì vậy, thời hạn lấy ý kiến của nhân dân chỉ trong vòng ba tháng là quá ngắn, dễ dẫn đến tình trạng làm một cách hình thức cho qua chuyện. Vì vậy chúng tôi kiến nghị gia hạn thời gian lấy ý kiến của nhân dân đến hết năm 2013, đồng thời khuyến khích đề xuất các dự thảo khác để Quốc hội, Ủy Ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cùng toàn thể đồng bào tham khảo, so sánh, thảo luận nhằm xây dựng một bản hiến pháp phù hợp nhất cho quốc gia. 

Sửa Hiến pháp theo tinh thần của các kiến nghị nêu trên sẽ phát huy dân chủ và hoà hợp dân tộc - những đòi hỏi hết sức bức xúc của nhân dân trong giai đoạn trước mắt, cũng như cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước. 

Chúng tôi tha thiết mong mỏi đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng bản Kiến nghị này bằng cách đăng ký tham gia ký tên theo địa chỉ thư điện tử : 

Hà nội ngày 19 tháng 1 năm 2013 
Kèm theo kiến nghị trên, một số chuyên gia luật ở trong nước đã soạn một dự thảo hiến pháp được gửi kèm Kiến nghị này như một tài liệu để tham khảo. Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chỗ dựa quan trọng cho dự thảo hiến pháp này. 

Song tiếc thay, quan điểm của chỉ đạo tối cao là Hiến pháp không được xa rời Cương lĩnh của ĐCSVN, do đó đã bỏ lỡ một cơ hội trọng đại cho phép mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên thực tế, kết quả đạt được là một Hiến pháp cơ bản như cũ, với tinh thần quyền lực quốc gia là thống nhất dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của ĐCSVN. 

Kiến nghị 72 bị bác bỏ. Kiến nghị này và những người tham gia ký tên chịu sự phỉ báng gay gắt của báo chí lề phải và dư luận viên. Lần đầu tiên người dân được nghe trên Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2/2013 đưa phát biểu tại Vĩnh Phúc của TBT Nguyễn Phú Trọng: “… Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa … Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm ấy đấy!… Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? … Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể … thì nó là cái gì?! … Cho nên các đồng chí (cần) quan tâm xử lý cái này...” 

Riêng tôi cho rằng kể từ 30-04-1975, việc sửa đổi Hiến pháp với kết quả nêu trên là lần thứ 4 bỏ lỡ cơ hội mở ra cho đất nước một thời kỳ phát triển mới[2]
Thư ngỏ của 61 đảng viên 28-07-2014 

Trước thềm đại hội XII của ĐCSVN tình hình đất nước có quá nhiều rối ren. Bên trong là tệ nạn tham nhũng trầm trọng, sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích trong hệ thống quyền lực, hệ thống chính trị sa đọa ngày càng trấn áp dân, thậm chí Đảng đứng trước nguy cơ phân rã. Bên ngoài Trung Quốc gia tăng can thiệp vào nội bộ ta, đẩy mạnh quân sự hóa trên Biển Đông, o ép nước ta trên nhiều phương diện; giữa lúc cục diện thế giới và khu vực ngày càng nhiều biến động lớn. Trong khi đó, quá trình chuẩn bị Đại hội XII hầu như chỉ tập trung vào vấn đề nhân sự. Thực tế này làm nhiều đảng viên vô cùng lo lắng. 

Đấy là nguồn gốc ra đời của Thư ngỏ ngày 28-07-2014 do 61 đảng viên ký tên, tiêu biểu nhất là thiếu tướng đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh. Con số 61 là ngẫu nhiên, chủ yếu mang tính đại diện trải khắp Bắc – Trung – Nam, tập trung vào nội dung của thư ngỏ là chính, hơn nữa thời gian rất gấp, do đó không đặt ra vấn đề phải có nhiều người ký tên. 

Sau đây xin chép lại toàn văn Thư ngỏ và danh sách ký tên. 
Ngày 28 tháng 07 năm 2014 

Kính gửi: 

Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam 
Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh. 
Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay,Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ. 

Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua. 

Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị. 

Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây: 

1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước. 

Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị. 

Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình. 

2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. 

Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v… 

Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình. 

Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi. 
Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước. 

Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc! 
DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ 28-07-2014 

______________________ 

1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội. 

2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội. 

3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội. 

4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội. 

5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội. 

6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội. 

7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội. 

8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội. 

9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội. 

10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội. 

11. Hà Tuấn Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội. 

12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội. 

13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội. 

14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng. 

15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam. 

16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội. 

17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội. 

18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội. 

19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An. 

20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh. 

21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội. 

22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh. 

23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội (đã mất). 

24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh. 

25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội 

26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh. 

27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội. 

28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký Hi Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh. 

29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh. 

30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư ký ca Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh 

31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh. 

32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh. 

33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên - Huế, TP. Huế. 

34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội. 

35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội. 

36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh. 

37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh. 

38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội. 

39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh. 

40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội. 

41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh. 

42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh. 

43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh. 

44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, TP. Huế. 

45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội. 

46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội. 

47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thừa Thiên - Huế, TP. Huế. 

48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội. 

49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh. 

50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh. 

51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế. 

52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội. 

53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh. 

54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh. 

55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội. 

56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội. 

57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh. 

58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội. 

59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội. 

60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1997, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội 

61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1996, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội. 

_____________________ 

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 00:08
Toàn bộ những vấn đề nêu trong thư ngỏ 61 hôm nay vẫn là những vấn đề sống còn của đất nước, không thể khác được, nhất thiết phải thực hiện để đưa đất nước ra khỏi bế tắc hiện nay. Song đem đối chiếu với phẩm chất và năng lực hiện nay của quyền lực đảng và hệ thống chính trị hiện hành, chỉ có thể kết luận: quyền lực đảng và hệ thống chính trị chẳng những có sự bất cập quá lớn, mà còn đang ngày càng trở thành thành trở lực đối kháng những đòi hỏi phát triển của quốc gia! Thực tế khách quan này đang thách thức quyết liệt từng đảng viên, không một ai có thể tránh né! 

Các văn bản Tuyên bố của IDS, Kiến nghị 72 và Thư ngỏ 61 tuy bị quyền lực cai trị đất nước bác bỏ quyết liệt, song chắc chắn những vấn đề trọng đại của đất nước được nêu trong 3 văn bản này trước sau là những vấn đề mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thế giới khắc nghiệt hôm nay đòi hỏi phải thực hiện. 

Có thể nói đấy là những văn bản được viết bằng tất cả tâm huyết, ý thức trách nhiệm với tổ quốc và nhân dân, có sự cân nhắc cẩn trọng mọi bề của những người ký tên. Tất cả những kiến nghị đã nêu ra đều cố gắng bám sát thực tế cuộc sống của đất nước, cố chắt lọc những kinh nghiệm, những bài học của đất nước và của các nước khác trên thế giới, của lịch sử.., để chọn lọc ra được cho đất nước những vấn đề bức xúc nhất thiết phải giải quyết và hướng giải quyết. 

Sự thai nghén và ra đời của mỗi văn bản bao giờ cũng bắt đầu từ những bàn luận cặn kẽ, trước hết của những người đề xướng, rồi đến những người được mời tham gia, quyết định yêu cầu và nội dung văn bản, giao cho một nhóm biên soạn bản khởi thảo, tiến hành thảo luận dự thảo đầu tiên, rồi tiến hành tiếp những vòng thảo luận như thế, cho tới khi hình thành được văn bản chính thức. 

Trong quá trình này chúng tôi cũng phải “chuyên môn hóa” để công việc xuôn xẻ và kịp thời gian: tập thể lập ra nhóm được tặng cho cái tên là “3 ông đầu rau”, chưng dụng tôi vào việc lãnh hội ý kiến của tập thể, tập hợp các bản khởi thảo hay bản thảo thành một bản thảo chung; anh Việt Phương làm nhiệm vụ rà xoát nội dung bản thảo chung; anh Trần Đức Nguyên gọt rũa lại các phần và lên khuôn hoàn chỉnh văn bản của bản thảo chung để những người tham gia quyết định. Bộ 3 này có nhiệm vụ đưa ra tập thể bản thảo chung đầu tiên và làm mọi việc tiếp theo cho đến khi tập thể thông qua được văn bản chính thức. Chúng tôi là 3 ông già lọ mọ, chỉ có chưa đến nỗi gàn bát sách thôi, mỗi người một nơi, làm việc với nhau nhờ email. Rất may là được mấy anh trẻ hơn và giỏi nghiệp vụ máy tính hỗ trợ đắc lực! Bộ 3 ông đầu rau chúng tôi bây giờ khuyết một rồi: Anh Việt Phương! 

Cũng buồn, việc chưa thành mà bộ 3 đã khập khiễng! 
Một chuyện khác về 3 ông đầu rau 

Trong 2 năm chuẩn bị Đại hội XII, có thể nói 3 chúng tôi đứng ngồi không yên. Mỏi mắt tìm và căng tai nghe, trong sự chuẩn bị cho đại hội không tìm đâu được lấy một chữ nói về cục diện thế giới đã sang trang đi vào trật tự quốc tế mới – nhất là vấn đề Trung Quốc đã trở thành vấn nạn của thế giới và là thanh gươm Damocles lơ lửng trên đất nước ta, đòi hỏi của đất nước đi vào một thời kỳ phát triển mới, v… v… Nội dung dự thảo báo cáo chính trị hoàn toàn theo kiểu ngựa quen đường cũ… Bao nhiêu kiến nghị đúng đắn của đảng viên cũng như người ngoài đảng, bao nhiêu ý kiến và bài viết xây dựng.., tất cả chỉ như đước đổ lá khoai!.. 

Lo quá, tôi đề nghị với anh Việt Phương và anh Trần Đức Nguyên, và được cả hai anh đồng ý: 

Chúng ta, với tư cách là những người lâu năm làm việc tại cơ quan đầu não của đảng và nhà nước phải có ý kiến với Bộ Chính trị mọi việc liên quan đến Đại hội XII và kiến nghị những giải pháp cần thiết. Chủ trương phải nói thật, nói hết với tập thể Bộ Chính trị khóa XI, dưới dạng nói chuyện nội bộ, không đưa ra ngoài dư luận công khai. 

Chúng tôi phân công nhau: Tôi trình bầy báo cáo tổng quan để mở đầu, anh Việt Phương và anh Trần Đức Nguyên bổ sung và trình bày thêm một số vấn đề chuyên, những kiến nghị cụ thể... Chúng tôi dự kiến chỉ trình bầy trực tiếp với Bộ Chính trị, danh nghĩa chính thức là như vậy, tuy rằng không nhất thiết phải có mặt đầy đủ các ủy viên Bộ Chính trị, song dứt khoát sẽ không trình bầy với bất kể ai do Bộ Chính trị cử đi nghe chúng tôi nói gì rồi về chuyền đạt lại với Bộ Chính trị - vì 2 lẽ: bảo mật, và tránh tam sao thất bản. Chúng tôi đề nghị trực tiếp trình bầy với Bộ Chính trị còn vì lẽ dứt khoát phải tránh mọi hiểu lầm chung quanh câu chuyện bênh người này, bài bác người kia; vì đấy không phải là công việc của chúng tôi. Còn nếu chỉ một ủy viên Bộ Chính trị nào muốn nghe chúng tôi trình bầy, chúng tôi cũng sẵn sàng, song sẽ phải có bảo lưu nhất định riêng biệt đối với từng người, không thể là những điều chúng tôi dự kiến sẽ trình bầy trước tập thể Bộ Chính trị. 

Chúng tôi dự kiến toàn bộ buổi trình bầy gói ghém trong 1 giờ đồng hồ. 

Thống nhất với nhau như vậy, chúng tôi gửi một thư cả ba cùng ký tên đến anh Trần Quốc Vượng, bí thư và chánh Văn phòng Trung ương Đảng, nhờ báo cáo với Bộ Chính trị đề nghị của chúng tôi và tổ chức buổi trình bầy. 

Rất tiếc thư không có hồi âm. 

Đại hội XII diễn ra như nó phải diễn ra, theo sự chuẩn bị dành cho nó[3]

… 
Tại sao cứ phải kinh tế hạ nguồn? 
Trước hết, xin nói từ những năm là vụ trưởng kinh tế ở Bộ Ngoại giao, tôi đã quan tâm đến vấn đề này, tìm hiểu tình hình các quốc gia châu Phi và một số nước đang phát triển ở nơi khác, rút ra kết luận: Chủ nghĩa thực dân mới Trung Quốc đã vượt xa chủ nghĩa thực dân mới của Âu châu trong việc bóc lột tài nguyên ở những nước này, và để lại đấy nguyên trạng phát triển như trước khi nó đến, ngoại trừ những khác biệt mới do môi trường tự nhiên bị hủy hoại và thêm một số tàn tích neo-colonialist khác made by China... 

Vậy xin tạm hiểu: Kinh tế hạ nguồn là kinh tế khai thác tài nguyên khoáng sản, sản xuất các nguyên liệu khoáng sản, dầu thô, sắt, thép…, với những đặc điểm tỷ lệ lợi nhuận thấp, chiếm nhiều rừng núi, khu mỏ, đất đai, tiêu hao nhiều năng lượng, nước, gây ô nhiễm môi trường nặng nề, v… v… Ngay từ giữa thế kỷ 20 các nước phát triển đã tìm cách di chuyển kinh tế hạ nguồn sang các nước đang phát triển. Nói đơn giản: Đấy là những ngành kinh tế lạc hậu. 

Học được những kinh nghiệm như vậy, trong những hội thảo cấp nhà nước của ta về chiến lược phát triển tôi được tham dự hai - ba thập kỷ trước đây, tôi luôn luôn theo đuổi quan điểm hạn chế xuống mức thấp nhất kinh tế hạ nguồn ở nước ta. Lý do: Nước ta đất ít, người đông, mật độ dân số cao nhất châu Á, không gian sinh tồn kinh tế của nhân dân ta rất hẹp, lợi bất cập hại, phải ưu tiên dành không gian sinh tồn kinh tế cho những ngành nghề phát uy được tiềm năng con người, sinh lợi nhiều hơn và thân thiện với môi trường hơn… Thậm chí đã có lần tôi phát biểu ở Ủy ban kế hoạch nhà nước: Ngay cả những mỏ than ở Quảng Ninh, nếu bắt thực hiện nghiêm túc khâu hoàn nguyên vùng đất/mỏ đã khai thác, hầu như chắc chắn sẽ không một mỏ than nào ở đấy có thể hoạt động có lãi! Tôi đã đề nghị cần sớm tính đến giảm sản lượng và giảm xuất khẩu than ở đây. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, với lý do phải bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và công ăn việc làm của họ! Vân vân… Bây giờ thì nước ta đang hàng năm phải nhập khẩu than! 

- Vậy tại sao hầu hết cho đến hôm nay các tỉnh rất sính phát triển kinh tế hạ nguồn? 

- Vì dễ kiếm chác nhất bỏ túi, còn mọi hệ quả và hệ lụy trước mắt hay lâu dài đã có dân hay đất nước chịu! 

Thậm chí một thời gian dài tồn tại sự đánh tráo khái niệm có thể nói là vô liêm sỉ - ví dụ như đưa các sản phẩm khai thác quặng, cát, đá vôi… vào nhóm “sản phẩm công nghiệp” để báo cáo với nhà nước thành tích nâng cao tỷ trọng sản phẩm công nghiệp trong tính toán GDP tỉnh, với mọi dụng ý vụ lợi rất tiêu cực. Trong khi đó thứ “tỷ trọng” này càng cao, về dài hạn đất nước càng nghèo khó và lụn bại. Thực trạng này của đất nước hiện nay hình như chưa thay đổi bao nhiêu! 

Xin điểm lại trong phần này một vài trải nghiệm khó quên. 
Câu chuyện bauxite Tây Nguyên 

Trong lần tháp tùng thủ tướng Võ Văn Kiệt đi thăm Iceland năm 1995, tôi ngạc nhiên thấy quốc gia đảo ở giữa Bắc Đại Tây Dương mênh mông này có công nghiệp sản xuất nhôm rất phát triển. Để có được sản phẩm này có nghĩa quặng bauxite phải đi hàng ngàn cây số đến đây, và sản phẩm nhôm cũng phải đi hàng ngàn cây số như thế đến những nơi tiêu thụ. Tôi hỏi bà thủ tướng Iceland và được giải thích: Khoảng cách xa đối với vận tải biển không thành vấn đề lắm, quốc đảo Iceland có quá nhiều địa nhiệt điện (do núi lửa) và không biết để làm gì, nên sản xuất nhôm là ưu việt nhất, quặng từ tầu biển đổ thẳng vào nhà máy, xử lý bùn đỏ và chất thải đổ ngay xuống biển, nên mọi chi phí về vận tải và môi trường rất thấp, giá thành sản phẩm thấp, tỷ lệ lợi nhuận cao… 

Tôi tưởng rằng bà thủ tướng giải thích cho mình thế là đầy đủ, toan cảm ơn, nhưng bà thủ tướng nói thêm: Iceland đang tính toán, hoặc là gia tăng khâu tự động hóa để giữ nguyên sản lượng nhôm, hoặc bớt hẳn sản xuất nhôm, vì ngày càng nhiều người dân quốc đảo này bỏ công nghiệp nhôm để chuyển sang ngành công nghiệp tin học… - bởi vì toàn quốc đảo trên 100 nghìn Km2 này chỉ có khoảng 35 vạn dân! 

Câu chuyện bauxite/nhôm như vậy đến với tôi hoàn toàn ngẫu nhiên, và ngủ lại trong tôi như hàng trăm hàng nghìn câu chuyên ngẫu nhiên khác tôi gặp trên đời này. Bẵng đi khoảng một chục năm sau, khoảng năm 2006 – 2007 ở nước ta rộ lên câu chuyện bauxite Tây Nguyên. Như một phản sạ tự nhiên, tôi hiểu ngay đây là câu chuyển chẳng lành rồi, vì ngoài các lý do kinh tế - kỹ thuật – môi trường tự nhiên – văn hóa – dân sinh… của khai thác sản phẩm này không có lợi cho nước ta, còn có lý do Trung Quốc đối với vùng đất cực kỳ quan trọng và cực kỳ nhạy cảm này của nước ta trên phương diện an ninh. 

Tôi tham gia vào 2 tổ chức phi chính phủ (NGO) là SPERI và CODE để cùng với các tổ chức NGO khác trong cả nước bàn luận và vận động dừng 2 dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên là Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông), dừng khai thác bauxite Tây Nguyên nói chung. 

Việc đầu tiên phải làm là tôi lên mạng tìm hiểu sự vận động của toàn bộ công nghiệp nhôm trên thế giới từ khâu sản xuất đến khâu thương mại để xây dựng những quan điểm của tôi về ngành công nghiệp này ở nước ta. Tôi đi tới được kết luận: Vì những lý do kinh tế, môi trường, địa lý và địa chất tự nhiên, dân sinh (bao gồm cả vấn đề các dân tộc ít người), văn hóa, an ninh và quốc phòng nhất thiết nên gác lại toàn bộ vấn đề khai thác bauxite Tây Nguyên một thời gian dài cho đến khi xuất hiện những điều kiện hoàn toàn mới khác sẽ xem lại sau. 

Tôi hiểu việc gác lại như vậy vấn đề khai thác bauxite Tây Nguyên có tầm quan trọng như một mệnh lệnh của quốc gia! 

Một số nhà khoa học, học giả - trong đó có anh Nguyên Ngọc, người mà tôi vinh danh là “người con của Tây Nguyên” và đã giúp chúng tôi có những lập luận xác đáng phải bảo vệ môi trường và văn hóa Tây Nguyên – và các thành viên của CODE, SPERI, và một số tổ chức khác… Tham gia cùng với họ đi đi về về mấy năm liền trên Tây Nguyên để tìm hiểu tại chỗ, tôi đã viết khá nhiều bài trình bày quan điểm của mình, kể cả trực tiếp gửi cho lãnh đạo đảng và nhà nước… 

Rất may, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA – thời anh Hồ Uy Liêm) hậu thuẫn rất tích cực mọi nỗ lực của chúng tôi, huy động các chi hội ở các tỉnh cùng tham gia. Khi công việc đến thời kỳ quyết định, anh Hồ Uy Liêm, chủ tịch VUSTA, thay mặt toàn thể các tổ chức NGO và chúng tôi, và cũng nhân danh VUSTA, chính thức trình bày với trung ương Đảng và Chính phủ đề nghị dừng lại dự án khai thác bauxite Tây Nguyên. Lần đầu tiên ở nước ta có một sự đối thoại như thế - nói nôm na: đối thoại giữa một bên là tiếng nói của xã hội dân sự, và một bên là đại diện của hệ thống chính trị/nhà nước về vấn đề trọng đại của quốc gia. [Thế mà hệ thống chính trị hiện nay vẫn dị ứng với xã hội dân sự như đỉa dị ứng với vôi!] 

Có thể nói, chúng tôi đã làm mọi việc có thể với tất cả tâm huyết và hiểu biết của mình, để bảo vệ bằng được Tây Nguyên! 

Tiếc thay, chúng tôi không thành công, hoặc không thành công được bao nhiêu. Trong chúng tôi cũng có anh chị em đánh giá là đã thành công được một nửa: Thông báo của Bộ Chính trị số 245 TB/TW ngày 24-04-2009 nói khai thác bauxite Tây Nguyên là chủ trương nhất quán của Đảng từ Đại hội IX, cho phép tiến hành triển khai 2 dự án nói trên… được hiểu là làm thí điểm (người phổ biến thông báo nói miệng như vậy, song thực ra nội dung trên văn bản thông báo câu chữ không nói rõ hẳn ra ý này)[4]

Trong thực tế, vấn đề khai thác bauxite Tây Nguyên được coi là một dự án quan trọng, đã được ghi trong tuyên bố chung Giang Trạch Dân – Nông Đức Mạnh 03-12-2001 tại Bắc Kinh, trong thông cáo chung Nông Đức Mạnh – Hồ Cẩm Đào 17-11-2006 tại Hà Nội và trong tuyên bố chung Hồ Cẩm Đào – Nông Đức Mạnh 02-06-2008 tại Bắc Kinh, nên không thể thay đổi được nữa (!). 

2 công trình alumina Tân Rai và Nhân Cơ nói trên hoàn toàn có thể thi đua với tất cả những công trình công nghiệp lớn khác do Trung Quốc xây dựng trên toàn Việt Nam về giá công trình bị đội lên cao ngất ngưởng, công nghệ thấp, tiêu hao và lãng phí nguyên liệu / năng lượng, ô nhiễm môi trường… và mọi chuyên đau đầu khác. 

Hai xí nghiệp này hiện nay càng sản xuất càng lỗ - cách giải thích là “lỗ theo kế hoạch” không đứng vững được nữa, đồng thời luôn luôn thường trực những tai nạn môi trường nguy hiểm. Tất cả đang diễn ra đúng như các ý kiến phản biện trong cả nước đã cảnh báo. Chưa nói đến một vấn đề nan giải hàng ngày: Riêng vấn đề vận tải hàng trăm cây số đường Tây Nguyên với khối lượng cả đi và về của cả 2 nhà máy khoảng trên 2 triệu tấn / năm (nhiên liệu than và sản phẩm alumina) bằng những xe siêu trường siêu trọng làm nát bét hệ thống đường xá hiện có, phải giải quyết thế nào? Lấy tiền ở đâu? Chi phí này là ngân sách nhà nước chịu... 

Hai xí nghiệp này đang trong tình trạng bỏ thì thương, vương thì tội – nghĩa là duy trì hay xóa bỏ chúng đều là những gánh nặng lớn cho đất nước và ngay cho cả 2 địa phương trên nhiều phương diện – không biết đến bao giờ!.. Thực ra ngay từ đầu lúc mới động thổ khởi công, riêng tôi đã chính thức đề nghị - kể cả bằng thư trực tiếp gởi lãnh đạo - giải thể 2 xí nghiệp này càng sớm càng tốt, bao gồm cả hình thức bán sắt vụn; vì như thế vẫn còn nhẹ gánh hơn cho đất nước – cho dù phải trả nợ cho 2 công trình này! Bây giờ có lẽ quá muộn để tính đến một giải pháp cực đoan như thế! 

Biết làm sao bây giờ? 

Hiện đang có dự kiến đưa sản phẩm alumina của 2 nhà máy này vào sản xuất nhôm ngay trên Tây Nguyên – giữa lúc Tây Nguyên đang thiếu cả điện và nước! Một con bạc cháy túi đang khát nước!? 

Trong quá trình đi khảo sát Tây Nguyên, càng đi tôi càng xót xa: chỉ cần dùng 1/3 hay 1/2 khoản đầu tư cho 2 xí nghiệp này vào phát triển một Tây Nguyên xanh, chắc chắn chúng ta đã sớm có ngay một Tây Nguyên hoàn toàn khác, và sẽ cải thiện được đáng kể đời sống của nhân dân toàn vùng, ngân sách có thêm nguồn thu mới chứ không phải mang nợ như hiện nay! Trong khi đi vận động bãi bỏ khai thác bauxite Tây Nguyên, tôi đã trình bày kỹ quan điểm này. 
Formosa – Hà Tĩnh 

Một bài toán khó khác. 

Lần đầu tiên tôi được biết đến Formosa – Hà Tĩnh là trong cuộc hội thảo do tỉnh ủy Hà Tĩnh tổ chức, chính thức công bố với cả nước dự án này trước khi đi vào khởi công. Hội thảo rất hoành tráng, có đại biểu từ khắp cả nước và các Bộ, Ban, ngành.., trong đó có nhiều đại biểu các trường đại học, viện nghiên cứu… Một nghi lễ ra mắt dự án đúng hơn là một hội thảo – không hiểu tại sao người ta sính dùng ngôn từ một cách lung tung có dụng ý thế này!?. Thành phần các đại biểu lên nói trên diễn đàn này rất rôm rả, ngợi ca nhiệt tình... 

Anh Nguyễn Mại, anh Phạm Gia Toàn và tôi được mời dự với tư cách là Tổ kinh tế đối ngoại trong Ban Nghiên cứu của thủ tướng Chính phủ. Càng nghe, tôi càng lo, vì dự án vô cùng đồ sộ, nhưng tất cả đều nói xuôi chiều. Tôi quyết định đăng ký xin phát biểu cuối cùng trước khi sang phần nghi thức bế mạc. 

Sự thật được mời đi dự hội thảo như thế thì đi thôi, tôi không biết mô tê gì về dự án này, song các con số giới thiệu tại hội thảo về quy mô các mặt của dự án làm tôi lo lắng: Một công trình vô cùng đồ sộ của kinh tế hạ nguồn ngay trên đất Hà Tĩnh không thể nói là giầu có về các nguồn lực, nhất là các nguồn lực của tự nhiên như đất đai, nước, khí hậu… 

Tôi lên phát biểu rất ngắn – vì lúc này có nói dài cũng không ai nghe nữa. Đại ý: Tôi xin lỗi là tôi khác ý kiến với các đại biểu nói trước. Dự án càng đồ sộ, tôi càng lo. Giữa lúc này trong những điều kiện hiện tại của nước ta và của ngay địa phương Hà Tĩnh, mở rộng kinh tế hạ nguồn sẽ có rất nhiều thách thức, các nguồn đầu vào khan hiếm, vấn đề môi trường sẽ có thể là thách thức rất lớn, lại là nước đi sau nữa, khó đuổi kịp về công nghệ và càng khó cạnh tranh, trong khi đó thị trường sắt thép trong khu vực rất phong phú nếu không muốn nói là bão hòa. Mừng cho địa phương có dự án lớn, nhưng rất mong xem xét, tính toán lại kỹ các mặt để không bị bất ngờ. 

Còn phải giữ lễ xã giao, nên tôi hoàn toàn không nói đến nỗi lo của tôi về chính trị - vì ngồi nhìn lên bản đồ tại hội thảo, tôi thấy công trình Formosa – Hà Tĩnh dễ cắt đôi đất nước ta khi cần!.. Vả lại đây không phải là diễn đàn để nói chuyện này. 

Ngay sau hội thảo này, tôi bắt đầu quan tâm ráo riết đến Formosa – Hà Tĩnh. Tôi có chỗ dựa tin cạy là anh Nguyễn Ký, nguyên chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh. Anh Nguyễn Ký đồng tình với những lo lắng của tôi và giúp tôi dần hiểu thêm nhiều chi tiết khác. 

Nhưng khi xảy ra thảm họa ô nhiễm biển miền Trung, báo chí chỉ nói là sự cố, nhiều điều đáng sợ mới được phơi bầy ra ánh sáng: từ cách thức dự án ra đời, quá trình phê duyệt siêu tốc, đánh giá ĐMC và ĐTM sơ sài, diện tích cho thuê quá lớn và thời gian cho thuê gúa dài, giá thuê gần như cho không, kiểm soát của địa phương và của Bộ vô cùng lỏng lẻo… Ngoài ra còn những hiện tượng can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc liên quan đến những xô xát với công nhân Trung Quốc trong khu công nghiệp, hiện tượng biểu tình phản đối Formosa bị bàn tay nào đó biến tướng thành đập phá trong vòng chưa đầy 2 ngày một loạt xí nghiệp (có con số nói là khoảng gần một trăm xí nghiệp, tôi không có thông tin cụ thể) suốt từ ngoài Bắc vào đến Bình Dương… 

Ngày 18-07-2016 tôi gửi thư ngỏ đến lãnh đạo đảng và nhà nước, đề nghị (1) đóng cửa khu công nghiệp Formosa, (2) thu hồi cảng Vũng Áng dưới dạng chuyển sang BT (build & transfer) để phía nước chủ nhà giành toàn quyền kiểm soát, (c) kêu gọi toàn dân đoàn kết cứu biển. Để tạo thế mạnh, đề nghị tiến hành trưng cầu dân ý đòi thực hiện 3 việc trên[5]

Thư ngỏ trên chưa ráo mực, qua báo chí tôi được tin phía kinh doanh Việt Nam muốn đảy nhanh tiến độ triển khai tiếp việc khai thác mỏ sắt Thạch Khê, liên doanh là các công ty Trung Quốc nhiều tai tiếng và tôi có một số thông tin về lai lịch của họ. Công việc này sở dĩ phải tạm dừng một thời gian vì thiếu vốn. 

Từ rất lâu tôi đã biết Liên xô thấy việc khai thác mỏ nảy rủi ro rất lớn. Sau này Krupp và một số tập đoàn nước ngoài khác cũng đã tìm hiểu cặn kẽ tại chỗ đề tài này và đều lần lượt rút lui… Ngay lập tức, tôi đề nghị CODE và Pan Nature mời các nhà khoa học cho ý kiến. Qua mấy cuộc họp chúng tôi đều thấy phải tìm cách ngăn việc này lại. 

Ngày 26-07-2016 tôi gửi đích danh các vị lãnh đạo đảng và nhà nước một thư mới, đề nghị ra chỉ thị đình chỉ ngay việc tiếp tục khai thác mỏ sắt Thạch Khê. Tôi nêu rõ những đánh giá và cảnh báo của các chuyên gia: việc xúc tiến khai thác mỏ này sẽ có thể gây ra thảm họa Formosa thứ 2, nhất là đặc thù của mỏ này quá gần biển và nằm quá sâu dưới mặt biển, de dọa nhiều tai họa lớn cho cả vùng. 

Gửi xong thư, trong lòng tôi vô cùng băn khoăn: Không biết những người Việt muốn xúc tiến tiếp việc khai thác mỏ này, lại liên doanh với những đối tác đáng ngờ như thế, họ là ai? Kẻ hám lời? Kẻ giết người? Kẻ bán nước? 
Titan và tim tan… 

Trời cho nước ta một vùng duyên hải cực kỳ đẹp bao quanh đất nước! Càng đi, tôi càng thấy đất nước ta đẹp vô cùng. 

Trong khi đi khảo sát Tây Nguyên, chúng tôi đã kết hợp khảo sát vấn đề khai thác titan rất hỗn loạn, tập trung vào vùng ven biển Bình Thuận đang khai thác titan bán cho Trung Quốc! 

Đến những nơi loang lổ các bãi khai thác titan, có chỗ ăn ra sát bãi biển, tôi có cảm tưởng có một con thú dữ nào đó… đang ngoạm từng miếng một trên da thịt mình! Tôi kêu lên với mọi người đi cùng: 

- Trời đất ơi, ti tan hay là tim tan? 

Giáo sư Đặng Trung Thuận giải thích căn kẽ cho chúng tôi làm ăn như thế này đất nước đang mất gì được gì. Cũng như tại những nơi khác khai thác khoáng sản, thiên nhiên phải mất hàng triệu năm mới làm nên được kiến tạo đất đai và cảnh quan cho chúng ta như hôm nay… Song trong vài tháng, vài năm bàn tay con người chúng ta làm cho tan hoang tất cả. Phá sạch! Hủy sạch! Điêu tàn! Nham nhở!.. 

Đứng tại bờ biển Bình Thuận, nghe giáo sư nói, nhưng trong đầu tôi liên hệ đến tình trạng khai thác khoáng sản trong cả nước, suốt từ chỗ tôi đang đứng, đi hết mọi miền, ngược mãi lên đến Quảng Ninh, lan sang Lào Cai, Cao Bằng, vòng xuống Tuyên quang, Yên Bái, Thái Nguyên… 

Vì là thành viên của NGO Pan Nature và tham gia hợp tác trong một chuỗi các NGO dưới cái tên chung là Liên minh Khoáng sản, hàng năm tôi vẫn thường theo dõi tình hình khai thác khoáng sản trong cả nước, qua tìm đọc các báo cáo của phía các cơ quan nhà nước ta, các báo cáo và đánh giá của các tổ chức thế giới trong và ngoài Liên hiệp quốc về tình hình này của nước ta, liên hệ với những gì tôi mắt thấy tai nghe trên mọi miền đất nước… Tôi vô cùng xin lỗi và cho phép tôi rút ra kết luận trong một từ như thế này: 

- LOẠN! 

Nếu ở Hà Nội, bạn không cần phải đi đâu xa. Chỉ cần lần ngược hoặc xuôi vài chục cây số men theo sông Hồng, xem sự hoành hành của bọn cát tặc, đến những nơi sạt lở ven sông, thăm những gia đình dân cư mất đất mất nhà.., bạn cũng có thể dễ dàng hình dung sự tàn phá thiên nhiên của bàn tay con người mà tôi đang nói tới ở trên! 

Tôi đã tham gia khá nhiều hội thảo của các hiệp hội khoa học và những NGO có liên quan đến đề tài tài nguyên khoáng sản của quốc gia. Những cuộc họp này đã đưa ra không biết bao nhiêu cảnh báo, kiến nghị… Kết quả cho đến hôm nay: Hầu như toàn bộ sự việc vẫn vượt ra ngoài tầm kiểm soát! Với cái giá đất nước phải trả vô cùng đắt! Bài toán vẫn chưa có lời giải. 

Cả người dân và người làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đều có lỗi! Nan giải vô cùng! Song trước hết lỗi thuộc về sự bất lực và bất cập (và cả tham nhũng nữa) của quyền lực quản lý và của những chủ trương chính sách sai lầm. 

Dưới đây là một trong không biết bao nhiêu ví dụ khắp cả nước. 

Chúng tôi đi xem dự án thủy điện Xuân Nha thuộc bản Chiềng Nưa, nằm ngay trong khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Sơn La, đã được tỉnh phê duyệt và cấp phép theo quyết định số 749 QĐ/UBND tỉnh Sơn La ngày 30-03-2016[6]. Thứ nhất, chúng tôi không thể hiểu nổi tại sao chính quyền tỉnh lại làm cái việc điên rồ như thế: sẵn sàng thủ tiêu khu bảo tồn thiên nhiên đã được nhà nước phê duyệt. Thứ hai, dự án này nằm trên con suối Nậm Quanh, chỉ có công suất 4MW, sẽ chiếm mất 28 ha ruộng và 16,9 ha rừng đặc dụng ở bản Chiềng Nưa, ngoài ra sẽ làm cho 50 ha của bản Thín bên cạnh bị khô kiệt. Hỏi han kỹ lưỡng mọi chuyện, chúng tôi té ngửa: Dân của bản cho rằng khai thác gỗ trong diện tích rừng đặc dụng được quy hoạch cho thủy điện này mới là mục tiêu đích thực của chủ dự án, sau đó có thể chiếm vùng đất bị tác động của bản Thín bên cạnh… Dân địa phương đang cầu cứu các NGO hỗ trợ họ bác bỏ dự án này!.. Đây còn là một ví dụ điển hình của sự phân cấp xé nát hay vứt bỏ luật pháp, thể chế quốc gia... Ví dụ này đủ phản ánh tình trạng lạc hậu của chế độ và hệ thống chính trị quản lý đất nước[7]

Trở lại câu chuyện khai thác titan ở Bình Thuận để bán cho Trung Quốc: Sự thật là ngân sách địa phương thu được không bao nhiêu. Trong đó ngoài chuyện khai man thuế còn chuyện ăn cắp khoáng sản mang đi bán lậu, cũng cho chính khách hàng Trung Quốc – được chở bằng những sà lan trọng tải từ vài trăm tấn trở lên chứ không phải là bẳng những cái lá bàng! Việc khai thác titan ở Bình Thuận hiện nay còn làm suy kiệt nguồn nước ngầm tại chỗ, khiến nhân dân trong vùng khốn đốn. Đương nhiên không ai ở các mỏ đang khai thác titan này cho chúng tôi con số cụ thể về bất kể câu hỏi nào. Tôi đành lấy những số liệu khai thác than thổ phỉ hàng năm ở Quảng Ninh để cố tưởng tượng ra một cách tương ứng phù hợp với mức độ thất thóat ở đây, những gian lận khác, những thiệt hại môi trường, những gánh nặng nhân dân tại chỗ phải chịu đựng… 

Hỏi: Tại sao cứ phải bán quặng titan thô, không sơ chế hoặc không chế biến thành sản phẩm cao hơn? 

Trả lời: Có đấy. 

Chúng tôi được dẫn tới xem 1 «xưởng» sơ chế. Thực ra đấy chỉ là một cỗ máy tuyển quẳng tinh dưới một cái lán tôn, rỉ hoắc, đơn giản là máy đắp chiếu hàng năm trời rồi! Được giải thích: Máy đang phải đại tu. 

Về hoàn nguyên đất đai nơi đã khai thác: Nếu trước khai thác là những bãi phi lao bát ngát xanh, hàng trăm năm nay ngăn các bão cát, bão biển.., thì bây giờ là những vạt cát lún phún những hàng phi lao mới trồng, không biết có sống nổi qua mùa nắng hạn.., và không phải mọi nơi đã đào bới lên đều đựơc trả lại bằng những vạt cây mong manh như thế! 

Càng nghe những câu trả lời với mục đích chạy trốn người hỏi như thế, tai tôi càng điếc đặc, trong lòng quặn đau – phần bực giận, phần sót sa.., tôi phải lùi lại phía sau mọi người một chút để giấu cảm xúc của mình – ký ức ấy hôm nay vẫn còn nóng bỏng. Ngay lúc này cũng vậy, tôi chỉ muốn thốt lên với các bạn: Bình Thuận của chúng ta đẹp lắm các bạn ơi! Nhắm mắt lại ở xa vạn dặm… tôi vẫn thấy biển Bình Thuận thì thào ai oán bên tai mình, những đồi cát đỏ hớp hồn tôi và đang níu lấy chân tôi… 

- Cứu thế nào !?.. 

Không phải không có tiếng nói của báo chí phê phán những gì đã xảy ra với khai thác titan trên toàn miền Trung, không riêng gì Bình Thuận. Song hiệu quả mong đợi vẫn xa vời. 

Gần đây ban lãnh đạo mới của tỉnh ủy Bình Thuận khóa đại hội XII chủ trương đình chỉ việc khai thác titan trong địa bàn tỉnh để ưu tiên triển khai du lịch. Tỉnh ủy chủ động tranh thủ sự hậu thuẫn của chúng tôi, nhất là trong tình hình hiện nay đang có chủ trương của cấp trung ương tiếp tục khai thác titan theo như quy hoạch của nhà nước đã được phê duyệt! Pan Nature đang cùng với các NGO khác chung tay với tỉnh ủy Bình Thuận hậu thuẫn chủ trương của tỉnh dừng khai thác titan để triển khai du lịch. Tôi hiểu Pan Nature và các NGO bạn trong đề tài này đang bước vào một cuộc trường chinh mới. 

Từ nhiều năm nay Pan Nature nỗ lực vận động nhà nước ta tham gia tổ chức minh bạch công nghiệp khai thác tài nguyên thế giới có tên gọi là «Sáng kiến về minh bạch công nghiệp khai thác tài nguyên» (Extractive Industries Transparency Initiative – EITI, web: https://eiti.org ), thành viên tham gia phải là quốc gia ở cấp chính phủ, cam kết thực hiện các nghĩa vụ của EITI và được hưởng sự giúp đỡ của EITI trong vấn đề thực hiện kiểm xoát và khai thác tối ưu tài nguyên ở quốc gia mình, điều kiện tham gia khá chặt chẽ; đất nước muốn bảo vệ và sử dụng tối ưu tài nguyên và môi trường tự nhiên của mình rất cần lựa chọn sự tham gia này. Sự vận động của Pan Nature đến nay chưa có hy vọng gì, hình như ở nước ta cứ cái gì đụng đến khái niệm «minh bạch» (transparency) là húc đầu vào đá! … … 
…Mỗi ngày tôi được nhận… một "món nợ" 

(Trịnh Công Sơn – tôi xin lỗi được hát theo anh như vậy! – Nguyễn Trung.) 
Nghĩ về những người tôi có may mắn được cùng sống và cùng hoạt động trong hoặc ngoài tất cả những NGO và trong suốt quá trình tôi với tư cách là một công dân tự do được cùng tham gia vào các đề tài phục vụ lợi ích quốc gia. Chúng ta đã làm được nhiều việc khó, cho phép tôi nói một câu sung sướng: 
- Xin vô cùng cảm ơn các bạn! 
Đã có lần tôi mơ …Trên đỉnh núi Ba Vì thiêng liêng và yêu quý của chúng ta, chung quanh lửa trại bừng bừng, tất cả anh chị em NGOs chúng ta khắp cả nước về đây, tay trong tay hát những bài hát chúng ta yêu thích nhất, múa những điệu vũ tràn đầy sức sống của đất nước, tất cả cùng nhau công kênh đất nước chúng ta tiến lên phía trước, tham gia vào cuộc đua chung của cả thiên hạ hướng về tương lai… … 
Giấc mơ này đến từ ước mong của tôi về một xã hội dân sự của học tập mà hình thành nên[8] - nơi nhân dân ta sẽ cất lên tiếng nói của mình, nơi toàn dân ta sẽ quyết định mọi việc của quốc gia, rồi đây sẽ mở đường cho nước ta đi lên!.. 
Và trong lòng tôi lúc này vang vọng câu hát …I faced it all and I stood tall and did it my way…(My Way – Frank Sinatra) để chuyển tải lời cảm ơn thầm lặng trong tôi đến tất cả các bạn về những chặng đường gian khó chúng ta đã cùng nhau vượt qua!.. (Tự nhiên, đến đây tôi như nấc lên, nhớ đến “hiệp sĩ công nghệ thông tin” Nguyễn Công Hùng – đã mất, 1982 – 2012, một trong những người anh hùng của tôi. Người thanh niên này đã vượt lên số phận nghiệt ngã của mình, cống hiến hết mình cho đời và cho xã hội dân sự - tôi đã dành cho Hùng một tấm bia nhỏ trong “Lũ” – tập I, trang 324). 
Tôi không có lời cảm ơn nào tốt hơn. Tim tôi tự nói lên như thế, tôi xin chuyển đạt đến các bạn đúng nguyên như thế - mọi thành viên các NGOs mà tôi có may mắn được cộng tác trong nhiều năm qua… 
Tôi ngả mũ kính phục những gì các bạn đã làm được cho nhân dân những nơi các bạn đi tới, cho nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước! Các bạn đã mang lại cho họ rất nhiều việc tốt đẹp, làm dịu bớt những khó khăn gần như bế tắc trong cuộc sống của họ - nào là thiếu nước sạch, nghèo đói, canh tác khô cằn, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường, bệnh tật, những người tàn tật không còn hy vọng, cái dốt và hủ tục, nạn mù tin học, vân vân… Nhất là những người được các bạn giúp đỡ thường trở nên có nhiều năng lực tự giác hơn về những khó khăn của bản thân họ và lối ra… Các bạn thực sự đem lại cho họ hy vọng và sức sống mới… 
Các bạn đã chứng minh: Hoàn toàn có thể tạo ra ở nước ta một xã hội dân sự hướng về chân-thiện-mỹ, xã hội dân sự của học tập, làm chỗ tựa cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước – vì đấy là một trường học không thể thiếu cho công dân tự do của một nước tự do! 
Tấm lòng hỷ xả của các bạn, tấm gương dấn thân của các bạn cho niềm tin của mình, nghị lực của các bạn qua những việc mình làm phấn đấu cho cái chân-thiện-mỹ trên đời này, ý chí các bạn nuôi nấng tâm hồn mình bằng niềm tin và hành động như thế, tìm thấy trong cái sống vì mọi người có cuộc sống của chính mình, cảm nhận được mọi người đang vì mình!.. Tôi biết, chẳng có ai làm chủ hay sai khiến được bạn cả. Chỉ có tâm hồn của bạn thôi thúc bạn sống và hành động như vậy… Tôi thấy các bạn như thế rõ ràng không phải là thánh, mà là người! Tôi tìm được bạn và tôi tìm được tôi cho tôi ở những người như vậy – các bạn! Đấy là lý do tôi cảm ơn – cũng có nghĩa tôi có thêm một món “nợ”: tôi phải cố xứng đáng là bạn của các bạn! 
Nói dài dòng như thế, cũng là để nói một lời rất riêng với từng bạn: Sống là một thành viên NGO như thế không dễ! Tôi rất hiểu. Xin các bạn hãy cố lên! Cố lên!.. 
Tổ quốc chúng ta đang cần những con người như thế, đang rất cần những NGOs như thế! Các bạn đang là những công binh mở đường cho một xã hội dân sự!.. – một con đường một ngày nào đó sẽ dẫn tới một xã hội dân sự của một nước Việt Nam văn minh, giầu đẹp, dân chủ, hạnh phúc! 
Mỗi ngày tìm được một bạn tốt như thế, một tấm gương tốt như thế, là mỗi ngày tôi có thêm một “món nợ”! Một thứ nợ tôi không bao giờ từ chối! (Khái niệm nợ như thế này đẹp quá, tự nhiên khiến tôi nhớ đến một phim của Nhật rất cảm động “The lies she loves”!) 
Tôi nhận được nhiều quá, hơn rất nhiều những gì tôi đã vắt tim vắt óc mình cho đi trong những việc đã cùng làm với các bạn, trong những khoảnh khắc được sống cùng các bạn! Chính cái thặng dư tôi có được này – nói thế nào nhỉ? – khiến tôi cao thêm được vài centimètres nữa đấy! - ở cái tuổi xương cốt tôi đã vôi hóa hết rồi! Không một thực phẩm chức năng, hay thuốc dưỡng sinh, hay thần dược nào có thể làm được như thế đâu: Tôi nhìn được nhiều hơn trong cuộc sống tôi đang sống, và các bạn mang lại cho tôi niềm lạc quan tôi đang cần. 

Viết đến đây, trong tôi bùng lên những cái tên thân thương Đặng Trung Thuận, Nguyễn Văn Ban, Trần Thị Lành, Nguyễn Thanh Sơn, Lê Văn Cương, Nguyễn Đăng Khoa (đã mất), Khổng Doãn Hợi, Đào Trọng Hưng, Phạm Kiều Oanh, Phạm Quang Tú, Nguyễn Cao Cương, Trịnh Lê Nguyên, chị Vân (Vusta), Bọ Ka, Minh Phương… ôi nhiều lắm… nhiều lắm, đông lắm.., khắp mọi miền trong cả nước.., không thể kể ra hết được! Mỗi người mỗi vẻ... Tất cả cứ như một giàn hợp xướng tổng hòa, đủ hết từ tenor các lọai, đến vút lên cao ngất trời, các baritone mọi cung bậc, các soprano đầy nữ tính.., đến các loại bass nghe vỡ ngực!.. 

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn. 

… 
Thời cơ vàng… và Dòng đời đầy thác Lũ… 
Năm 2006 tôi có 2 kỷ niệm có ý nghĩa với chính mình: 

- Loạt bài báo Thời cơ vàng – 09-01-2006… (Thời cơ vàng / Hiểm họa đen). 

- Bộ tiểu thuyết Dòng đời - 2006 - ra mắt bạn đọc. 

Cả hai ấn phẩm này đều là kết tụ của những năm tháng tôi day dứt về tình hình đất nước. 

Hồi đó, ngày đêm tôi như bị dày vò giữa 2 thế giới: Một thế giới là chính đất nước tôi – tổ quốc của chúng ta, một thế giới khác là cái thế giới thực bao quanh chúng ta! 

Đấy là một thế giới, cứ như là một tinh cầu bé nhỏ, lạc lõng, trôi dạt gần như vô thức vì sự bàng quan hay vô cảm của nó đối với thế giới bên ngoài, – có khi là sự chạy trốn! – một mình một vận động thụ động, do mọi lực tác động từ bên ngoài nhồi, đập, co kéo… – đó chính là nước ta! 

Một thế giới là cái thế giới thực bao quanh chúng ta, lạnh lùng, khốc liệt, nó vận động theo lực của chính nó, không mảy may du di hay động lòng trắc ẩn, không khoan nhượng.., hoặc là nó cuốn hút bất khả kháng mọi thứ đi theo nó, hoặc nó làm tan nát mọi thứ tự nhiên hay ngẫu nhiên va đập vào nó. 

Quan sát sự vận đông trong ngoài như thế, mọi đau thương và những vết hằn của 4 cuộc kháng chiến đầy xương máu tạo nên trong tôi nỗi khát khao kinh niên làm sao có thể đưa nước ta cùng hòa vào dòng chảy chung thế giới đang tạo ra như thế, và tôi vô cùng dị ứng với bất kỳ va đập mới nào của nước ta với thế giới bên ngoài mà nước ta dù vô thức hay có ý thức mắc phải. Thành Đô 03 & 04-09-1990 là một sự va đập như thế tự ta chuốc lấy!.. 

Năm 2006 là năm nước ta đã trải qua 20 năm đổi mới, hồi sinh thay da đổi thịt ở mức đáng kể, đủ sức đứng lên đi bằng đôi chân của chính mình, đủ trải nghiệm để tìm chọn con đường phải đi của chính mình trên thế giới này! Nhìn lại, có thể nói đấy là 20 năm phát triển ngoạn mục nhất của nước ta trong toàn bộ lịch sử 43 năm đầu tiên của đất nước độc lập thống nhất cho đến hôm nay!.. Đất nước bắt đầu có những bạn chiến lược chìa tay ra với mình. Trong khi đó kẻ thù chiến lược cũng mới chỉ đang ở thời kỳ mới thoát ra khỏi cái vỏ trứng, chưa đủ lông đủ cánh [Đương nhiên, hồi ấy trong bài tôi không thể viết toẹt ra như thế về Trung Quốc vì những lý do đối ngoại. Song tôi cũng viết ra rất rõ trong bài báo này, không thể hiểu nhầm: “Lần đầu tiên trong hai thế kỷ nay Việt Nam bây giờ không có kẻ thù chiến lược… … … Trung Quốc cũng phải thay đổi quyết liệt để tham gia vào dòng chảy chung này của thế giới, đưa quốc gia họ lên tầm cao mới…”] 

Có thể nói, từ sau 30-04-1975, vào thời điểm này, sự vận động tự thân của đất nước ta cùng với bối cảnh thế giới bên ngoài như vậy đã tổng hợp thành cơ hội chiến lược cho đất nước: Thời cơ vàng của đất nước! Lần đầu tiên sau 4 cuộc kháng chiến đày hy sinh xương máu! Từ đây có thể bắt đầu tất cả! Từ đây sẽ là quốc gia khởi nghiệp!.. Trong khi đó Đại hội X của ĐCSVN đang tới gần – phải làm gì đó đưa cơ hội chiến lược này vào, làm nên nội dung quyết định của đại hội! 

Trước đó tôi đã vấp ngã đau đớn với bức thư 09-08-1995, lần này cơ hội vàng của đất nước đang sừng sững trước mặt! Chính nhận thức này thôi thúc tôi phải hành động: Cơ hội vàng của dân tộc phải được nhận thức cũng là cơ hội của ĐCSVN! Vì muốn là đảng lãnh đạo, đảng nhất thiết phải đi tiên phong trong nắm lấy cơ hội vàng này của dân tộc, quyết đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới! 

Trong “Thời cơ vàng” (09-01-2006) tôi nói thẳng: “Kẻ thù nguy hiểm nhất đối với vai trò lãnh đạo của Đảng ta là sự hẫng hụt về trí tuệ và phẩm chất so với đòi hỏi của sứ mệnh đảng lãnh đạo trong nhiệm vụ dẫn dắt dân tộc ta tiến bước thành công trên con đường chấn hưng đất nước… … Sự hẫng hụt này đang từng bước đẩy lùi đảng lãnh đạo xuống thành đảng cai trị, điều mà tôn chỉ mục đích của Đảng không bao giờ cho phép. Sứ mệnh lãnh đạo và sự tồn tại của Đảng đòi hỏi phải khắc phục bằng được sự hẫng hụt này…” 

Để làm rõ nội dung thời cơ không chờ đợi, nếu bỏ lỡ sẽ gắn liền với thách thức và hiểm họa, tôi đã cố gắng trình bày tổng hợp những bước thăng trầm của đất nước ta 2 thế kỷ nay, chỗ mạnh chỗ yếu của nhân dân và đất nước ta cần nhận thức đầy đủ, không thể một chiều đổ hết mọi yếu kém cho thực dân đế quốc, bá quyền.., nêu rõ nguyên nhân quyết định nhất dẫn đến mất nước là sự lạc hậu của chính ta, đưa ra những thế mạnh phải phát huy trong thế giới hôm nay, mục tiêu khả dỹ ngay trước mắt nhất thiết phải giành lấy… Quyết liệt đặt cả nước và ĐCSVN trước câu hỏi định mệnh: 

Hoặc là!.. Hay sẽ là!… Bí quyết đi lên là DÂN CHỦ! 

Anh Võ Văn Kiệt nhận xét: Hai chữ hẫng hụt được đấy, đụng thẳng vào tổ kiến lửa! 

Tôi bị bất ngờ, bài báo được cả nước hưởng ứng mạnh mẽ. Nó bắt đầu đi ra từ Vietnamnet, rồi Nguyễn Anh Tuấn đã làm tất cả để bài báo đến một số báo chí quan trọng – trước hết là Tuổi trẻ! Một hoạt động báo chí sôi nổi cả nước. 

Một ít lâu sau có bài dài của đồng chí Nguyễn Đức Bình, ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách công tác lý luận và tư tưởng của ĐCSVN, phê phán Thời cơ vàng. Trong những người lãnh đạo bên đảng, bên chính phủ lác đác có những ý kiến phê phán Nguyễn Trung là xét lại, phản động… 

Ngay sau khi đưa bài lên mạng, Vietnamnet xuất bản cuốn Thời cơ vàng, trong đó đăng tải kèm theo các bài báo khác nhau bàn luận sôi nôi vận mệnh đất nước. 

Đồng thời anh Chu Hảo mở máy cho nhà xuất bản Trí thức phát hành cuốn “Tranh luận để đồng thuận” với nội dung tương tự như trên, nhưng thêm bài phê phán của đồng chí Nguyễn Đức Bình. Lần đầu tiên trong một cuốn sách có sự tranh luận và phản biện nhau sôi nổi về vận mệnh đất nước. Sau này anh Chu Hảo bị đảng ủy cấp trên tiến hành kiểm thảo kéo dài mấy năm dòng, vì còn liên quan đến loạt sách được coi là “nhạy cảm” khác NXB Trí thức đã phát hành. Cuộc kiểm thảo gần đây mới xong, anh Chu Hảo đã bảo vệ được lý lẽ của mình. – Xin nói ngay tại đây: Nhà xuất bản Trí thức là một vốn quý của quốc gia. Nó là một vườn ươm gần như đơn độc, đang tìm cách mang đi các hạt giống trí tuệ của văn minh nhân loại gieo trồng trên đất nước ta trong thời kỳ vật lộn tìm đường khởi nghiệp. Lẽ ra nó phải được chăm sóc, phát huy, song tuyên giáo của chế độ toàn trị đối xử nó chẳng khác gì kẻ thù địch. Dị ứng với trí tuệ như vậy, tự nó bóc trần bản chất chế độ toàn trị! 

Giữa lúc sôi nổi của bài báo Thời cơ vàng, tôi nhận được điện thoại của anh Đặng Phong (đã mất): Có một cặp trí thức ở Tây Nguyên đã đọc bài Thời Cơ Vàng, sướng lắm! Đôi vợ chồng này đã copy ra nhiều bản và mời nhiều bạn bè cùng đọc, nhờ nhắn với tác giả khi nào vào TPHCM sẽ cố tìm cách gặp nhau!.. 

Đúng là bạn bè trong TPHCM dành cho tôi sự ân cần ấm lòng người, đến đâu chuyện cũng không dứt… Trong đó có cả cặp vợ chồng trí thức ở Tây Nguyên (Lâm Đồng). Đi giữa TPHCM trong vòng tay bạn bè, tôi như đang bay… 

Đúng lúc này sức khỏe tôi suy sụp, huyết áp không ổn định. Bạn tôi phải đưa ngay vào bệnh viện Hoàn Mỹ kiểm tra siêu âm tim và và chụp cắt lớp hệ thống tuần hoàn, Hồi ấy chụp cắt lớp còn rất hiếm ở Hà Nội, nên tại bệnh viện Hoàn Mỹ tôi được kiểm tra rất kỹ càng. Lạy trời, chỉ có suy nhược do làm việc quá tải (surmenage!)… Xong xuôi mọi việc, giấy thanh toán viện phí 6 triệu VNĐ, nhưng giám đốc bệnh viện khăng khăng không nhận. Tôi nói thế nào cũng không được, kể cả việc đưa tiền thanh toán của tôi vào quỹ từ thiện của bệnh viện. Giám đốc bệnh viện trước sau vẫn một mực: 

- Bài Thời cơ vàng của anh đã nói thay cho bọn em những điều bọn em muôn nói, phải nói! Mong anh ghi nhận đây là món quà kỷ niệm của bọn em!.. 

Trong lòng, tôi nhận thêm một món “nợ” nữa với đời!.. 

… 
Dòng đời (tiểu thuyết) 
Một cuộc phiêu lưu có bài bản, nhưng chưa biết thành bại ra sao! 

Như đã nói trên (Phần một), tôi khao khát viết sử đất nước trong quãng thời gian của cuộc đời tôi, đúng như tôi đã trải qua và nhận thức được! Muốn sống cho đúng nghĩa, thì cái gì của Ceazar phải trả lại cho Ceazar![11]

Song làm sao một mình viết sử được, thời đại ngày nay Tư Mã Thiên có sống lại cũng không làm được! Bao nhiêu cơ quan viết sử, làm sử trong cả nước còn bó tay cơ mà! 

Tôi đành chọn con đường góp nhặt những mẩu mosaic cuộc sống đất nước dựng lên bức tranh về đất nước vậy! 

Nhưng tôi tuy học văn học, song chưa bao giờ viết tiểu thuyết, thậm chí ngôn ngữ nghề nghiệp suốt cả đời người làm ngoại giao khô không khốc, chẳng liên quan gì đến văn chương. Làm sao viết được?! 

Song không nói lên suy nghĩ và ý kiến của tôi về con đường mình đã cùng với đất nước trải qua, tôi cảm thấy sẽ là có tội. Đơn giản vì quãng đường đã qua của đất nước quá nhiều đau thương, mất mát, người đi trước không nói lại để người đi sau dè chừng là thất đức! Nghĩa vụ đạo lý này lớn quá, tôi không được phép lẩn tránh! 

Kho thu thập nguyên liệu thô từ vốn sống đã sẵn sàng rồi. Bây giờ phải làm bài tập trước đã để luyện tay nghề. 

Tôi chọn viết thử một tiểu thuyết nhỏ. 
Đấy là tiểu thuyết “Hiến dâng”, dài trên 400 trang, mất khoảng 2 năm, được xuất bản lần thứ nhất năm 2000, xuất bản lần thứ 2 năm 2002, và sau đó được chuyển tải thành phim truyền hình nhiều tập trên VTV – với tên phim là “Hồi sinh”, về chủ đề đấu tranh chống tiêu cực và tệ nạn ma túy, nghệ sỹ ưu tú Hoàng Dũng sắm vai chính diện. 

Một sự cố nhỏ: Truyện đã lên phim, giữ nguyên cả nội dung và tên các nhân vật… Thế mà xem vài tập rồi tôi mới nhận ra phim được dựng từ truyện của mình, mà người làm phim không thèm xin phép tác giả! Hỏi người làm phim, cũng được thú nhận như thế. Song cũng phải nhắc nhở gay gắt một chút, mới thấy tên tác giả và tên tiểu thuyết được nêu trong các tập sau của phim. Đương nhiên tôi không màng chuyện nhuận bút, nhưng không tán thành cái nhập nhèm. 

Trong khoảng thời gian viết tiểu thuyết này việc tích lũy vốn liếng, chữ nghĩa… cho “Dòng đời” hòm hòm… 

Việc làm bài tập tạm coi là thành công, tôi bắt đầu thời kỳ lao động chết thôi. 

Viết tiểu thuyết “Dòng đời” – chạy ngược chạy xuôi đến bản thảo thứ 17 thì được xuất bản, truyện chia thành 4 tập, khoảng 1600 trang. May là có máy tính nên mới làm nổi cái việc lao động khổ sai này. Đó là năm 2006, tại NXB Văn Nghệ - TPHCM. Tính ra mất khoảng dăm sáu năm, cũng có thể là gần 10 năm kể từ khi có ý tưởng đầu tiên – nghĩa là “Dòng đời” thai nghén trong tôi từ khi tôi ý thức được nỗi đau của mình về đất nước. 

Việc đầu tiên tôi sao bản thảo nặng 1-2 kg giấy này (!) ra một số bản (soft hay hard copies), gửi các anh Nguyên Ngọc, Hữu Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Bạch Đằng, Cao Huy Thuần, Phan Đình Diệu, Trần Quang Cơ, Sơn Tùng, nhờ góp ý, và nếu được, xin viết cho vài lời bình, giới thiệu, với lời xin lỗi trước của tôi: Xin thể tất cho tôi mọi nhọc nhằn phiền toái – vì bản thảo phải đo bằng “kg” này, và tôi xin cam chịu đã phạm tội cưỡng hiếp văn chương để chuyển tải suy nghĩ của mình, vì tôi không còn cách nào khác! Sau này với anh Lữ Phương liên quan đến Lũ tôi cũng nói thực tình như vậy. Tôi nhận được hồi âm gần như đầy đủ, chỉ còn thiếu mỗi anh Nguyên Ngọc – đến nay tôi cũng chưa có dịp hỏi lại. 

Điều tôi không ngờ là sau một thời gian, anh Nguyễn Khoa Điềm mời tôi đến, cho biết: Vụ trưởng vụ xuất bản của Ban Tuyên giáo (Ban của anh Nguyễn Khoa Điềm) nhận xét không thể cho tiểu thuyết này xuất bản được, nó trái với đường lối quan điểm của Đảng... Song anh Nguyễn Khoa Điềm khuyên tôi: Chỗ nào phải lược bỏ thì chịu khó lược bỏ đi, cố mà xuất bản, nếu không thì uổng công quá! 

Sau đó tôi vác bản thảo đến anh Nguyễn Phan Hách, NXB Văn Học, Hà Nội. Thoạt nhìn gói bản thảo mấy kg giấy này chắc đã đủ ngán, anh Phan Hách hỏi tôi mấy câu rất khiêu khích: 

- Làm nghề gì? 

- Nghỉ hưu lâu rồi, không còn nghề nữa. 

- Truyện có cốt truyện không? 

- Có. 

- Có nhân vật chính / phụ không? 

- Có. 

- Có biết ngoại ngữ không? 

- Có. 

- Ngoại ngữ gì? 

- Vài thứ. 

Sau đó anh Phan Hách chỉ lên giá sách: 

- Bản thảo các loại đang nhiều như lá tre đây này!.. – hẹn sẽ trả lời sớm… 

Không chờ đợi, tôi bay vào TPHCM gặp NXB Văn nghệ. Đi đi về về vài lần, bản thảo được chấp nhận. 

Anh Nguyễn Đức Bình giám đốc NXB, chị Bích Ngân biên tập viên sau khi đọc lần đầu tiên đã fone cho tôi biết sẽ cho xuất bản, nhưng nói sẽ phải biên tập lại nhiều chỗ quá nhạy cảm! 

Tôi chưa biết chị Bích Ngân sẽ làm gì, song chỉ nghe mấy từ “biên tập lại…” đã hốt! Tôi có cảm giác: Phải chuẩn bị tinh thần bị xẻo! Bởi vì trước đó, một quyển sách của tôi viết về nghiên cứu kinh tế nước ta được NXB Trẻ, TPHCM, hoan nghênh nhiệt liệt… Tôi mừng lắm. Thế nhưng sau khi được biên tập lại để lên khuôn, tôi hầu như không nhận ra sách của mình nữa, cả cái tựa đề của bản thảo là “Dấn bước đi lên!” – hàm ý phải vượt qua yếu kém và rào cản ý thức hệ… cũng bị đổi thành “Việt Nam định hướng xã hội chủ nghĩa” (thật ra đây là một cách “lách” của NXB Trẻ) – nhưng tôi đâu có muốn viết như thế. Tôi “mặc cả” lại: Thêm cho tôi một dấu hỏi vào cái tựa của sách vậy, nghĩa là: “Việt Nam định hướng xã hội chủ nghĩa?” Được không? – một yêu cầu vô cùng tối thiểu mà, chiều tôi đi!.. 

- Tại sao anh cứ phải đòi thêm một cái dấu hỏi như thế cho tựa sách? 

- Để người đọc phải cảnh giác! Mà như thế sẽ gần với nguyên bản của tôi hơn. 

- Không thể được anh Trung ạ! 

Tôi thua! 

Trở về Dòng đời, biên tập khoảng 1600 trang bản thảo quả là một công việc khổ sai. Những chỗ chị Bích Ngân lược bỏ mạnh tay nhất là những chỗ đụng chạm mạnh quá đến vấn đề di tản, vấn đề hòa hợp dân tộc, vấn đề Trung Quốc, sai lầm về ý thức hệ… Những chỗ tôi quyết giữ, may quá đều được chấp thuận dù phải gọt nhẹ đi một chút… – có lẽ bởi vì chính chị Bích Ngân cũng đồng tình… Còn nhiều vấn đề quan trọng khác cũng phải làm nhẹ bớt đi, song nhìn chung ở mức độ tôi chấp nhận được… Những lời bình và giới thiệu cũng là những hậu thuẫn lớn cho NXB. 

Sau khi Dòng đời được tái bản đến lần thứ 3, tôi được biết anh Bình, chị Bích Ngân và cả NXB nữa bị “chiếu tướng”! NXB phải sáp nhập vào một NXB khác – thực chất là bị giải thể, anh Bình thôi làm giám đốc – thực tế là mất chức, chị Bích Ngân bị nhận xét nặng nề… Tôi mang trong lòng món nợ lớn đối với anh Bình và chị Bích Ngân. Tuyên Giáo TPHCM có bài phê phán quyết liệt Dòng đời. 

Nội dung chính của Dòng đời là những thập kỷ đầu tiên của đất nước sau khi giành được độc lập thống nhất. 

Toàn bộ bộ tiểu thuyết tập trung vào vấn đề xuyên xuốt: 

- Người đi giải phóng đất nước trở thành người chủ cai trị đất nước. Những tha hóa tự thân của quyền lực trong điều kiện như vậy sớm biến những thành những tham vọng chiếm hữu mới - ở thượng tầng kiến trúc là sự chiếm hữu tranh giành quyền lực, các tầng nấc thấp hơn biến tướng thành những hiện tượng chia chác na ná theo kiểu chia quả thực thời CCRĐ!.. 

- Thế nhưng người dân của đất nước độc lập thống nhất bây giờ đứng trước cuộc đấu tranh gian khó chưa từng có: Phải đứng lên tự giải phóng chính mình để trở thành người tự do với tư cách là chủ nhân ông của đất nước! 

Đó là thông điệp gửi đi cả nước, và cũng là kết luận được rút ra của bộ tiểu thuyết này! 

Cuộc sống đời thực của đất nước trong những thập kỷ hòa bình đầu tiên là: 

Miền Nam được giải phóng, đất nước độc lập thống nhất sau những năm tháng chiến tranh kéo dài mấy thế hệ, đặt ra những vấn đề hoàn toàn mới, với tầm vóc hoàn toàn vượt ra ngoài tầm tư duy của lãnh đạo vốn trưởng thành từ chiến tranh và khả năng của họ quản lý đất nước. Song lại thêm sự nôn nóng duy ý chí của lãnh đạo: muốn thừa thắng xông lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tế này khách quan tất yếu làm nảy sinh những mâu thuẫn và khó khăn mới không nên có thời hậu chiến. Đất nước chưa tắt hẳn khỏi lửa chiến tranh, song ngay lập tức đã phải đối mặt với những căng thẳng mới, mâu thuẫn mới. Trong khi đó không bao lâu đất nước bị căng ra mà đánh ở hai đầu bằng cuộc chiến tranh của Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc nước ta, và cuộc chiến tranh của Khmer đỏ quyết diệt hết “dzuôn” (chỉ người Việt) do Trung Quốc xúi giục ở phía Nam. Sự sụp đổ của các nước XHCN Liên Xô Đông Âu dội thêm vào nước ta những bế tắc mới về đường lối và con đường phát triển… 

Bản thân cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chứa trong lòng nó 5 – 6 cuộc chiến tranh khác. Bi kịch lớn nhất của đất nước cho đến hôm nay là ở chỗ: Trong cuộc kháng chiến khốc liệt này có một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài nhiều thế hệ, nhưng không được ý thức hệ của quyền lực thừa nhận. Vì thế, sự nghiệp độc lập thống nhất đất nước đã hoàn thành, song vết thương dân tộc tiếp tục chảy máu... Tất cả những gì trái với ý thức hệ, phản đối bất công, vạch ra những sai lầm yếu kém… đều bị đẩy thành thế lực thù địch để đối xử, thậm chí để đối kháng, hòa hợp hòa giải dân tộc bị coi là húy kỵ… Trong lòng dân tộc vết thương cũ chưa lành, đã xuất hiện những vết thương mới, rạn nứt mới… 

Dòng đời đã dựng lại bức tranh toàn cảnh như thế của đất nước qua những thân phận của mỗi con người trong mọi tầng lớp nhân dân, ở mọi địa phương từ Bắc chí Nam thời hậu chiến. 

Trong những ngày đầu tiên sau 30-04-1975, đại tá Phạm Trung Nghĩa từ Hà Nội bay vào trong Nam thăm em trai mình tại trại cải tạo – đại tá quân đội CHVN Phạm Trung Lễ. Đây là cuộc đoàn tụ đầu tiên sau 30 năm gia đình tan tác cùng với sự chia cắt đất nước. Cuộc hàn huyên da diết giữa hai anh em sớm bị cuộc tranh luận nẩy lửa giữa hai người với nhau đánh bật. Phạm Trung Lễ quyết liệt với anh mình: 

- Đất nước đã thắng cuộc chiến tranh này, nhưng anh chưa thắng được em! Anh sai rồi!... 

Trong khi đó ngoài đời, con gái Lễ bị hải tặc hãm hiếp và giết chết trên đường đi di tản, gia đình Lễ tan nát… 

Gia đình má Sáu Nhơn là nhà tư sản Huỳnh Tấn Nhơn nổi tiếng Sài Gòn – cơ sở của cách mạng ngay từ sau ngày 23-09-1945 cho đến ngày giải phóng. Con rể má là thiếu tướng quân đội cách mạng Lê Hải, nổi danh trên các chiến trường Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh đồng bằng miền Đông Nam Bộ. Con gái má – vợ tướng Lê Hải – bị địch giết cả hai mẹ con trong trận càn Củ Chi. Con trai cả của má là cán bộ tập kết ra Bắc từ 1954… Nhưng ngay sau 30-04-1975, gia đình má và 3 con trai má ở lại Sài Gòn – đều là những nhà kinh doanh thành đạt – tất cả đều bị cải tạo tư sản. 3 gia đình con trai má quyết vượt biển di tản, người anh trai cả (cán bộ tập kết ra Bắc) can ngăn thế nào cũng không được. Ngay trong đêm sau khi tiễn 3 gia đình các con trai mình vượt biển đi di tản, má Sáu Nhơn quay về nhà lấy ra bản Tuyên Ngôn độc lập in litô chữ viết tay má đã cất giấu từ 1945 đến nay, xé toạc… Má toan ném vào xọt rác, nhưng ngẫm nghĩ hồi lâu, má lại gói ghém cất vào chỗ cũ… Nhiều năm sau, trước khi lâm chung, má gọi cháu đích tôn của mình, Huỳnh Thái Vũ, trao tận tay bản Tuyên Ngôn bị xé, dặn dò: 

- Cháu thay mặt các em các cháu mình họ Huỳnh nhà ta, bảo nhau cha truyền con nối giữ bằng được bản Tuyên Ngôn bị xé này! Đây là văn tự của nhân dân đòi nợ chế độ! Dứt khoát không được đưa vào viện bảo tàng!.. 

Trong đại gia đình họ Phạm của đại tá Phạm Trung Nghĩa ở Hà Nội bi kịch tiếp theo bi kịch. Đại úy Phạm Trung Nam, cháu ruột gọi ông Nghĩa là chú, hy sinh trên chiến trường Siêm-riệp trong cuộc chiến đánh bè lũ diệt chủng Polpot. Ông chú ruột của anh em ông Nghĩa, nhà tư sản Phạm Trung Học, ngày càng thất vọng với chế độ mới... Ông để lại chúc thư: …Cái giá phải trả cho độc lập thống nhất đất nước lớn quá, mà thành quả vẫn không trọn vẹn, đất nước vẫn nghèo và bị uy hiếp tiếp mọi bề. Gửi gắm vào niềm tin đi với Đảng nhân dân ta sẽ có tự do, đất nước ta sẽ hạnh phúc, nhưng hóa ra bị lừa, lần bị lừa đau đớn nhất trong đời!.. Các con cháu hãy nhớ lấy bài học này… 

Bản thân đại tá Phạm Trung Nghĩa cùng với thủ trưởng Viện nghiên cứu chiến lược quân sự của mình – thiếu tướng Lê Hải – được giao nhiệm vụ tổng kết 4 cuộc kháng chiến. Nhưng với những đánh giá khách quan và trung thực 4 cuộc chiến tranh đúng như nó đã diễn ra, cả hai ông bị quy kết là phản động. Tướng Lê Hải mất chức và Viện bị giải tán, đại tá Phạm Trung Nghĩa – tác giả chính của báo cáo tổng kết – chỉ còn cách một sợi tóc để nhận án tử hình.., nếu không có sự phá án kiên cường của sỹ quan tình báo đại tá Nguyễn Thạch! 

Nhưng sức sống của đất nước là bất diệt. Vượt lên trên mọi thách thức và trở lực khó lòng tưởng tượng nổi do chế độ và hoàn cảnh khách quan gây ra, các con cháu hai họ Phạm – Huỳnh vẫn tìm cách mở đường sống cho chính mình và cho đất nước… - trên mặt trận kinh tế, và trên mặt trận dân trí… 

…Dù rằng Yến – vợ liệt sỹ Phạm Trung Nam – có lúc phải kêu lên: Chết thì chết, nhưng quyết không để cho sự hy sinh của chồng ta bị phản bội!.. 

…Dù rằng Huỳnh Thái Vũ, cháu đích tôn của má Sáu Nhơn, phải nói thật với lãnh đạo Thành phố khi trao bản sao bản Tuyên Ngôn Độc lập bị xé: “…Đồng chí ạ, đảng trong tim tôi và đảng ngoài đời hôm nay là 2 đảng khác nhau mất rồi!..” 

Trên bàn thờ gia tộc của họ Phạm và của họ Huỳnh bây giờ đều thờ Bản Tuyên ngôn Độc Lập bị xé và chúc thư Phạm Trung Học. 
Những dòng cuối cùng trong 4 tập truyện của bộ “Dòng đời”: 

Đón Tết đến cùng với chồng vừa mới thoát chết trở về từ trại biệt giam Thạch Thất, bà Phạm Trung Nghĩa nói với chồng: 

- Anh Nghĩa ạ, anh và các đồng chí của mình từ nay phải bước vào cuộc chiến đấu mới gian khổ chưa từng có!.. 

- … 
Cho đến hôm nay (11-05-2018), viết đến đây tôi vẫn cứ phải tự hỏi mình: Thông điệp của vợ đại tá Phạm Trung Nghĩa nói với chồng mình như thế đã đủ rõ chưa? 

Tôi không muốn than vãn: Nước đã độc lập, dân chưa có tự do, còn người chiến thắng đã trở thành ông chủ của đất nước mất rồi!.. 

Tôi muốn giục giã: Nước đã độc lập, bây giờ nhân dân ta phải tự đứng lên giải phóng chính mình thành người tự do! 

Nhưng trong Dòng đời mà viết toẹt ra như thế, có lẽ chị Bích Ngân sẽ phải liếc dao thật sắc và “xẻo” nốt! Hoặc là “Dòng đời” sẽ không bao giờ ra đời! 

Không biết thông điệp của vợ đại tá Phạm Trung Nghĩa đã đủ rõ chưa!?.. Tôi đã viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần mấy câu cuối cùng này, để lách! 

Riêng tôi thấy chua sót lắm và lo lắng: Đã đi qua 4 cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt rồi, mà cuộc đấu tranh khó nhất của dân tộc vẫn đang ở phía trước! Tính sao đây!.. 

… 
Lũ (tiểu thuyết) 

Đấy là bộ tiểu thuyết thứ hai, bộ tiếp theo của bộ “Dòng đời”. 

“Lũ” được viết xong và đưa lên mạng viet-studies.net của anh Trần Hữu Dũng năm 2012, ai muốn đọc thì đọc. Đơn giản vì tôi viết lách như vậy không thể có cửa để NXB nào trong nước dám in. Anh Tống Văn Công và anh Nguyễn Khắc Mai viết lời giới thiệu. 

Truyện lang thang trên mạng, thì anh Lê Xuân Khoa mail cho tôi: Nên cho in ra ở Mỹ để ai không lên mạng cũng có thể đọc được. Tôi cảm ơn nhã ý của anh Lê Xuân Khoa: 

Truyện đã lên mạng rồi, nên nó trở thành tài sản chung của người đọc mạng. Nếu anh thấy nên in ra sách, tôi rất cảm ơn và hoan nghênh, tùy anh lựa chọn NXB và quyết định. Tôi chỉ đề nghị (a)giữ đúng như nguyên bản, (b)tôi không lấy tiền nhuận bút để hạ thấp giá của sách, dễ cho bạn đọc… 

Anh Lê Xuân Khoa và tôi vốn quen biết nhau đã lâu, từ khi IDS còn tồn tại và anh Lê Xuân Khoa muốn cùng hợp tác với IDS một số đề tài – chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục. Tiếc thay mong muốn hợp tác không thành, vì những điều kiện trong nước chưa chín muồi. Tôi rất cảm kích, vì anh Lê Xuân Khoa có nhiều khó khăn về sức khỏe mà vẫn quan tâm đến “Lũ”. Cuối cùng, anh Lê Xuân Khoa đã tìm được NXB Tre xanh – USA ISBN: 978-1-5196-5365-7, nxbtrexanh@gmail.com. Tôi đã đọc lại và chỉnh sửa cập nhật – vì những diễn biến trong nước và trên thế giới càng về sau càng quyết liệt. Truyện được xuất bản năm 2015, theo đúng những gì tôi yêu cầu. Một lần nữa xin cảm ơn nhiệt tình của anh Lê Xuân Khoa và NXB Tre xanh. 

“Lũ” đề cập tiếp “Dòng đời” tình hình đất nước khoảng 2 thập kỷ gần đấy nhất: thời kỳ chế độ toàn trị và dối trá lên ngôi, tham nhũng trở thành cướp – chỗ này chỗ khác đã gây xung đột cục bộ với dân, trấn áp gia tăng, đạo đức văn hóa xã hội xuống cấp chưa từng có, môi trường trong cả nước bị tàn phá, hệ thống đảng và hệ thống chính trị bị lũng đoạn nghiêm trọng, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện, trong khi đó bên ngoài thì Trung Quốc coi như đã hoàn thành trên thực tế việc chiếm và quân sự hóa Biển Đông, ngày càng đẩy mạnh can thiệp quyền lực mềm, thế giới đã sang trang đi vào thời kỳ vận động mới – đang dấy lên những biến động chưa từng có và khó lường!.. 

Trong một số bài viết của mình nhiều năm qua, tôi coi đây là thời kỳ đất nước mạt vận kể từ sau 30-04-1975! 

…Không gian và thời gian của đất nước trong “Lũ” là thời kỳ ra đời và hoành hành của chủ nghĩa tư bản hoang dã ở nước ta, vào lúc quyền lực đảng đẩy đất nước rơi vào chế độc tài độ toàn trị, nguy cơ đất nước sụp đổ và bảo loạn ngày càng tích tụ. Chính thực trạng đất nước nêu trong “Lũ” này ở ngoài đời sau này đã dẫn tới thư ngỏ ngày 28-07-2014 của 61 đảng viên lão thành, cảnh báo đanh thép ĐCSVN và lãnh đạo của nó phải thức tỉnh. 

…Một trong những cái nôi của chủ nghĩa tư bản hoang dã ở nước ta trong không gian và thời gian của “Lũ” là “cái tổ chấy” Cường đá, lúc đầu chỉ là một cái ổ thông tin của thế giới ngầm. Với triết lý buôn quan hệ, nắm đất đai, ta sẽ nắm tất cả! – cái tổ chấy Cường đá trở thành một trung tâm, một thế lực lũng đoạn Sài Gòn. 

Từ một kẻ du thử du thực trong xã hội, không nghề nghiệp, đường cùng đi làm phu khai thác đá, Cường đá dần dà thôn tính được cả mỏ đá và vợ con của chủ mỏ, còn chủ mỏ bị loại khỏi vòng chiến “…trong một cái chết vì tai nạn lao động!...” – đất đá không có miệng để cải chính. 

- Mấy núi đá tao còn bạt sạch trơn! Đừng có thằng nào muốn sống mà đụng vào tao!.. 

Đấy là câu nói cửa miệng gần như hàng ngày của Cường đá, vừa để uy hiếp đối tác, đối thủ hay bất kỳ ai đứng trước mặt y, vừa để xả nỗi khát vọng như thiêu như đốt muốn làm một bố già, một playboy, muốn chinh phục đời – vì cần thỏa mãn nhục dục và mọi thèm muốn khác đã đành, song quan trọng hơn thế là muốn trả thù đời!.. Ác nỗi, trời không cho Cường đá có con. Để thỏa chí của mình, Cường đá đem hết tinh lực và mọi yêu quái của mình dạy bảo, vun đắp cho đứa con dượng: Hai Điểu. 

Ngấm máu anh chị của bố dượng, học xong trung học, đốt sách, mổ lợn liên hoan chia tay bạn bè, Hai điểu thách đố: 

- Tụi bay khao khát thi vào đại học, tao chọn con đường đốt sách, xem ai thành đạt hơn ai! 

Với cái choòng sắt và cuốc xẻng trong tay, cùng với cái xe chở cát sỏi bố dượng bao, hổ tử Hai Điểu mau chóng vượt lên hổ phụ. Nứt mắt vào nghề, Hai Điểu nhanh chóng trở thành trùm một đội quân “xe vua” siêu trường siêu trọng, chuyên chở vật liệu xây dựng hoặc các phế thải, băm nát đường xá Sài Gòn và mấy tỉnh chung quanh, sẵn sàng nghiến bẹp xe cộ hay người đi đường không biết tránh nó… Có tiền, Hai Điểu thuê thầy một lúc quyết học cho mình bằng được 2 bằng đại học luật và quản trị kinh doanh, để chiến đấu có bài bản. Miệng nói tay làm, Hai Điểu mau chóng khuất phục cái ban quản trị cao ốc Skyline toàn đám mũi lõ nói tiếng Việt như ranh (Hai Điểu), trở thành nhân vật quyết định của dự án này. Cái máu hoang dã của Hai Điểu lớn lên từng ngày trong cái môi trường xã hội cúi đầu trước dối trá, đồng tiền và quyền lực. Chỉ có cái tiếng Anh éo éo Hai Điểu ghét cay ghét đắng, vì không làm chủ được! 

Một bên là Cường đá: quyết đưa con mình ngoi đến một vị trí nào đó ở cấp Trung ương của Đảng, để bản thân mình có thể vênh mặt với đời là người thuộc tầng lớp trên cùng của đất nước, cố xóa đi cái ký ức Cường đá phu mỏ ngay trong nội tâm của mình. 

Một bên là tha hóa của quyền lực Đảng: nhìn thấy ở Hai Điểu một tài năng trẻ từ thành phần giai cấp lý tưởng – như nêu trong lý lịch trích ngang khi kết nạp đảng viên, phải sớm đưa vào Đảng để thay máu cho Đảng! 

Cả hai gặp nhau ở Hai Điểu. 

Tuy nhiên, sự giao cấu giữa tư bản hoang dã và tha hóa quyền lực Đảng lại đẻ ra một Hai Điểu không như cuộc làm tình này mong đợi. Hai Điểu có lần đã nói thẳng với bố dượng của mình và với người đỡ đầu muốn dắt mình vào hàng ngũ quyền lực Đảng: 

- Con nói thật cho các bố biết nhé, làm vua mà vua không có gì để trao đổi, vua cũng không hơn gì mõ! Nếu mõ có cái vua cần, thì vua cũng phải gọi mõ bằng anh! 

Nhưng Cường đá và quyền lực đảng tha hóa vẫn không buông tha cho Hai Điểu. 

Về phần mình, trước sau Hai Điểu cũng quyết không chịu khuất phục! 

Trong con mắt của Hai Điểu, đất nước này làm gì có vua, chỉ có các “VIP” được Hai Điểu đánh số 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10.., thế thôi – một hiện tượng mà ngoài đời anh Nguyễn Văn An có lần đã công khai gọi cả đội ngũ “VIP” này là vua tập thể! 

Hai Điểu giải thích cho bố mình: 

- Ba ơi, máu bốp chát như con, tội gì ép xác vào một cái ghế!.. “Làm quan hệ, ăn quy hoạch” là 6 chữ vàng của con đấy ba ạ! Chẳng ghế nào so được. “Đất đai sở hữu toàn dân và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa” là vũ khí số 1, lại thêm cái lệnh miệng có nhãn mác VIP, con vô địch! Bây giờ con quy hoạch cả người!.. Lần lượt các VIP này đến VIP kia là quân cờ của con, có thưởng có phạt phân miêng đàng hoàng… Làm thái thượng hoàng của các VIP, thì có thể con sẵn sàng.., nhưng ghế thì con không màng! Con muốn làm lịch sử. Con là lịch sử!.. 

Buôn quan hệ như thế, Hai Điểu lần lượt đánh số và đi săn các “VIP”, chinh phục một lúc 7 công ty con của tập đoàn quốc doanh VINACONS mà lại được hàm ơn cứu nhân độ thế và được phong anh hùng lao động, lật đổ tập đoàn Năm Hồng đã từng đủ quyền lực bức tử một cán bộ cao cấp, thôn tính ngân hàng SagoBank.., đánh đâu thắng đấy, chỉ đâu chết đấy… Nhưng trước sau Hai Điểu dứt khoát từ chối không tham gia vào danh sách cán bộ nguồn để đưa vào Đại hội đảng… 

Chỉ có mỗi cái trường đại học nghĩa thục PH của đám con cháu hai họ Phạm – Huỳnh là cái pháo đài mà Hai Điểu đến nay không làm sao chinh phục được – nhưng không đội trời chung, trước sau quyết phá bằng được!.. 

Yến (vợ liệt sỹ Phạm Trung Nam trong Dòng đời) đặt ra một cái tên chung cho tất cả những tập đoàn của chủ nghĩa tư bản hoang dã: “Nhóm đồng tiền ướt!” Vì những nhóm này ở nước ta đang trong giai đoạn vơ vét và làm giầu nhanh quá, tiền vào tay họ in ra chưa kịp khô, nên ngoài bản tính vơ vét ra, họ hẫng hụt và hoang dã về mọi mặt! 

Là người chị lớn của anh em con cháu hai họ Phạm – Huỳnh, Yến là linh hồn của tập đoàn PH. Song vì nhiều lẽ không thể xưng danh là tập đoàn – trước hết là để tránh hút đạn của quyền lực! Tập đoàn không xưng danh PH quyết đương đầu với nhóm đồng tiền ướt trên 2 mặt trận: Kinh tế và giáo dục! 

Phương thức và triết lý kinh doanh của tập đoàn PH trở thành mẫu mực của các doanh nghiệp khởi nghiệp vì lòng tự trọng của bản thân, sự phục hưng của quốc gia, và lòng tự hào dân tộc. Tập đoàn PH là một trong những trung tâm kinh tế năng động, cùng với tầng lớp doanh nhân mới trong cả nước đóng góp vào quá nửa GDP quốc gia. Trường đại học nghĩa thục PH là cái nôi đầu tiên của một nền giáo dục mới đất nước ta nhất thiết phải có, để đổi đời và tồn tại được trong thế giới hôm nay. 

Phe đồng tiền ướt có hậu thuẫn hùng hậu của chế độ độc tài tòan trị và mọi tha hóa của các loại hình quyền lực vật chất và tinh thần trong xã hội, và… - những đồng tiền bẩn từ bên ngoài... 

Tập đoàn PH chỉ có các bậc cha mẹ mình làm chỗ dựa. Đó là các bậc lão thành đã bỏ xa cái nấc thang thất thập cổ lai hy, nhưng còn nguyên vẹn nhiệt tình yêu nước và các giá trị đạo đức đã làm nên chính con người họ. 

- Tập đoàn PH còn có gì nữa? 

- Trí tuệ, sự thôi thúc của tự do, và truyền thống đạo đức và văn hóa của gia đình! 

Hiển nhiên giữa đồng tiền ướt và PH như thế là một cuộc chiến không cân sức. 

PH dốc toàn lực giành được chiến thắng cuối cùng, kể cả phải trả giá hy sinh tính mạng (Quân – chồng của Bảo Vân, bị đoàn xe vua của Hai Điểu giết để uy hiếp): Thành lập được trường đại học PH đúng với chuẩn mực nghĩa thục cả về tính chất và nội dung giảng dạy của trường, thu hút được về mình những tri thức và kiến thức hiện đại của văn minh nhân loại. Song thành trì văn hóa này đang đứng trước nguy cơ thất thủ có thể tính được bằng giờ, bằng ngày… 

Trong cuộc sống khắc nghiệt như vậy của đất nước, một ánh sáng mới manh nha trên vòm trời... Các hậu duệ của con cháu hai họ Phạm - Huỳnh cùng với đồng lứa trong cả nước nỗ lực mở ra cho đất nước một chân trời mới trên con đường của xã hội dân sự. Họ muốn dấn thân cho cuộc đời đáng sống họ mong muốn cho cả nước. Trên con đường này, tai ác thay – hay là thử thách của đời? – Vi Thanh, người yêu của Phạm Trung Trung Nam và con dâu tương lai của Yến, không may bị bạo bệnh ung thư, sự sống chỉ còn được tính bằng tuần, bằng tháng. Nhưng Vi Thanh đã ngoan cường đến giờ phút cuối cùng, đã cùng với người yêu của mình và bạn bè cùng trang lứa cả nước dấy lên vòng tay đoàn kết trong chống bạo bệnh ung thư. Một luồng sinh khí mới đánh thức thế hệ trẻ cả nước… Một xã hội dân sự mới của đất nước dình thành lên vóc dáng đầu tiên!.. 

Trong khi đó, ngoài chức năng là chỗ dựa tinh thần cho con cháu minh, tuổi tác ngày càng bó tay thế hệ lão thành của hai họ Phạm – Huỳnh. Ngày đêm họ chỉ còn lại sự dày vò không buông tha về thân phận đất nước. 

Bi kịch của tướng Lê Hải là: 

Cả một sự nghiệp cách mạng ông đã từng cống hiến trọn đời mình từ lúc chống lại chế độ thực dân pháp đang còn thống trị đất nước, cho đến lúc chỉ còn gang tấc ông sẽ phải bước lên vành móng ngựa của quyền lực tha hóa – chỉ vì ông bảo vệ đến cùng thành quả cách mạng và quyết không phản bội mọi hy sinh, tổn thất của dân tộc… Thế nhưng một sự nghiệp như thế của dân tộc và của chính ông đang bị phản bội! 

Dằn vặt mình đến hơi thở cuối cùng trước thực tế ác nghiệt này: “Đây là sự phản bội của quyền lực tha hóa? Hay là đầu hàng? Mà đầu hàng cũng là phản bội!.. Hay đây là hiện tượng bán nước!?”.., Tướng Lê Hải viết trong di chúc của mình: “…Đất nước độc lập thống nhất bốn thập kỷ nay rồi, mà lòng dân chưa thu về được một mối, quốc gia vẫn nghèo hèn so với thiên hạ và thách thức… Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội đã thất bại, và chỉ còn là thứ ngụy trang cho Đảng Cộng Sản Việt Nam với tính cách là lực lượng chính trị độc nhất tự cho mình quyền đứng trên Hiến pháp cai trị đất nước! Đã đến lúc cả nước phải một lòng đứng lên giành lấy những quyền tự do dân chủ của chính mình!.. …Trước nhân dân, trước đất nước, trước vong linh các đồng chí và đồng đội đã hy sinh, tôi xin cúi đầu nhận phần tội của mình trong đấu tranh thất bại chống lại sự tha hóa của Đảng, nên đất nước mới phải chịu bao điều cay đắng hôm nay…” … … … 

Không biết vong linh tướng Lê Hải có được dịu lại phần nào hay không, khi ông Phạm Trung Lễ từ Mỹ bay về viếng vong ảnh ông?.. 

Ông Phạm Trung Lễ trịnh trọng mặc lại cho mình bộ trang phục đại tá Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, trang nghiêm trước vong ảnh ông: 

- Xin kính cẩn vĩnh biệt tướng Lê Hải! 

Giữa hai quân nhân này của hai bên chiến tuyến một thời đẫm máu dân tộc mấy thế hệ, từ lâu trong lòng họ chỉ còn lại nỗi đau chung về thân phận quốc gia! 

Đại hội Đảng càng đến gần, Yến càng ra sức cùng với đội ngũ trí thức chân chính cả nước vận động, thuyết phục lãnh đạo Đảng phải xúc tiến cải cách chính trị, để đổi đời Đảng thành đảng của dân tộc và cứu nguy đất nước… Yến xếp hết mọi việc làm ăn lại. Không hề tiếc công tiếc sức. Kiên trì, nhẫn nại thuyết phục từng người!.. 

Giữa lúc Yến tại Hà Nội thuyết phục đại diện lãnh đạo đảng phải chấp nhận cải cách chính trị cứu nước, trường đại học PH ở TPHCM bị công an vu cho tội họp mitting chống Trung Quốc, bắt giam con trai Yến Phạm Trung Trung Nam và đánh chết trong tù! 

Tin dữ đến, Yến hét lên giữa trời: 

- Polpot đã giết chồng ta! Hải tặc giết em ta! Hôm nay công an cộng sản giết con ta! Trời ơi sao chúng mày ác thế!.. 

… 

Cả nước oằn lên!.. 

Toàn bộ những nỗ lực của hai họ Phạm – Huỳnh và con cháu họ 4 thập kỷ nay muốn phục thiện cái đảng thống trị đất nước đã tha hóa ruỗng nát và mong cứu vãn đất nước. 

Quyền lực tha hóa đã đáp lời: Giết chết Phạm Trung Trung Nam! 

Đây chính là thông điệp của “Lũ”! 

Thưa các người, về “Lũ”, xin hãy vứt bỏ hết cho tôi mọi trói buộc của nghệ thuật! Tôi không phải là người của nghệ thuật! 

Tôi xin tất cả các người! Cả hai phía, kẻ cai trị cũng như người bị trị, hãy nghe cho thấu thông điệp của “Lũ”! 

Không phải chỉ có đất nước đang phải oằn mình lên chống cái ác! Trên đầu tổ quốc chúng ta là cả một thác lũ “vấn đề Trung Quốc” – một vấn nạn của cả thế giới – đang lăm le đổ ập vào đất nước ta! 

… 

Viết xong “Lũ”, trong đầu tôi đã hình thành “Sóng thần” – như một tiến triển của tự nhiên: Dòng đời > Lũ > Sóng thần. 

Thế nhưng từ 6 năm nay, loay hoay nhất là từ 3 năm nay, tôi cắn bút, không viết được chữ nào – mặc dù từ những suy nghĩ và lý lẽ, từ những dự báo, mong ước trong các bài tôi đã viết ra.., có lẽ đã đủ ý để viết tiếp bộ cuối cùng của trilogy này. Nhưng tôi vẫn chưa sao hình dung và dự báo nổi cái gì hiện thực nhất sẽ đến với nước ta sau “Lũ”!? 

Khó hơn nữa: Nhân dân ta, đất nước ta có quyền và có khả năng lựa chọn tương lai cho mình không!? 

Trong lòng ngổn ngang trăm ngàn nỗi lo… 
[11] Điển tích trong kinh Phúc Âm. 

[1] Tham khảo: 

[2] Bỏ lỡ cơ hội lớn lần thứ nhất là ngay sau 30-04-1975, lần thứ hai là khi các nước LXĐA sụp đổ, lần thứ ba là chậm chân trong các vấn đề gia nhập ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, và gia nhập WTO. 

[3] Tham khảo: Nguyễn Trung, Đại hội XII, một thất bại chung của Việt Nam! 

http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_DaiHoiThatBai.htm 

[4] Tham khảo: Bộ Chính trị kết luận về khai thác bauxite đến 2015 

https://www.tienphong.vn/xa-hoi/bo-chinh-tri-ket-luan-ve-khai-thac-bauxite-den-2015-159234.tpo 
[5] Tìm xem: Nguyễn Trung – thư ngỏ 18-07-2016http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_ThuNgoQuocHoi.htm 


[7] Cũng tại Sơn La, cách cái hồ thủy điện giết người này vài chục cây số, chúng tôi đến thăm một xí nghiệp khởi nghiệp của mấy thanh niên doanh nhân từ xuôi lên đã tốt nghiệp đại học và sau đại học: Sản xuất than từ lõi ngô bằng những thiết bị tự lắp ráp lấy và xây đặt. Khách hàng chủ yếu là các khách sạn làm đồ nướng sang trọng (babecue) trong các tỉnh miền Bắc và xuất đi Nhật, vì đặc điểm loại than này là hầu như không có khói, nhỏ, gọn, các thỏi than xinh sắn, mỗi gói than được đóng gói rất đẹp mắt – như là một hộp bánh ngọt (!) – được bầy trên bàn ăn để khách ẩm thực tự làm babecue… Sản phẩm không đủ bán, trong khi đó nông dân mấy huyện chung quanh và cả bên tỉnh bạn (phần lớn thuộc các dân tộc ít người) có nguồn thu nhập mới đáng kể là thu gom lõi ngô bán cho doanh nghiệp này, lại bớt thêm được một chút ô nhiễm môi trường! Tôi nêu ra ví dụ này ở đây chỉ cốt nói lên: Loạn là do thể chế và chính sách, chứ không phải do không có lối thoát! 

[8] Trong những bài viết gần đây về kiến nghị cải cách chính trị, tôi nhấn mạnh đấy phải là một sự nghiệp được phấn đấu thực hiện qua quá trình học tập và tự giác của cả nước, nó không phải là một sự nghiệp của phong trào mang tính chất bầy đàn. Cách chuẩn bị và tiến hành cải cách chính trị trên cơ sở học tập như vây là yếu tố cơ bản để giành thắng lợi vững chắc, vai trò xã hội dân sự của học tập sẽ trở thành yếu tố vô cùng quan trọng mang tải quá trình cải cách đến thắng lợi cuối cùng – đúng với chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Trí tuệ của văn minh nhân loại hôm nay hoàn toàn cho phép nước ta thiết kế và thực hiện một xã hội dân sự của học tập như thế. Chúng ta không nên lựa chọn một xã hội dân sự chung chung không đáp ứng những đòi hỏi hiện nay của đất nước. 

___________________________________________________
Tôi làm “chính trị”
Những kỉ niệm và trăn trở
Hồi ký 
Nguyễn Trung 

Phần ba: Suy ngẫm 

I. Về Đại hội XII của ĐCSVN và sự lựa chọn của tôi 
Đại hội XII, theo tôi là cơ hội chiến lược thứ 5 kể từ 30-04-1975 bị bỏ lỡ: Vào lúc tình hình đất nước có nhiều vấn đề nghiêm trọng, cuộc cải cách chính trị nhất thiết phải thực hiện đã chín muồi, ĐCSVN nắm quyền quyết đinh tuyệt đối vận mệnh quốc gia lẽ ra phải tiến hành cuộc cải cách này, nhưng tại đại hội XII chỉ tập trung giải quyết tranh giành quyền lực phe nhóm. 

Tôi đã viết khá nhiều về Đại hội này trong những năm chuẩn bị Đại hội và sau Đại hội, đã đi tới kết luận: Đại hội XII là một thất bại chung của cả nước[1]. Tại đây chỉ xin lưu ý một số điều vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự trong những bài đã viết. 

Bối cảnh tiến hành Đại hội XII có 2 đặc điểm quan trọng so với những đại hội trước: (1)Tình hình đấu tranh trong nội bộ Đảng tiến tới nguy cơ phân hóa và phân rã theo chiều hướng một bên thắng, một bên thua; (2)cục diện thế giới sang trang đi vào trật tự quốc tế mới có những biến đổi quyết liệt, nhất là Trung Quốc coi như cơ bản đã hoàn thành trên thực tế (de facto) mục tiêu chiếm và quân sự hóa Biển Đông. Tình hình này đặt ra nhiệm vụ chính trị cho Đại hội XII là 

(a) phải tạo ra cho đất nước sức mạnh thống nhất với những quan điểm mới thích hợp bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia, 

(b) chủ động giành lấy vị thế mới trong cục diện thế giới đã sang trang, đưa đất nước vào thời kỳ phát triển mới. 

Song diễn tiến của quá trình chuẩn bị Đại hội, theo nhận định của tôi: Chỉ tập trung vào kịch bản giải quyết thắng / thua giữa một bên nhân danh chống tham nhũng, và một bên nhân danh bảo vệ chủ quyền Biển Đông (được hiểu nôm na là chống Trung Quốc, mở cửa đi với Mỹ!..). Cả 2 bên này trên thực tế đều bỏ sang một bên đòi hỏi cải cách chính trị và gác lại những vấn đề quan hệ quốc tế (phần nói về những vấn đề này trong dự thảo báo cáo chính trị ĐH XII thật ra chỉ là chiếu lệ cho đủ mâm đủ bát, không có gì khác với ĐH XI). 

Tôi nghĩ tiến hành đại hội như thế là một xu thế nguy hiểm, vì bên nào thắng đất nước cũng thua, bởi những lẽ sau đây: 

1. Giả định bên chống tham nhũng thắng, nhưng không cải cách chính trị có chống được tham nhũng không? – vì nguồn gốc của tham nhũng nằm trong bản chất hệ thống chính trị của cả nước, trước hết là từ trong ĐCSVN. Chống tham nhũng không phải chỉ để chống tham nhũng đã xẩy ra, trước hết nó phải phục vụ mục tiêu tối thượng là hình thành một thể chế dân chủ giải phóng kinh tế, đẩy mạnh đất nước phát triển, đồng thời từ nay trở đi có khả năng hạn chế xuống mức thấp nhất nguy cơ tham nhũng mới; tuyệt đối không được lạm dụng chống tham nhũng chỉ để mỵ dân và củng cố quyền lực của chế độ toàn trị. 

2. Giả định bên chống Trung Quốc thắng, nhưng giữ nguyên hệ thống chính trị và tình trạng tham nhũng như đang diễn ra, làm sao đất nước có thể phát triển lành mạnh và thắng được những âm mưu của Trung Quốc? Chống như thế là thật hay giả vờ? 4 cuộc kháng chiến đẫm máu đã phải trải qua, 43 năm độc lập vừa qua với bao nhiêu kinh nghiệm cay đắng, tất cả chẳng lẽ vấn chưa đủ để dứt bỏ cái lối tư duy theo ai / chống ai, đất nước vẫn chưa đủ lớn để khai phá và quyết đi con đường tự khẳng định chính mình hay sao? 

3. Bên nào thắng, đất nước cũng yếu đi, vì thiếu sức mạnh thống nhất của cả nước, còn đảng nắm quyền vẫn tiếp tục lối mòn của chế độ toàn trị. Trong thế yếu như vậy, dù bên nào thắng Trung Quốc vẫn có thể dễ dàng thao túng và can thiệp sâu hơn nữa. 

4. Nếu để cho ngọn cờ chống tham nhũng hay ngọn cờ chống Trung Quốc trở thành công cụ mỵ dân, để củng cố quyền lực phe nhóm, việc nào cũng sẽ không thành, đất nước chỉ càng suy yếu, nhân dân bị chia rẽ thêm và bị đánh lạc hướng nghiêm trọng, sức mạnh đất nước tan nát, kết quả chung cuộc đều mở đường cho Trung Quốc can thiệp sâu thêm nữa. 

5. Nhất thiết nước ta phải duy trì quan hệ hữu nghị, và hợp tác bình đẳng, xây dựng, lâu dài với Trung Quốc, không thể bê nước ta đi vùng trời nào khác được! Song không phải như cách đang làm như từ sau Hội nghị Thành Đô cho đến hôm nay. Thực tế gần 3 thập kỷ vừa qua chứng minh con đường Thành Đô là thảm họa cho đất nước, đồng thời cũng làm ta mất luôn cả khả năng thực hiện hữu nghị thật, hợp tác thật với Trung Quốc! Về nhiều mặt sự lệ thuộc và phụ thuộc của nước ta hiện nay vào Trung Quốc ở mức độ vô cùng nguy hiểm. 

6. Đất nước có chế độ một đảng mà không chăm lo đổi mới thường xuyên đảng, tất yếu trở thành đảng của tha hóa quyền lực. Thực tế 43 năm qua của nước ta cũng cho thấy không cải cách thể chế chính trị để tạo ra một môi trường vận động mới của đảng, mọi nỗ lực đổi mới xây dựng đảng như đang làm chỉ là thuốc phiện giảm đau và đánh lừa mọi người, kể cả dưới ngọn cờ chống tham nhũng. Kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự là trụ cột tồn tại và phát triển của quốc gia, đó chính là thể chế duy nhất đảng phải lựa chọn làm môi trường sống và phấn đấu của mình chừng nào đảng còn muốn giữ vai trò lãnh đạo đất nước. Nhưng 43 năm qua Đảng không lựa chọn con đường này. 

7. Từ đại hội VI năm 1986 đến hôm nay cho thấy nhất quán: Bất kỳ một đại hội đảng nào không đề cập đến cải cách chính trị, thì dù ai hay nhóm nào lên nắm quyền cũng chỉ là “same same” mà thôi: tiếp tục củng cố chế độ toàn trị, chấp nhận nằm trong quỹ đạo Trung Quốc và ngày càng lệ thuộc hơn. Đại hội XII càng như vậy. Đại hội VI chấp nhận cải cách kinh tế, tình hình đất nước được cải thiện đáng kể, song Đảng lại quyết không cải cách chính trị, nên đã dẫn tới con đường Thành Đô hôm nay! 

8. Thời điểm Đại hội XII có một điểm tương tự mang tính bước ngoặt như thời điểm trước sự kiện hội nghị Thành Đô, song trong tình thế ngược lại. Vào thời điểm hội nghị Thành Đô lãnh đạo ĐCSVN có cơ hội quyết định, lẽ ra phải lựa chọn cho quốc gia con đường độc lập tự chủ, tự khẳng định chính mình trong thế giới này, thì lại lựa chọn chui vào quỹ đạo Trung Quốc. Tại thời điểm đại hội XII, lẽ ra đứng trước những thách thức nội/ngoại mất còn, phải quyết định cải cách chính trị để tạo ra sức mạnh quốc gia đảo ngược tình thế này, giành lấy vị thế mới phải có trong thế giới đã sang trang, thì lại tập trung lo giải quyết vấn đề thắng / thua phe nhóm, củng cố chế độ toàn trị, được ngụy trang bằng “độc lập dân tộc gắn với CNXH” và “kiên định CNML”, đành cam chịu hay cố tình chấp nhận rơi sâu hơn nữa vào bên trong quỹ đạo Trung Quốc. 

9. Cũng như ngay sau khi thế chiến II kết thúc, thế giới hôm nay đã chuyển sang một giai đoạn mới khác hẳn so với trước đó. Trong cục diện quốc tế mới hôm nay, nổi lên là những đặc điểm: (a)dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình toàn cầu hóa kinh tế càng quyết liệt hơn trước về mọi mặt, xuất hiện nhiều thách thức mới chưa có tiền lệ trên mọi phương diện; (b)sự tranh giành trong cục diện quốc tế mới của thế giới đa cực hôm nay phức tạp hơn rất nhiều so với thời kỳ dẫn đến chiến tranh thế giới II, chiến tranh lạnh II đã bắt đầu với nhiều chiến tranh nóng cục bộ, mang tính đột biến - trong đó Biển Đông và Đông Bắc Á là 2 trong những khu vực tiềm tàng tranh chấp lớn với những biến động lớn; (c)mỗi quốc gia đứng trước đòi hỏi gay gắt hơn bao giờ hết phải tăng cường sức mạnh tự thân, đồng thời phải đủ khả năng giành lấy cho mình vị thế mới và liên kết mới; “America first!” của Trump chúng ta nên hiểu là “thân ai nấy lo!”. Trong một cục diện thế giới mới như vậy, Việt Nam không còn đường lùi, nếu không thông qua cải cách chính trị để giành lấy sức sống mới và con đường phát triển mới, đồng nghĩa với tự nộp mạng cho quá trình phục hưng của đế chế Trung Hoa![2]

10. Từ hội nghị Thành Đô có một diễn tiến / xu thế xuyên suốt và bao trùm đời sống đất nước: Chế độ chính trị càng tha hóa, càng xung đột và mâu thuẫn với dân, do đó càng đàn áp dân quyết liệt. Số các vụ trấn áp, các án tù trấn áp và những hành động đàn áp khác từ khóa đại hội ĐCSVN lần thứ X cho đến nay cao vọt hẳn so với trước và khắc nghiệt hơn trước, song tình hình không vì thế mà dịu đi. Ngược lại: Mâu thuẫn giữa chế độ chính trị với nhân dân đang ngày càng tăng một cách nguy hiểm, lãnh đạo đảng và nhà nước (dù cho các thành viên của nó thuộc phe nhóm nào) hầu như không có đối sách gì khác là trấn áp quyết liệt hơn nữa, vị thế của lãnh đạo do đó càng suy yếu tiếp và nội bộ càng phân hóa, với hệ quả lại càng phải “dựa” vào TQ nhiều hơn nữa để tồn tại. Do ngày càng “theo”, “sao chép” hay “nhân nhượng” TQ nhiều hơn nữa, nên một mặt đảng trì hoãn thực hiện các quyền của dân đã ghi trong Hiến pháp, mặt khác bỏ bễ nhiều cam kết đã ký kết với các đối tác chiến lược khác – nhất là trên các vấn đề dân chủ, các quyền tự do của nhân dân, vấn đề nhân quyền..! Làm như thế đảng và chế độ lại càng mất dân tiếp, lại phải gia tăng đàn áp tiếp! Cái vòng luẩn quẩn này chẳng những làm suy yếu đất nước mà còn tạo ra cơ hội cho tham nhũng tiêu cực khoảng 15 năm qua bùng phát chưa từng có, đất nước có thêm ngày càng nhiều những hiện tượng của chủ nghĩa tư bản mại bản, sự lệ thuộc vào TQ gia tăng giữa lúc đất nước đứng trước những thách thức quyết liệt của trật tư quốc tế mới. Nếu vì quốc gia và vì đảng, đại hội XII nhất thiết có nhiệm vụ phải chặt đứt cái vòng luẩn quẩn này! - 

Hôm nay phải nói: Trong 43 năm độc lập thống nhất đầu tiên trí tuệ và ý thức hệ của đảng không nhận ra 5 nguyên nhân đã tạo ra cái vòng luẩn quẩn nói trên, đó là: (a) nhiều quyền tự do dân chủ của công dân bị tước đoạt, (b) đất nước lạc hậu và tụt hậu tiếp so với thiên hạ , (c) quyền lợi, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng, (d) sự lệ thuộc của ta và sự can thiệp của quyền lực mềm TQ ở mức nguy hiểm, (e) lòng dân bất bình và không yên. Thậm chí từ hội nghị Thành Đô cho đến hôm nay, lãnh đạo đảng chấp nhận đó là cái giá phải trả để bảo toàn chế độ toàn trị được mệnh danh là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội! Vì lẽ này, đại hội XII không coi chặt đứt cái vòng luẩn quẩn này là mệnh lệnh tối cao của quốc gia trong trật tự quốc tế mới hôm nay! Nguy hiểm hơn nữa, nội dung nghị quyết đại hội XII còn nhấn mạnh phải kiên trì hơn nữa với định hướng xã hội chủ nghĩa và trung thành với CNML. 

Mười lý do trên đây khiến tôi đã 2 lần đề nghị đại hội đảng phải có cách tiếp cận khác: Làm gì cũng phải trước hết tìm cách thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của quyền lực tha hóa đang uy hiếp đất nước và trói đảng, bắt đầu từ cải cách chính trị và đổi mới đảng. Trong tình hình như vậy đại hội XII chỉ được phép có một phương án: Đất nước thắng, và đảng lành mạnh thắng để trở thành đảng của dân tộc, mở ra cho đất nước con đường phát triển mới, dứt khoát không để cho lợi ích phe nhóm thắng! Chỉ có như thế mới có thể tiếp tục được sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. 

Lần thứ nhất: Nhân dịp tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị tại Hội nghị TƯ 4 và TƯ 6 khóa XI nhận lỗi trước nhân dân và toàn Đảng về tình trạng tham nhũng đã xảy ra, tôi đã đề nghị toàn thể Bộ Chính trị tự nhận kỷ luật từ chức để làm gương cho toàn Đảng, và cam kết không ra ứng cử trở lại, song phải nhận trách nhiệm trước cả nước và toàn Đảng hoàn thành soạn thảo chương trình cải cách chính trị, đưa ra xin ý kiến nhân dân, và cuối cùng Đại hội Đảng phê duyệt, thông qua, toàn đảng thực hiện. Đề nghị này nhằm chủ động chấm dứt và loại hẳn sang một bên đấu tranh phe nhóm trong đảng, để tập trung nỗ lực của toàn đảng cho những nhiệm vụ đất nước đòi hỏi, trước hết là tiến hành cải cách chính trị[3]

Lần thứ hai: Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XII, song song với những việc đang tiến hành, tôi đề nghị nên lập nhóm ad hoc Bùi Quang Vinh – Phạm Bình Minh – Vũ Đức Đam, với toàn quyền xây dựng một phương án phản biện tổ chức đại hội Đảng theo yêu cầu tiến hành cải cách chính trị, xin ý kiến xây dựng của nhân dân, rồi đem ra Đại hội XII quyết định. Để sau Đại hội XII là mở đường cải cách chính trị do một đảng đã được đổi mới tiến hành[4]

Cả 2 lần đề nghị này, tôi mong muốn tạo ra một bước ngoặt chặn đứng tình trạng tha hóa đang đi đến phân rã của đảng và cứu nguy đất nước, bằng cách đề nghị đảng thực hiện vai trò của đại hội: mời tất cả các phe nhóm quyền lực (còn gọi là phe nhóm lợi ích) lên ngồi trên hàng ghế chủ tịch đoàn danh dự của đại hội, song đại hội đảng giao cho nhóm kỹ trị mà tôi gửi gắm vào bộ 3 “Bùi Quang Vinh – Phạm Bình Minh – Vũ Đức Đam” tạo ra một đại hội XII xoay chuyển hẳn tình thế của đảng và của đất nước, vận dụng nguyên tắc không hồi tố để giữ yên ấm mọi bề trong quá trình thay đổi quyết liệt này. Chỉ cần sự hòa giải với nhau của các phe nhóm lợi ích với tinh thần tổ quốc trên hết, phương án giao quyền cho nhóm ad hoc này hoàn toàn khả thi, khi đi vào thực hiện sẽ có sự hậu thuẫn mạnh mẽ và thống nhất của toàn đảng. Nguyên tắc không hồi tố được vận dụng thật lòng sẽ là một bảo đảm quan trọng để mở ra quá trình thay đổi triệt để này. 

Trong thâm tâm tôi đã nghĩ tới mức: Chỉ cần trong Bộ Chính trị có một nhân vật đủ lòng yêu nước, dũng cảm đứng lên đặt vấn đề với toàn thể Bộ Chính trị và đại hội: cùng nhau hòa giải trên nguyên tắc không hồi tố, quyết đứng sang một bên, quyết cùng nhau vì tổ quốc hậu thuẫn hết lòng cho nhóm ad hoc..; nếu làm được như thế, hoàn toàn có thể có một đại hội XII đúng như đòi hỏi của đảng và của đất nước lúc này. Chỉ cần có một tiếng nói như vậy thôi, trí tuệ và lòng người sẽ thu về một mối! Giang sơn sẽ thu về một mối! Đấy chính là tiếng nói phát đi hiệu lệnh: Cả nước đứng lên tiến hành cải cách chính trị theo tinh thần đoàn kết hòa giải dân tộc, tổ quốc trên hết! Đất nước sẽ hoàn toàn đủ sức khai phá con đường mới! 

Tôi đã viết cả thư riêng đến Bộ Chính trị về suy nghĩ này, giục giã sự bàn bạc trong Bộ Chính trị… 

Hay là tôi quá yêu nước mình và do đó đánh giá quá cao tinh thần yêu nước, cái tâm, cũng như trí tuệ của các phe nhóm lợi ích và các ủy viên BCT? (Hoặc cũng có thể tôi quá ngu về chính trị nên nghĩ như vậy!?) 

Rõ ràng ở đây một lần nữa sau bức thư 09-08-1995 của thủ tướng Võ Văn Kiệt, tôi lại thấy: Ảo tưởng như tôi thế này, chứng tỏ tôi chẳng hiểu tí teo gì về chính trị! Nếu thế, quả thực tôi ngốc quá, nó là bẩm sinh mất rồi! Hay là lợi ích quốc gia chẳng còn ý nghĩa gì nữa đối với đảng của chế độ toàn trị hiện nay? 

Tôi không nghĩ rằng tôi không lường được ở mức độ cần thiết nào đó sự nhạy cảm có thể xảy ra giữa ta và Trung Quốc, nếu đại hội XII quyết định thực hiện sự chuyển biến bước ngoặt này. Tôi cũng tin rằng nước ta đủ bản lĩnh và khôn ngoan để TQ không thể hiểu nhầm và cũng không cho phép TQ cố tình hiểu nhầm VN cải cách chính trị là để chống TQ! 

Tôi đã đặt ra những kịch bản khác nhau để cân nhắc mọi bề, và có đủ lý do để tin rằng dù chuyện gì nếu xảy ra – từ bao vây và cắt đứt quan hệ kinh tế, đòi nợ, gây sức ép chính trị.., đến tập hợp đám cặn bã dựng lên chế độ bù nhìn để phản đòn, đến xâm lược vũ trang.., vân vân… Song cuối cùng tôi vẫn đi tới được kết luận: Nước ta và nhân dân ta hoàn toàn trong tầm tay có thể giải quyết được mọi vấn đề xảy ra. Thực tiễn lịch sử đất nước đã trải qua thời kỳ vận mệnh quốc gia như trứng để đầu đẳng sau Cách mạng Tháng Tám, rồi 4 cuộc kháng chiến vừa qua, và từ những gì đang diễn ra trên thế giới hôm nay, tôi đi tới nhận định như vậy, chứ không phải từ không khí. 

Thậm chí tôi đánh giá: Nếu xảy ra kịch bản TQ dùng mọi bạo lực can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nước ta giữa lúc nhân dân cả nước ta quyết đứng lên tiến hành cải cách chính trị để mở ra con đường sống cho mình, TQ chẳng những sẽ thất bại như trong chiến tranh tháng 2-1979, mà còn mất luôn cả cái chính danh đang muốn tạo ra cho ngọn cờ phục hưng đế chế Trung Hoa. Và còn quan trọng hơn thế đối với chính nước ta, nếu kịch bản bạo lực này xảy ra: Con đường Thành Đô đất nước ta đã lâm vào, sẽ bị chính bàn tay TQ xóa sổ, quyền lực mềm TQ đã cài cắm sâu vào nước ta sẽ không còn đất sống, nhân dân ta từ đây sẽ trưởng thành thêm một bước quyết định, để từ đây có thể sống trong hòa bình, được tôn trọng và sẽ có thể thực hiện được hữu nghị thật, hợp tác thật với TQ như ngàn đời lịch sử nay nhân dân ta vẫn hằng mong muốn. 

Trên hết cả, tôi đã tính toán kỹ, nếu đảng và nhân dân một lòng, hoàn toàn cải cách chính trị sẽ có thể diễn ra trong hòa bình, không thế lực bên ngoài nào muốn hay dám can thiệp! Hôm nay, một sự nghiệp cải cách chính trị giải phóng sức sống của một dân tộc như ở nước ta sẽ được cả thế giới tiến bộ hoan nhênh và hậu thuẫn! Cục diện trật tự quốc tế mới và tình hình khu vực chúng ta hôm nay đang cần lắm tinh thần tự quyết đứng lên của mỗi dân tộc vì lợi ích của chính quốc gia mình để loại bỏ mọi thao túng của mọi siêu quyền lực, bởi vì hòa bình hợp tác và phát triển phải dấn thân mà dành lấy, chứ không thể ngửa tay đi xin được! – đây chính là một trong những đặc điểm quan trọng của xu thế thời đại hôm nay! 

Câu hỏi duy nhất tôi chưa có lời giải là: giới lãnh đạo của ĐCSVN hôm nay lựa chọn gì tại đại hội XII này? 

Có thể nói, tôi nhìn nhận được ở mức độ nhất định bàn cờ của đất nước. Nhưng tôi lại không nhìn được thấu đáo nội tình của ĐCSVN như tại quá trình đã dẫn tới đại hội XII vừa qua. Lại vẫn cái cú vấp cũ đã xảy ra với bức thư ngày 09-08-1995! Quả thực trước sau là tôi vẫn là một chàng ngốc, không bao giờ có năng khiếu làm chính trị. 

Tôi thất bại như vậy đối với đề nghị về đại hội XII, cái chính là vì tôi đã quá lý tưởng sức chiến đấu còn lại trong đảng và đội ngũ lãnh đạo! 

Tôi vô cùng đau lòng vì đã thất bại, song không thể buông xuôi được. 

Xin cho phép tôi nói tại đây một lần nữa và mãi mãi: 

- Quá trình vận động 43 năm đầu tiên trong đất nước độc lập thống nhất của ĐCSVN hôm nay đã được thực tế khách quan chứng minh: (a) đảng đã trở thành lực lượng thống trị quan liêu ăn bám ngày càng đối kháng với lợi ích và đòi hỏi phát triển của quốc gia, (b) dựng lên chế độ toàn trị để cai trị đất nước nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của Đảng trước hết (Điều 4), và (c) đất nước phải chịu đựng tệ nạn tham nhũng làm kiệt quệ và kéo lùi, đồng thời bị cướp mất những cơ hội chiến lược! 

- Thực tế cho thấy: 43 năm độc lập thống nhất, nhưng thành tựu đất nước đạt được quá khiêm tốn so với cái giá phải trả rất đắt. So sánh với chung quanh, đất nước vẫn tiếp tục tụt hậu và lạc hậu. Trong khi đó đất nước hầu như không được chuẩn bị thỏa đáng cho đối phó với những thách thức trong cục diện trật tự quốc tế mới! 

- Vì thế, chừng nào ĐCSVN hôm nay không chịu vứt bỏ giáo lý sai lầm để biện minh cho quyền lực đã tha hóa ruỗng nát tổ chức đảng của mình, chừng nào Đảng không chấm dứt chế độ toàn trị đang áp đặt lên đất nước, chừng nào Đảng từ chối cải cách chính trị để đổi đời chính mình và mở ra con đường sống của đất nước, chừng đó Đảng đã tự đánh mất mọi chính danh của Đảng như đã ghi trong Cương lĩnh và điều lệ của Đảng. 

- Đứng trên Hiến pháp, Đảng đã và đang trở thành kẻ tham nhũng lớn nhất nước: Tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước! Qua đó đảng hôm nay đang làm đất nước suy yếu nguy hiểm cả về đối nội và đối ngoại. Tha hóa đang làm cho đảng ngày một lao sâu thêm vào con đường đối kháng lợi ích quốc gia, với cột mốc chót phía trước là sẽ tự sụp đổ hay bị lật đổ. 

Xin những bộ não ưu tú của Đảng còn nặng lòng với dân với nước hãy thử đánh giá xem: 

- Những điều a, b, c nêu trên có phải là bản tổng kết 43 năm qua của ĐCSVN hôm nay hay không? 

- Và đúng hay sai là đảng hôm nay đang ngày càng đánh mất tính chính danh của mình – nhiệm kỳ sau nặng hơn nhiệm kỳ trước!? 

- Đúng hay sai, càng trì hoãn cải cách chính trị, đảng hôm nay càng tha hóa trầm trọng thêm và càng trấn áp dân, đất nước bị chồng chất thêm những khó khăn mới, khả năng cải cách chính trị càng bị đẩy xa vời, để ngày càng nhường chỗ cho nguy cơ bạo loạn, sụp đổ, ngày càng bất lực trước sự can thiệp của quyền lực rắn và quyền lực mềm Trung Quốc!? 

Hết lòng với Đảng và đất nước, tôi phải thẳng thắn nói lên sự thật như vậy! 

Chỉ còn lại 2 khả năng: Hoặc là tôi đúng, hoặc là tôi sai! 

Anh Nhị Lê trong một số bài viết gần đây đã phải đụng tới vấn đề tham nhũng quyền lực. Song tôi không biết, anh Nhị Lê có cùng một cách nhìn như tôi về tham nhũng quyền lực hay không!? Tôi không tin như vậy, hay là anh Nhị Lê mới chỉ dám khe khẽ chạm vào sự thật? 

Cũng vì phải nói ra sự thật như tôi đã khẳng định theo nhận thức của mình, nhiều người đã cho tôi là huyễn hoặc, là hoang tưởng; thậm chí còn cho tôi là tự diễn biến, là chống Đảng… 

Mong cả nước bàn luận! Vì Tổ quốc là của tất cả chúng ta, thuộc về trách nhiệm của mỗi chúng ta! 

…Tôi viết đến đây, được tin người bạn quý mến của chúng tôi, một trí thức lớn của đất nước với nhân cách trung thực và lòng yêu nước sâu nặng vừa mới qua đời (13-05-2018): Anh Phan Đình Diệu. 

Những nội dung tôi trình bầy trên đây, thật ra từ rất sớm anh Phan Đình Diệu đã nói trực tiếp với những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước, trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, anh Trần Xuân Bách, anh Phạm Thế Duyệt… những điều tương tự: 

- đem lý thuyết của thế kỷ 19 áp dụng vào thế kỷ 20, hệ thống XHCN của Liên Xô trước sau sẽ sụp đổ (anh Phan Đình Diệu nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng đầu những năm 1960s); 

- cần bỏ Điều 4, Việt Nam phải chọn cho mình con đường phát triển của dân chủ và nhà nước pháp quyền.., khi bàn về xây dựng Hiến pháp 1992... 

- vân vân. 

Trước Đại hội XII, trong các bài viết của mình, tôi đã đề nghị phương án cải cách chính trị, đoàn kết dân tộc, không hồi tố, (a)để bảo toàn ở mức tối đa mọi tiềm lực và sức mạnh quốc gia, (b)để có thể tập trung ý chí và mọi nguồn lực cho tiến hành thắng lợi cải cách chính trị, (c)để sớm hình thành trong thời gian ngắn nhất một thể chế quốc gia của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự, (d)mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước, kịp đáp ứng những đòi hỏi và thách thức mới rất quyết liệt. 

Trong những bài này tôi cũng đã trình bầy rõ: Khép lại quá khứ mọi chuyện của quá khứ. Song trong thể chế chính trị mới của quốc gia, nhất cử nhất động đều phải trong khung khổ của Hiến pháp và luật pháp, phải thực hiên công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình, quyền lợi gắn với nghĩa vụ. 

Có 2 vấn đề cực kỳ phức tạp: (a) nạn tham nhũng đã xẩy ra trong quá khứ, và (b) tội lỗi đã xảy ra, số cán bộ yếu kém ăn lương từ tiền thuế của dân. 
Về vấn nạn tham nhũng đã xảy ra (vấn đề a): 

Tôi không lựa chọn con đường “đã cướp của dân 1 đồng, thì phải trả lại đủ cho dân 1 đồng!” nghe rất đạo lý, nhưng không khả thi, tổng thể trong thực tiễn sẽ lợi bất cập hại và gây rối loạn mới. 

Nguyên tắc không hồi tố sẵn sàng công nhận quyền sở hữu đối với của tham đã ăn cắp/ăn cướp được trong quá khứ, nhưng trong thể chế mới của tham phải thực hiện công khai minh bạch, quyền sở hữu phải gắn liền với nghĩa vụ và nhiệm vụ: Phải làm đầy đủ mọi nghĩa vụ thuế (sở hữu, kinh doanh, sử dụng, môi trường, v… v…), các nhiệm vụ sở hữu phải làm với quốc gia theo pháp định, v… v…; riêng đối với đất đai sẽ phải có những quy định riêng – tuy không hình sự hóa, nhưng phải đúng với luật của quốc gia về sử dụng đất đai, các loại thuế và chước bạ liên quan đến đất đai và bất động sản, tìm những giải pháp đồng thuận liên quan đến đền bù đất đai, v… v… 

Nói cách khác: Nguyên tắc không hồi tố như vậy phải được thiết kế phục vụ cho thực hiện việc thu hồi lại của tham cho kinh tế quốc gia ở mức cao nhất có thể - bằng cách từ đây trở đi của tham bắt buộc phải hoạt động như một đồng vốn có quyền sơ hữu hợp pháp đúng với hiến pháp và luật pháp, làm lợi cho cá nhân và cho quốc gia. Sự nhân nhượng chính trị mang tính quyết định này trước hết nhằm (1)tạo mọi điều kiện để cải cách chính trị được tiến hành trong hòa bình và ổn định, (2)tránh được tẩu tán hay thất thoát của cải của quốc gia và toàn xã hội, (3)giảm thiểu mọi thiệt hại chung của nền kinh tế quốc dân, (4)ngăn ngừa mọi rối loạn hoặc thậm chí hỗn loạn nguy hại cho quá trình cải cách và sự phát triển của đất nước. 
Về những tội ác trong quá khứ và những cán bộ yếu kém đang ăn lương từ thuế dân (vấn đề b): 

Như trên đã nói, nguyên tắc không hồi tố tôi đề ra chủ yếu mang tinh thần không hình sự hóa quá khứ những tội ác (crimes) trong tham nhũng kinh tế. Còn mọi tội ác hình sự (criminal crimes) nhất thiết phải xử lý theo Hiến pháp và luật pháp. 

Về những cán bộ yếu kém đang ăn lương từ thuế của dân, trong những bài này tôi đã đề nghị giải pháp trên nguyên tắc: yếu kém thì phải đứng sang một bên, nhưng tạo điều kiện cho họ phấn đấu trở thành người có năng lực, hoặc chuyển ngành nghề thích hợp, hoặc về hưu hay ra khỏi biên chế với sự giúp đỡ nhất định của ngân sách, chú ý phát triển các ngành dịch vụ và dịch vụ công, hoặc một số ngành nghề kinh tế mới đất nước đang cần, để thu hút số lao động này. Nói hết nhẽ: Cải cách chính trị không được phép bỏ rơi bất kỳ một ai mặc cho số phận của họ! 

Nội dung cải cách trong hòa bình và vận dụng nguyên tắc không hồi tố như trình bày trên là kết quả tôi đánh giá những thất bại của chế độ ta trong xử lý những vấn đề hậu chiến sau Hiệp nghị Geneva 1954 và sau 30-04-1975, là những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, thành hoặc bại tôi thấy được qua sử liệu của một số quốc gia khác nhau thời chuyển đoạn trong những hoàn cảnh khác nhau, như Tây Đức và Pháp sau chiến tranh thế giới II xử lý các công ty và tập đoàn đã từng trực tiếp phục vụ chiến tranh của Đức quốc xã theo cách tạo điều kiện cho họ tham gia vào tiến trình chung phục hồi nền kinh tế quốc dân và cùng thụ hưởng những lợi ích của kế hoạch Marshall, xử lý nhân đạo thống chế Pétain đã hợp tác với Đức quốc xã.., tại Singapore thời Lý Quang Diệu mới lên cầm quyền, tại Hàn Quốc thời Park Chung-hi xử lý các công ty đã từng hợp tác với Nhật, cách giải quyết vấn đề ruộng đất ở Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật… Trong cuộc chiến tranh Bắc – Nam ở Mỹ khi kết thúc có chi tiết không được tịch thu lừa ngựa bên thua trận mà phải trả lại cho chủ sở hữu cũ để mau chóng phục hồi kinh tế. V… v… 

Những ví dụ tại các nước tôi đề cập tới trên đây là những vấn đề hoàn toàn khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Nhưng chúng đều có một câu hỏi chung là: Cách xử lý như thế nào là lợi nhất cho quốc gia và êm thấm mọi bề để sớm chuyển sang giai đoạn phát triển mới? Người trả lời được, người không trả lời được hoặc trả lời sai… Song bản thân câu hỏi này gợi mở ra nhiều điều. 

Có một chuyện nhỏ lý thú: Khi tôi làm đại sứ ở Thái Lan, tìm hiểu ngành đá quý của quốc gia này – một nghề kinh doanh rất tai quái, một lão làng người Thái gốc Hoa trong nghề kinh doanh ruby (hồng ngọc) nói với tôi: Bí quyết bắt chuột của cả đời ông ta là dụ chuột đến chỗ dễ bắt nó nhất, đừng bao giờ thò tay thẳng vào hang bắt chuột, dù là mười mươi biết nó nằm trong đó! Ông ta cho tôi bí mật lớn nhất của ông ta trong nghề kinh doanh ruby, mà ông ta chẳng lộ tý teo gì về bí mật của ông ấy cả! Tôi thấy ông lão này khôn quá, chí lý quá. Trong xử lý những vấn đề kinh tế cũng như nhiều vấn đề phức tạp khác trong cuộc sống, tôi đồng tình: Đúng là không nên đơn giản muốn bắt chuột thì cứ thọc thẳng tay vào hang bắt chuột! 

Nguyên tắc không hồi tố tôi nêu ra với Đại hội XII phần nào chịu ảnh hưởng của ông già tinh quái này. 

Nguyên tắc không hồi tố tôi đề nghị, chủ yếu tôi dựa vào triết lý ngàn xưa của ông cha ta lọt sàng xuống nia mà tôi tiếp thu được trong sách giáo khoa môn luân lý thời tôi học “enfantin”: Vua nước Sở mất cung, người nước Sở dùng!.. 

Toàn bộ những gì tôi quan sát được trong thế giới thực, đã góp phần xây dựng cách triết lý này thành kiến nghị của tôi! Tôi đúng? Tôi sai?.. Nhưng kiến nghị của tôi về không hồi tố ra đời như thế, và là như thế! 

Kiến nghị cải cách chính trị và nguyên tắc không hồi tố tôi đề nghị không được Đại hội XII chấp nhận. Hiện nay toàn đảng đang tập trung vào đại vấn đề “lò và củi”. 

Tôi xin đề ngỏ sự đánh giá của dư luận về kiến nghị của tôi, cũng như về thực tiễn đang diễn ra của vấn đề “lò và củi”. 

[Phải chăng: Vấn đề “lò và củi hiện nay đang có nguy cơ hoặc sẽ đi vào ngõ cụt, phải tìm cách thỏa hiệp, đất nước sẽ ngổn ngang tiếp trăm ngàn dở dang nguy hiểm – chẳng khác gì một cơ thể đang bị phẫu thuật mở rồi để đấy cho mọi khả năng nhiễm trùng và biến chứng; hoặc sẽ rơi vào tình thế cực đoan ác tính, với những kịch bản khác nhau khó lường, chẳng có gì yên lành hứa hẹn cho đất nước? Cả 2 triển vọng này đều khiến tôi vô cùng lo lắng. Nói nghiêm khắc: Ý thức trách nhiệm không bao giờ cho phép đối xử với quốc gia như vậy, người cầm vận mệnh đất nước trong tay hình như không hiểu điều này?] 

Tôi có nỗi băn khoăn rất lớn: Đại sự “lò củi” đang làm nức lòng không ít người, thậm chí đang được những người nhất định quạt thêm gió vào lò, chỉ chỏ thêm những củi mới, hô hào và kích động đốt củi mới… .., chuyện gì sẽ đến với đất nước sau “lò củi”!? 

- Một cuộc cải cách chính trị chăng? 

Tôi rất mong như thế, vì đây là lối thoát của đất nước ra khỏi mọi yếu kém, đổi đời chính mình để đi vào một giai đoạn phát triển mới. 

Bây giờ quyền lực tập trung trong tay chỉ mỗi một nhóm, nên hoàn toàn có khả năng thực hiện. Thậm chí tôi nghĩ rằng lãnh đạo đang hiện nay có trách nhiệm ràng buộc phải thực hiện một cuộc cải cách chính trị như thế! 

Nhưng nhìn vào Quy định 102 và 105, vào bản mẫu kiểm điểm hàng năm của đảng viên - đấy là những văn bản pháp lệnh chưa ráo mực của Đảng, và nhất là nhìn vào chính sách và quy hoạch cán bộ chiến lược như được Hội nghị TƯ 7 vừa mới thông qua, rồi đến dự luật an ninh mạng.., tôi chỉ thấy đảng đang được lên dây cót theo đường mòn, chế độ chính trị đang siết chặt nữa… 

Một khi dây cót đã nhả ra hết tầm, hầu như chắc chắn đảng lại trở về điểm xuất phát, toàn bộ hệ thống của đảng còn nguyên vẹn, độc lập dân tộc gắn với CNXH vẫn còn nguyên vẹn, trung thành với CNML vẫn còn nguyên vẹn… Như thế khả năng có một cuộc cải cách chính trị đã bị chặn đứng ngay từ các văn bản này và những sự việc đang diễn ra?! Chưa nói đến đang ngày càng nhiều việc rập khuôn theo Trung Quốc, kể cả trao đổi ý kiến và hợp tác đào tạo cán bộ cấp chiến lược!.. … Như thế có nghĩa chế độ toàn trị sẽ còn nguyên vẹn? Không đâu, như thế nó đang đối kháng quyết liệt hơn nữa đối với đất nước! 

Hay là nỗi băn khoăn của tôi là bệnh hoạn? 

Tôi không nghĩ vậy. 
Xin nêu ra một ví dụ nghiêm trọng làm dẫn chứng: 

Ngay trong khi tôi viết những dòng này, báo chí cả nước đang sôi nổi bàn luận về 3 dặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Văn Phong và Phú Quốc, sắp tới Quốc hội sẽ thông qua Luật về các đặc khu kinh tế… 

Kể từ khi công bố, tuy mới chỉ có mấy tuần thôi, song những phản ứng trong nhân dân về quyết định thành lập 3 ĐKKT và dự luật hình như còn “nóng” hơn cả khi xảy ra vấn đề bauxite Tây Nguyên và vấn đề Formosa… Một cơn sóng bất bình trong nhân dân phản đối – với mọi hình thức quyết liệt khác nhau: Từ những tuyên bố thẳng thừng vạch ra quyết định này là bán nước cho Trung quốc, cho đến những lời nguyền rủa.., những lời quỳ xuống van xin đảng, quốc hội, chính phủ đừng bán nước, những hoạt động khác!.. 

Tôi vô cùng xót xa, trong lòng không sao hiểu nổi tại sao giữa lúc đất nước đang ngổn ngang trăm bề thế này, lãnh đạo đảng và nhà nước không có việc nào đáng làm hơn hay sao, mà lại còn đẻ thêm ra chuyện nhạy cảm như vậy!? 

Tôi cố trấn tĩnh lại, xin nêu ra nhận xét có đầu có đuôi như sau đây. 

Trước hết xin điểm lại tình hình các khu công nghiệp (KCN) hiện có. 

Thông tin trên báo chí cho biết, cả nước hiện nay đã có 324 KCN và 16 khu kinh tế (KKT). Trong đó, khoảng 200 KCN đã hoàn thành và đi vào hoạt động từ hàng chục năm nay; nhìn chung mới chỉ lấp đầy được khoảng 50-60% diện tích của mỗi khu. Đến nay vẫn còn 124 KCN hàng chục năm nay chưa xong giải phóng mặt bằng, đất đai vẫn treo lại chờ, gây lãng phí lớn. Những khu công nghiệp có sản phẩm công nghệ cao gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay, dịch vụ liên kết và nâng đỡ sự phát triển của công nghiệp trong cả nước rất yếu kém… 

Ngoài việc bán tại chỗ lao động rẻ, cho thuê đất đai, bán được một số dịch vụ, tài nguyên, điện nước, thu thuế.., nhìn chung các KCN không làm được nhiệm vụ số 1 của nó là góp phần hình thành nên một nền công nghiệp quốc gia, càng không làm được bao nhiêu góp phần vào hiện đại hóa đất nước, lợi thế cạnh tranh về lao động giá rẻ đang mất dần, gây ô nhiễm môi trường và hao tổn tài nguyên ngày càng nặng nề. 

Dù là với một mạng lưới các KCN dày đặc như hiện nay, 30 năm tiến hành công nghiệp hóa rồi mà cả nước chưa có một nền công nghiệp với đúng nghĩa, cho đến hôm nay công nghiệp gia công vẫn là chủ yếu, cơ cấu công nghiệp rời rạc, kết cấu hạ tầng có quá nhiều bất cập… Nguyên nhân chủ yếu là sự bất cập của thể chế kinh tế-chính trị, bộ máy nhà nước, luật pháp, chính sách và sự thực thi luật pháp / chính sách… Nạn quan liêu và tham nhũng đã bóp nghẹt sức sống của các KCN, mặc dù công sức và tiền của bỏ ra rất lớn, tài nguyên đã tận dụng và đem bán đến mức cạn kiệt. Hệ quả: các KCN không thể trở thành động lực để phát triển nội lực của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Cho nên đến hôm nay, sự phát triển của nền kinh tế quốc dân chủ yếu vẫn là nền kinh tế của công nghiệp gia công và phải dựa vào FDI là chính. 

Vấn đề sống còn đối với kinh tế đất nước hiện nay là làm gì (a)nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và (b)đổi mới công nghệ trong toàn bộ nền công nghiệp của đất nước? 

Đỏi hỏi cấp bách nhất của nền kinh tế quốc dân hiện nay là giải phóng mọi ách tắc, và ưu tiên huy động mọi nguồn lực để giải quyết 2 vấn đề nêu trên (a, b). Đấy là cách mang lại sức sống mới cho các doanh nghiệp trong cả nước – nhất là trong các khu công nghiệp hiện có, và đồng thời bám sát những đòi hỏi mới của sản xuất và kinh doanh thời CMCN 4.0. 

Hơn bao giờ hết, doanh nhân và doanh nghiệp cả nước cần chủ động cùng nhau bàn bạc và lựa chọn cho quốc gia tập trung phát triển một vài ngành kinh tế có công nghệ cao của cả nước (ví dụ công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp công nghệ cao, các công nghiệp dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao…) mà nước ta có triển vọng phát huy để tạo thế mạnh riêng của đất nước. Cả nước và nhà nước cần hậu thuẫn và hỗ trợ những nỗ lực này. Huy động trí thức và trí tuệ cả nước cho sự lựa chọn này… 

Tất cả những vấn đề như vậy hầu như chưa được đặt ra, song lại là những việc thiết thực, bức bách và trong tầm tay, cần phải làm ngay. 

Chắc chắn sẽ còn nhiều vấn đề khác nữa có liên quan, nhất là gỡ bỏ những rào cản hay ách tắc từ thể chế chính trị và bộ máy vận hành quốc gia… Tất cả cần được bàn luận và cân nhắc thấu đáo. 

Ai lo, và chủ trương chính sách nào giải quyết tất cả những chuyện rất quan trọng và nóng bỏng này? 
Trở lại bàn về dự luật và dự án 3 đặc khu kinh tế (ĐKKT). 

Xin miễn nhắc lại những ý kiến quan ngại rất xác đáng đã được dư luận nhân dân cả nước và một số đại biểu quốc hội nêu ra, dưới đây chỉ xin bổ xung thêm những điều cần lưu ý. 

1. Kinh tế vỹ mô của đất nước hiện nay đang cùng một lúc có nhiều vấn đề rất bức xúc phải xử lý, đó là: (a)phải đẩy nhanh đổi mới cơ cấu kinh tế, (b)phát triển kết cấu hạ tầng, (c)phát triển nguồn nhân lực, (d)đổi mới công nghệ quá lạc hậu hiện nay so với những đòi hỏi mới của CMCN 4.0, (e)nâng cao sự phát triển năng động của những KCN hiện có, (f)vấn đề nợ đến hạn, ngân sách liên tiếp thâm hụt sâu, hàng trăm nghìn sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm, nhiều sản phẩm nông nghiệp truyền thống cần thay đổi để có thị trường tiêu thụ, nhiều sản phẩm gia công đang mất lợi thế cạnh tranh, v… v… Trong tình hình như vậy, huy động một nguồn vốn rất lớn (có con số nói là khoảng 70 tỷ USD!) cho 3 ĐKKT là một quyết định chiến lược không hợp lý: bỏ việc lớn quan trọng với toàn bộ nền kinh tế, chọn việc ăn ngay dễ làm! 

2. Mô hình ĐKKT đã lỗi thời trên thế giới kể từ thập kỷ 1990s, không thể đáp ứng những phương thức mới về sản xuất, kinh doanh, liên kết và dịch vụ trong khuôn khổ những hiệp định thương mại tự do (FTAs) Việt Nam đã ký kết trong những năm vừa qua và thời đại CMCN 4.0. 

Hơn nữa, nếu có sự quản lý đất nước thông thoáng và có trách nhiệm giải trình, thì ngay trong từng KCN đã hoàn thành và hiện vẫn còn đến gần một nửa diện tích chưa sử dụng, hoàn toàn có thể huy động đầu tư trong nước hoặc FDI đưa vào mỗi KCN hay nhiều KCN đang tồn tại này những công trình công nghiệp hiện đại của CMCN 4.0, vừa sớm đem lại hiệu quả kinh tế cao và có sức lan toả lớn cho kinh tế vĩ mô, vừa không phải đặt vấn đề xây dựng mới các ĐKKT đang gây ra nhiều tranh cãi rất nhạy cảm, nhất là nguồn vốn đất đai ngày càng căng thẳng. Luật pháp hiện hành hoàn toàn đủ để tạo ra sự phát triển năng động mới này, bao gồm cả sự hấp dẫn đối với FDI; chỉ còn thiếu thể chế chính trị có chất lượng của đất nước để thực hiện có hiệu quả. Chính vì thiếu một thể chế chính trị như vậy, 30 năm CNH-HĐH vừa qua công sức bỏ ra rất lớn, song mọi chuyện cứ như là cái thùng không đáy! 

3. Cả 3 dự án ĐKKT không đáp ứng được những yêu cầu làm động lực và tạo sự lan tỏa cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc gia trên những phương diện: phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, nâng cao năng lực quản trị nền kinh tế quốc dân – nhất là trên phương diện thực hiện sự công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình, sớm tìm ra sản phẩm riêng và lối đi riêng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong tình hình mới, v… v… 

4. Xin nhấn mạnh, bài toán kinh tế vỹ mô khó nhất của nước ta từ hàng chục năm nay không giải quyết được là: Năng lực sản xuất kinh doanh có trong tay của toàn bộ nền kinh tế quốc dân rất lớn, nhưng toàn bộ nền kinh tế nói chung hoạt động dưới tiềm năng nghiêm trọng, lãng phí và thất thoát rất lớn, tham nhũng vô cùng nặng nề, chi phí hậu cần và chi phí cơ hội cao gấp 2 – 3 lần so với nhiều nước, có quá nhiều ách tắc và bất cập trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng… Trong bài toán này, yếu kém nghiêm trọng nhất là không phát huy được vốn quý nhất của quốc gia là con người và nguồn nhân lực; trong khi đó thể chế chính trị, bộ máy nhà nước và toàn bộ khâu quản lý hành chính nói chung kìm hãm nội lực, do đó tạo ra trở lực lớn nhất của sự phát triển đất nước. 

Bài toán này đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng để cân nhắc: 

(a) Nên tập trung mọi nguồn lực quốc gia, đồng thời từng bước thực hiện ngay những cải cách có thể để giải quyết bài toán này? – tạm gọi đây là giải pháp “a”. 

(b) Hay là giải quyết bài toán này bằng xúc tiến 3 dự án ĐKKT? – tạm gọi đây là giải pháp “b” - Tôi xin nói ngay ý kiến của tôi: giải pháp “b” không thể giải được bài toán này, thậm chí sẽ gây thêm nhiều mối nguy lớn. 

(c) Trong trường hợp muốn thực hiện cả hai giải pháp “a” và “b”, rất nên đặt lên bàn cân xem xét có khả thi không? Hoặc giữa giải pháp “a” và giải pháp “b” nên ưu tiên thực hiện giải pháp nào trước? – Ý kiến tôi: Lùi một ngày giải pháp “a”, đất nước sẽ “chết” thêm một ngày, nhưng lùi giải pháp “b” đất nước và lãnh đạo sẽ có thêm thời giờ để cân nhắc. 

(d) Quá trình 30 năm tiến hành công nghiệp hóa vừa qua cho đất nước ta một bài học khắc nghiệt: Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến thất bại không hoàn thành sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vào năm 2020 như đã ghi trong các nghị quyết các đại hội đảng là không đồng thời dựng lên được một thể chế chính trị và bộ máy nhà nước của quốc gia CNH-HĐH để vận hành đất nước theo hướng giải phóng và phát huy nội lực. 43 năm nay đất nước chỉ có một thể chế chính trị và bộ máy nhà nước tiêu hao mọi nội lực! Chính nguyên nhân hàng đầu này giải thích vì sao 30 năm CNH-HĐH nước ta không thể tự vươn lên có một nền công nghiệp của chính mình, đến hôm nay vẫn phải dựa vào FDI là chính. Nguyên nhân hàng đầu này cũng là nguyên nhân gốc của tệ nạn quan liêu tham nhũng đã diễn ra trầm trọng và làm thất bại nhiều chủ trương, chính sách kinh tế đúng đắn. Trong sự tồn tại của nguyên nhân gốc này, có dám nói chắc là sẽ quản lý được 3 ĐKKT với những siêu ưu đãi dành cho nó không? Và ai cũng biết những siêu ưu đãi này có thể thách thức quốc gia rất nghiêm trọng trên nhiều phương diện vô cùng quan trọng. 

(e) Vân vân… Vân vân… 

5. Đất đai hiện nay là một trong những vấn đề nhạy cảm và nóng nhất của đất nước. Chưa nói đến những sai lầm và bất cập về đường lối, chính sách, chủ trương hiện hành về vấn đề đất đai và quan điểm ghi trong Hiến pháp “đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thay mặt nhân dân quản lý”, nước ta đất hẹp người đông, mật độ dân số cao nhất châu Á, sự “quản lý” rối loạn của nhà nước làm cho vấn đề đất đai căng thẳng thêm cực độ. Tình hình cụ thể hiện nay ở Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc là toàn bộ đất đai cả 3 khu này đã có chủ sở hữu các loại khác nhau, không còn lấy 1 m2 bỏ trống – với nghĩa đã có những nguồn tiền sạch/bẩn lẫn lộn đã đầu cơ mua hết rồi!.. Triển vọng dễ thấy nhất ngay từ giai đoạn “dự án” của 3 ĐKKT là: Sẽ hứa hẹn có 3 nhượng địa mới. Có nên không? Xin Bộ Chính trị cân nhắc kỹ trong tình hình hiện nay. 

6. Báo chí đưa tin Chủ tịch Quốc hội Nguyễn thị Kim Ngân nói dự án 3 ĐKKT là quyết định của Bộ Chính trị, Quốc hội cần bàn để thực hiện. Tôi không biết tin này chính xác như thế nào. Song theo tôi, nếu là Bộ Chính trị dù đã quyết rồi mà ý kiến cả nước và ngay trong Quốc hội còn xôn xao không đồng tình như vậy, Bộ Chính trị vẫn cần phải xem lại, vì các lẽ: 

(a) Giả thử chủ trương này đúng, song trong tình hình đất nước và khu vực rất nhạy cảm như hiện nay vẫn cần phải có sự đồng thuận của toàn dân. Lúc này đẻ số thêm những vấn đề căng thẳng trong nội trị sẽ không khác tự sát bao nhiêu, vì cái xảy nảy cái ung. 

(b) Bộ Chính trị có quyền lực lớn nhất nước, song không thể nói Bộ Chính trị khôn hơn cả nước được, lắng nghe dân và tham khảo dân Bộ Chính trị chỉ có được, chứ không có mất! Mặt khác, có thể Bộ Chính trị quyết định chủ trương lớn, nhưng không giám sát được việc thiết kế các nội dung cụ thể trong dự luật và các phụ lục với quá nhiều sơ hở - không loại trừ khả năng “lợi ích nhóm” chui vào, có thể gây nguy hại lớn cho đất nước! Vân vân và v… v... Chưa nói đến Bộ Chính trị không phải là vạn năng, cái gì cũng quyết đúng được, làm đúng được. Trong thực tế Bộ Chính trị đã nhiều lần mắc những sai lầm nghiêm trọng. Dù chỉ là công dân, chí ít tôi đã 3 lần được biết và cũng là nhân chứng Bộ Chính trị mắc sai lầm nghiêm trọng: Lần thứ nhất, đi hội nghị Thành Đô là quyết định của đa số trong tập thể BCT, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch phản đối và bị loại. Lần thứ hai, Bộ Chính trị đã bác bỏ những đề nghị chiến lược quyết định vận mệnh đất nước do Thủ tướng Võ Văn Kiệt nêu ra trong bức thư ngày 08-09-1995. Lần thứ ba là quyết định sai lầm của Bộ Chính trị về khai thác bauxite Tây Nguyên. Vân vân… 

7. Xin đặc biệt lưu ý, trong tình hình hệ thống chính trị đất nước có quá nhiều yếu kém và tình hình khu vực rất phức tạp hiện nay, những ý kiến lo lắng trong dân – trong đó có một số vị tướng đã từng chỉ huy quân ngũ – về những hệ quả khôn lường trên phương diên an ninh & quốc phòng mà 3 ĐKKT và dự luật dành cho nó có thể gây ra là xác đáng, không thể bỏ ngoài tai. Chắc chắn BCT có đủ thông tin để đọc được những gì phải đọc trên bản đồ địa kinh tế và địa chính trị của nước ta và của khu vực, lại trong cục diện trật tự mới của bàn cờ thế giới rất phức tạp hôm nay!.. Trong tình huống nhất định, có thể nói đã sẵn sàng một kịch bản: hung khí tổng hợp đủ các loại – hữu hình hoặc vô hình, của quyền lực rắn và quyền lực mềm – của kẻ địch đã dí sát sườn đất nước ta. Không thể nhắm mắt để không cần thấy gì! 

8. Nội dung 3 dự án ĐKKT và dự luật cùng các phụ lục kèm theo, xem cho kỹ sẽ thấy: Đấy là các sản phẩm ra đời từ quá trình “sao chép – cắt – dán” (copy – cut – and paste) từ những thứ đã thành văn và ra đời trong thập kỷ 1980s hoặc trước nữa tại một số quốc gia và lãnh thổ... Song những sản phẩmnày không có khả năng lột tả những bối cảnh cụ thể của các quốc gia và lãnh thổ thời ấy khi những ĐKKT của họ ra đời – và đương nhiên bối cảnh của những nơi này lúc ấy hoàn toàn khác với bối cảnh của nước ta hôm nay. Cái mới và cái sáng tạo duy nhất sản phẩm “sao chép – cắt – dán” này có được so với nguyên bản là làm cho các ưu đãi ưu tiên nặng ký hơn so với nguyên bản, song lại không thể biện minh được, và vô cùng lạc hậu, rất bất cập so với hiện tại. Vô cùng đáng lo hơn nữa là những ưu tiên ưu đãi nặng ký này sẽ được thực hiện trong bối cảnh quyền lực rắn và quyền lực mềm TQ hôm nay đã can thiệp quá sâu vào đời sống mọi mặt của đất nước ở phạm vi cả nước. 

Xin lưu ý cho: Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế của thời đại CMCN 4.0, vòng đời của một sản phẩm cùng loại ngày càng ngắn, ngày càng nhiều sản phẩm bị thay thế hẳn, ngày càng nhiều sản phẩm hình thành từ quá trình liên kết mạng ở phạm vi quốc gia, khu vực, hoặc toàn cầu, đồng thời phương thức sản xuất kinh doanh hoàn toàn thay đổi.., tất cả đều vượt ra ngoài phạm vi một KCN hay một ĐKKT..; điều kiện tiên quyết của thành công hôm nay cho một quốc gia không phải là “khu” này “khu nọ”, mà là (1)con người, (2)khả năng vận dụng công nghệ thời CMCN 4.0., (3)khả năng tạo ra và cung ứng những dịch vụ thích ứng mà phương thức mới đòi hỏi, (4)thể chế chính trị và bộ máy vận hành quốc gia giải phóng được nội lực, mở đường cho mọi bước phát triển mới! Vì những lẽ cụ thể này, dự án 3 ĐKKT và dự luật đi kèm nhất thiết cần phải gác lại để xem xét. 
Tôi không rõ những tác giả chắp bút dự luật và dự án về 3 ĐKKT đang làm cả nước lo lắng này, biết hay không biết những thông tin và những điều nói trên? quan tâm hay không quan tâm tới những chuyện đau đầu này? Họ là ai mà thiết kế dự luật và dự án như vậy? Cơ chế của hệ thống chính trị quốc gia hoạt động như thế nào mà dự luật và dự án về 3 ĐKKT được đưa ra Quốc hội đúng quy trình như vậy? Vân... vân… 

Một câu hỏi khác: Giữa lúc lãnh đạo đảng đẩy mạnh chống tham nhũng và cố gắng siết lại hàng ngũ đảng, tại sao lại có thể ra đời một dự luật và một dự án về 3 ĐKKT đầy rủi ro nguy hiểm cho an ninh quốc gia và gây nhiều tranh cãi như vậy? 

Nếu trong sự việc này không có yếu tố tham nhũng tiêu cực, thì sẽ chỉ còn lại là những yếu kém của hệ thống chính trị: 

- Trong tầm kiểm soát đang được siết chặt hiện nay của đảng, 3 đặc khu kinh tế và dự luật đi kèm đang được xúc tiến vẫn mang dáng dấp của chủ nghĩa tư bản thân hữu / chủ nghĩa tư bản mại bản, được cổ súy, được thừa nhận, và cuối cùng được đưa ra Quốc hội đúng quy trình! Thật nguy hiểm quá! 

Tôi có câu hỏi nghiêm trọng không làm sao tự giải đáp được: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta hiện nay cao hơn gấp đôi GDP – mà là GDP của một quốc gia có thu nhập trung bình (thấp) với ngót 100 triệu dân chứ không phải loại hạng bét, nghĩa là nền kinh tế có quy mô khá lớn của nước ta đã mở cửa hết cỡ rồi, tỷ trọng FDI tham gia vào tăng trưởng và phát triển kinh tế nước ta cao ngất ngưởng so với tất cả các nước chung quanh và đang là lực đẩy chính, trong khi đó trên thực tế 30 năm nay nền kinh tế nước ta chủ yếu dựa vào sức sống từ bên ngoài vì mọi khả năng phát triển nội lực đều bị thể chế chính trị và tham nhũng triệt tiêu, tại sao còn phải có thêm 3 ĐKKT như thế này nữa! Không có một lý thuyết kinh tế nào giải thích được. Giả định ta có ngay bây giờ một lúc 10 ĐKKT như trong dự án – chứ không phải là 3! – cũng không đủ sức kéo nổi nền kinh tế ở quy mô này đi lên được, đơn giản vì nó không có nội lực để bước đi cho dù kéo nó đi! Dẫn chứng sờ sờ là cả một mạng lưới khoảng gần 500 khu công nghiệp và khu kinh tế hiện có hơn 2 thập kỷ nay không làm nổi nhiệm vụ cái vụ máy kéo này cho đất nước: Nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng và thể chế chất lượng thấp kém và có quá nhiều bất cập, chứ không phát triển! 

Chưa nói đến: Chắc gì mỗi ĐKKT như trong dự án đã đưa ra Quốc hội sẽ là một cái “máy kéo” như thế cho đất nước? Nó hoàn toàn có thể là một cái gì đó rất khác như rất nhiều ý kiến phản biện đã chứng minh – lịch sử đã có bài học “con ngựa thành Troy”! 

Xin nhấn mạnh một lần nữa: 

Nền kinh tế nước ta hiện nay mắc căn bệnh “không chịu phát triển” (đúng ra là “không thể phát triển”), do các thể chế chính sách của chế độ toàn trị đã triệt tiêu nội lực và tham nhũng bóc ngắn cắn dài; vì lẽ này có móc vào vào nó bao nhiêu cái máy kéo cũng vô nghĩa. 

Kéo nền kinh tế ở quy mô hôm nay của nước ta đi lên phải bằng những bài toán khác như đã tôi đã nêu ra ở trên – trước hết là một thể chế chính trị - nhà nước cởi trói và phát huy mọi tiềm năng của quốc gia. Ý kiến của giáo sư Trần Văn Thọ cũng tán thành như vậy và đã đưa ra những kiến nghị cụ thể[5]

Hay là 3 ĐKKT này – có ý thức hoặc vô ý thức – mang dáng dấp của chủ nghĩa tư bản mại bản với những mưu đồ khác phía sau mà anh Nguyễn Quang Dy đã vạch ra?[6] Người làm dự án 3 ĐKKT này còn đi xa tới mức vận động cho mở casino và du lịch tình dục để gia tăng sự hấp dẫn, trong khi đó đất nước bị cấm nói đến xã hội dân sự và hòa hợp dân tộc, trì hoãn các đạo luật thực thi những quyền công dân đã ghi trong Hiến pháp, nhưng lại hối thúc xúc tiến bằng được luật về an ninh mạng để bịt mồm dân!.. Đất nước này là đất nước gì vậy? 

Chẳng lẽ tất cả chỉ nhằm hấp dẫn …các đại bàng lầm tổ (lời ông Uông Chung Lưu), còn dân thì hỏi đại bàngnào?.. 

Thực lòng tôi không sao hiểu nổi một số phát ngôn của một số nhân vật là bộ trưởng, đại biểu Quốc hội… lẽ ra phải giải thích có lý có lẽ cho dân hiểu, lại ào ào đổ lỗi cho dân có tâm lý chống TQ nên cái gì cũng lôi TQ vào, trên thế giới các China-towns có khắp mọi nơi có làm sao đâu[7], văn bản dự luật có cụm từ Trung Quốc nào đâu!.. Có cán bộ nói chịu áp lực của dân mà trì hoãn 3 ĐKKT và luật đi kèm là mắc mưu tình báo Hoa Nam, không thông qua trong khì họp này là hữu khuynh! V… v… 

Ngày 09-06-2018 báo chí đưa tin sẽ chuyển dự án 3 ĐKKT và dự luật sang kỳ họp thứ 6 của QH vào cuối năm 2018 để có thêm thời giờ xét duyệt, tuy nhiên vẫn khẳng định đây là chủ trương lớn của đảng, và những dự án này đã được chuẩn bị công phu… Giữa lúc này tôi được biết nội dung thông báo số 21 TB/TƯ ngày 22-03-2017 kết luận của Bộ Chính trị về các đề án 3 đặc khu kinh tế là chủ trương lớn của đảng đã được thông qua tại nhiều kỳ đại hội, giao cho các cơ quan xúc tiến. Tiếp theo thông báo số 245 TB/TƯ ngày 24-04-2009 về khai thác bauxite Tây Nguyên, đây là lần thứ hai tôi được biết một loại thông báo như thế, và hiểu rằng ý kiến đúng đắn của nhân dân trước sau vẫn không được lắng nghe. 

Việc dự luật về 3 đặc khu này cùng với dự luật về an ninh mạng cùng đưa một lúc vào kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa này chẳng hiểu có sự ngẫu nhiên nào không, nhưng quan sát từ bên ngoài thấy hợp lý và nhịp nhàng vô cùng nếu thực hiện được: Phê duyệt 3 đặc khu đồng thời bịt miệng phản kháng của dân – để rồi từ đây sẽ bịt miệng dân mãi mãi về mọi chuyện khác?! Lợi ích nào chi phối để có được những bước đi hiệp đồng chiến đấu siêu việt đến như vậy để bỏ qua lợi ích và vận mệnh của quốc gia?!.. 

Xin đừng trách tôi suy nghĩ theo kiểu Tào Tháo, sự việc trên giấy trắng mực đen tự nó đang là như vậy. 

Tình hình nêu trên khiến tôi rất lo về chất lượng quyết định của Bộ Chính trị và những nguyên nhân. Song tôi lo hơn nữa là suốt 43 năm độc lập thống nhất vừa qua đã có quá nhiều luồn lách đưa vào Bộ Chính trị những quyết định vô cùng nguy hiểm cho quốc gia và cho đảng, mở đầu là quyết định của Bộ Chính trị đi hội nghị Thành Đô dẫn đất nước vào quỹ đạo Trung Quốc với mọi lệ thuộc và hệ lụy nguy hiểm cho đến hôm nay không sao thoát ra được. Sự thật cũng chứng minh là cho đến hôm nay ở nước ta hầu như không có một quyết định kinh tế hay chính trị quan trọng sai lầm nào mà không có sự tham gia của cấp lãnh đạo cao nhất. 

Như đã nêu trong thư ngỏ ngày 08-06-2018 gửi Tổng bí thư và toàn thể Bộ Chính trị, một lần nữa tôi xin đề nghị Tổng bí thư và Bộ Chính trị dựa vào những ý kiến phản biện đúng đắn và có trách nhiệm của cả nước, dứt khoát hoãn lại dự án 3 ĐKKT này để sau khi tiến hành cải cách chính trị sẽ xét lại, dứt khoát không sửa lại điều này điều nọ để cố tình thông qua dự án này. Bởi 2 lẽ: 

(1) Các ý kiến phản biện đã bác bỏ một cách thuyết phục dự án 3 ĐKKT như đã trình ra Quốc hội là lỗi thời và không thể hứa hẹn bất kể một lợi ích kinh tế nào cho đất nước. Trong khi đó có nhiều việc khác trong tầm tay rất cần làm để mang lại lợi ích phát triển lớn lao cho đất nước. 

(2) Song quan trọng hơn nhiều là trong bối cảnh khu vực và quốc tế cực kỳ nhạy cảm hiện nay, Biển Đông đang ở trong tình trạng bên miệng hố chiến tranh, chủ quyền và an ninh quốc gia của nước ta bị thách thức hơn bao giờ hết, không cho phép tồn tại trên lãnh thổ nước ta 3 ĐKKT như trong dự án, dù là được sửa đổi như thế nào, và dù chỉ là một ngày. 

Bộ Chính trị nên hiểu việc hủy bỏ dự án 3 ĐKKT và luật an ninh mạng là nguyện vọng chính đáng của lòng yêu nước và là ý chí sắt đá bảo vệ tổ quốc của nhân dân. Cố tình chống lại thực tế này, tôi e rằng nhân dân cả nước sẽ bị thách thức nghiêm trọng một lần nữa, phản ứng của nhân dân sẽ đi tới bất khả kháng, tình hình sẽ vô cùng nguy hiểm nếu đất nước rơi vào cảnh thịt nát xương tan! 

Nhìn theo bất kỳ khía cạnh nào, phản ứng của nhân dân đối với 3 ĐKKT và luật an ninh mạng cho thấy thấy đất nước đang đứng trước một cuộc cải cách chính trị đã chín muồi, càng chậm trễ, tình hình sẽ càng trở nên nguy hiểm không đảo ngược được. 

… 

Trở lại bàn về đại hội XII. 

Cũng có thể kiến nghị của tôi tiến hành Đại hội XII theo hướng cải cách chính trị như đã nêu trong các bài đã viết (và được tóm tắt lại trên đây) là ảo tưởng thật – vì nó không phù hợp với nội tình hiện nay của đảng, và vì thế tôi sai là phải, mặc dù cảnh báo của tôi về mối nguy Đại hội sẽ tiến hành theo xu thế bên thắng / bên thua là đúng. 

Với cách hiểu như vậy, kiến nghị này của tôi sai, có thể vì: 

- Đấu tranh quyền lực chính trị phe nhóm thường mang tính đối kháng – một dạng zero sum game, không thể tìm ra thỏa hiệp giữa họ với nhau trong lợi ích chung của quốc gia. 

- Không có phe nhóm có quyền lực nào chủ trương cải cách chính trị để chuyển đất nước sang thời kỳ phát triển mới – vì điều này đồng nghĩa với triệt tiêu lợi ích của chính họ. 

- Trình độ chính trị của đảng viên quá thấp vì rất nhiều lý do khác nhau, do đó bị các phe nhóm thao túng; các đại biểu đến Đại hội thực ra chủ yếu chỉ là lễ nghi thực hiện những gì đã được dàn xếp, quyết định. 

- Trong Đảng chưa có tiếng nói đủ mạnh đặt lợi ích quốc gia lên trên hết (như trường hợp của Myanmar), để tạo ra áp lực đủ mạnh đòi phải tiến hành cải cách chính trị. 
Nghĩa là, vì duy tâm như tôi, kiến nghị của tôi thất bại là đích đáng!? 

Điều tôi vô cùng tiếc nuối là ĐCSVN hiện nay vẫn là lực lượng chính trị lớn nhất quốc gia, chỉ cần bộ phận đầu não của Đảng có trí tuệ, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc như đội ngũ tinh hoa của Myanmar – dù phe phái như thế nào, chắc chắn đất nước ta sẽ có thể tiến hành thắng lợi cuộc cải cách chính trị đã chín muồi, mở ra cho đất nước một tiền đồ mới xứng đáng. Đây cũng là thông điệp tôi muốn nói với những người đang nắm trong tay vận mệnh của Đảng và của đất nước. 

Hay là một lần nữa tôi lại duy tâm? 

– Có thể lắm, vì hai lẽ: 

(1) Cái thanh gươm Damocles Trung Quốc đầy uy hiếp đang lơ lửng trên đầu quyền lực ĐCSVN? - và 

(2) Tầm nhìn, bản lĩnh và phẩm chất của lãnh đạo Đảng hiện nay chỉ thấy được sự tồn tại của mình trong duy trì chế độ toàn trị!? 

Cho phép tôi gửi thông điệp trên với một câu hỏi chung, xin đặt ra cho tất cả mọi người – ngoài đảng và trong đảng – quan tâm đến vận mệnh quốc gia: 

Chúng ta muốn tiền đồ của ĐCSVN gắn với một Việt Nam phát triển, hay với một Việt Nam của chế độ toàn trị? 
- Gắn với nước Việt Nam phát triển, trước đó ĐCSVN phải thay đổi chính mình thành đảng của dân tộc – đây là điều kiện tiên quyết. Khỏi phải nói đảng này sẽ như thế nào trong lòng dân tộc và trong lịch sử quốc gia, nếu nó trở thành hạt nhân và động lực thúc đẩy hình thành nên một Việt Nam như thế! 

- Gắn với một Việt Nam của chế độ toàn trị, sẽ kéo dài những gì đã diễn ra trên đất nước suốt 43 năm qua, hết PMU 18 lại đến Đồng Tâm, đến Thủ Thiêm, Formosa… Để rồi sẽ tái phát những trọng tội này, với mọi hệ lụy tất yếu cho đến khi dân có cớ và có lực lật thuyền!.. 

Xin đừng để cho kịch bản thịt nát xương tan này xảy ra! 
II. Trước sau tôi vẫn lựa chọn con đường cải cách chính trị đi qua ĐCSVN 
“Toàn bộ những nỗ lực của hai họ Phạm – Huỳnh và con cháu họ 4 thập kỷ nay muốn phục thiện cái đảng thống trị đất nước đã tha hóa ruỗng nát và mong cứu vãn đất nước. 

Quyền lực tha hóa đã đáp lời: Giết chết Phạm Trung Trung Nam!” 

Với thông điệp rút ra từ “Lũ” như trên, với thất bại trong kiến nghị về Đại hội XII, tôi trước sau vẫn kiên trì lựa chọn con đường hòa bình tiến hành cải cách chính trị đi qua ĐCSVN. 

Bất chấp việc chính tôi cũng phải thừa nhận đảng này và chế độ này đáng phải sụp đổ ba, bốn lần rồi! 

Bất chấp việc tôi cũng mấy lần viết ra như vậy trong một số thư gửi những người lãnh đạo đảng và nhà nước! 

Kiên trì như thế, song chính tôi cũng phải tự hỏi mình nhiều lần: Hay là bản thân mình cũng điên đến mức hết thuốc chữa rồi!? 

- Không phải như vậy! 

Đấy là sự lựa chọn tôi đã đánh vật với nó mấy thập kỷ nay, nhất là từ khi bắt tay vào viết “Dòng đời”. Nếu nhìn vào những gì gia đình và họ tộc của tôi đã phải trải qua, tôi còn muốn nói lựa chọn này là kết quả của một quá trình tôi tự vượt lên chính mình. 

Đương nhiên, đây chỉ là sự lựa chọn của cá nhân tôi – của 1 trong 96 triệu dân Việt Nam có quyền và muốn thực hiện sự lựa chọn riêng của mình như thế cho tổ quốc của mình! 

Trong nhiều bài viết về đòi hỏi cải cách chính trị, tôi đã trình bầy đại thể 3 vấn đề chính[8] cần được giải quyết, và chỉ có thể giải quyết được thông qua cải cách chính trị: 

1. Cái gốc phải giải quyết của nước ta ngay bây giờ và từ nay mãi mãi về sau là vấn đề phát triển, chứ không phải là câu chuyện làm cách mạng bạo lực! Phải từ chỗ đứng hiện nay huy động mọi tiềm lực vật chất và tinh thần của quốc gia tập trung giải quyết vấn đề của phát triển. Đây là con đường duy nhất để bảo vệ độc lập chủ quyền, khắc phục lạc hậu và tụt hậu, mau chóng giành lấy vị thế quốc tế mới với tiềm lực mới để tồn tại và phát triển, chỉ có thể giành được thông qua hòa bình cải cách chính trị. 

2. Đất nước vừa mới trải qua 4 cuộc chiến tranh khốc liệt, phải tránh cho đất nước mọi thảm họa mới. Một phần không thể nói mọi vết thương chiến tranh đã được khắc phục, một phần vì vết thương dân tộc vẫn còn rỉ máu, một phần vì 43 năm qua – nhất là từ khi chế độ toàn trị lên ngôi – trong lòng đất nước lại tích tụ thêm những mâu thuẫn mới, xung đột mới, và có nhiều vấn đề nóng, một phần còn vì hệ quả của vấn đề ngu dân và những tàn tích văn hóa… - trong những điều kiện như vậy bất kể một biến động bạo lực nào đều có thể gây ra một cuộc bể dâu mới khôn lường, và ngay lập tức mời gọi sự can thiệp từ bên ngoài – nhất là từ Trung Quốc. Thực tế này đòi hỏi phải sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng quẫn bách đã kéo dài suốt 43 năm độc lập thống nhất đầu tiên: Quốc gia độc lập nhưng vẫn èo uột, dân không có tự do, đất nước càng phát triển trong chế độ toàn trị của đảng nắm quyền càng lệ thuộc và phụ thuộc, bị uy hiếp nhiều bề! 

3. Tọa độ trên vị trí địa đầu khu vực Đông Nam Á, nước ta vừa nằm trong vùng tranh chấp quyền lực quyết liệt giữa Trung Quốc và Mỹ, nằm trên cửa ngõ quan trọng nhất của đế chế Trung Quốc đi xuống phía Nam, chịu nhiều áp lực nhất của sức mạnh Trung Quốc tại chỗ, vừa có thể là cầu nối giữa khu vực và thế giới bên ngoài có lợi cho xu thế hòa bình và phát triển, đồng thời là một nước có vị trí quan trọng trong ASEAN. Trong tình hình Trung Quốc trở thành vấn đề của cả thế giới, những đặc điểm địa kinh tế - địa chính trị của nước ta vừa kể trên càng mang tính quyết liệt trên cả 2 phương diện thách thức và cơ hội. Bối cảnh quốc tế và khu vực của nước ta như vậy tất yếu đặt ra đòi hỏi sống còn nước ta phải có đủ sức mạnh và bản lĩnh thoát khỏi thân phận từ sau chiến tranh thế giới II cho đến hôm nay đã rơi vào không thoát ra nổi: đó là thân phận “miếng da lừa” cho mọi ông lớn giành giật – nếu không đi với một bên chống một bên thì lại phải “leo dây” giữa các nước lớn, vận mệnh đất nước ta do bên ngoài quyết định. Chỉ có thể thông qua cải cách chính trị, canh tân đất nước, để vươn lên một quốc gia có thế và lực tự quyết định lấy vận mênh của mình! Không có một cuộc cách mạng nào – kể cả con đường xây dựng CNXH hay CNML có thể giúp nước ta thực hiện được nhiệm vụ này. 

Sức sống của nước ta trong 4 cuộc chiến tranh đã trải qua và trong 43 năm độc lập thống nhất đầu tiên cho thấy không phải là đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta không có khả năng giải quyết thành công 3 vấn đề trọng đại nêu trên. Nhưng nước ta thực sự có vấn đề là ĐCSVN – lực lượng chính trị lớn nhất nước đồng thời là đảng độc nhất nắm vận mệnh đất nước – không nhìn ra và không có khả năng, và ngày nay do tha hóa nên không có cả bản lĩnh phát huy sức mạnh dân tộc để giải quyết 3 vấn đề chiến lược nêu trên. Đảng như thế, đang trở thành trở lực đối với giải quyết 3 nhiệm vụ chiến lược này. 

Thực tế cũng đang cho thấy: (a) trong chế độ toàn trị hiện nay không thể xuất hiện một hay những lực lượng chính trị nào trong nước có thể đối trọng với ĐCSVN và quyền lực nó đang nắm trong tay; (b) có những thế lực kinh tế trong ngoài hỗn hợp đang có những ảnh hưởng lũng đoạn nhất định đối với ĐCSVN theo hướng muốn duy trì vai trò ĐCSVN để thực hiện những lợi ích của họ; (c) sự can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc vừa là phương tiện của TQ kiểm soát ĐCSVN, đồng thời vừa là chỗ dựa cho sự tồn tại của ĐCSVN. 

Với tương quan so sánh lực lượng như nêu trên, rất khó xảy ra sự thay đổi nào của ĐCSVN đến từ những áp lực của nội bộ xã hội Việt Nam. Sự vận động hiện nay của ĐCSVN vẫn là tiếp tục quá trình tha hóa tự thân trong chế độ toàn trị cho đến khi tự sụp đổ, hoặc bất cập và không kiểm soát được những thách thức trong nước hoặc từ bên ngoài sẽ dẫn tới đảng bị lật đổ - như đã xẩy ra ở các nước LXĐA cách đây gần ba thập kỷ. Vô luận một sự sụp đổ như vậy vì nguyên nhân nào (tha hóa tự thân, hoặc bất cấp trước thách thức không kiểm soát được) đều gây ra đổ vỡ khốc liệt cho quốc gia, và đồng thời sẽ xóa bỏ hoàn toàn sự nghiệp của ĐCSVN với hệ lụy nhiều mặt. Đây chính là con đường đau khổ mới đất nước đang đi, càng đi càng gian truân, càng đi càng tới gần hơn nữa hiểm họa hủy diệt chung cho cả nước – không loại trừ một ai. 

Nhận định tình hình như vậy, tôi muốn đưa ra câu hỏi: 

Có thể có hay không? Và Nên hay không chủ động tạo ra sự hợp tác giữa một bên là những đảng viên ĐCSVN còn nặng lòng yêu nước và giác ngộ lợi ích quốc gia, một bên là những tiếng nói và lực lượng chân chính trong nhân dân, để cùng nhau mang lại sự thay đổi thực trạng và bản chất thực hiện nay của ĐCSVN, lột xác nó để nó trở thành đảng của dân tộc và dân chủ, giao cho nó với tính chất là một đảng mới như vậy đảm nhiệm vai trò cầm lái đất nước trong khuôn khổ thể chế chính trị mới của nhân dân do sự hợp tác này tạo dựng nên? Cần tiến hành sớm thảo luận dân chủ trong nội bộ ĐCSVN vấn đề sống còn này của đảng – vì nó liên quan trực tiếp đến vận mệnh quốc gia! 

Những người giữ trọng trách trong đảng còn nặng lòng với đất nước có trách nhiệm ràng buộc phải chủ động giành lấy cho đảng và cho đất nước sự hợp tác như thế! 

Trong tầm tư duy của tôi, tôi không tìm ra được con đường nào tối ưu hơn! 

Cũng trong tầm tư duy của tôi, xin đặt ra câu hỏi: 

Tại sao những người nắm thực quyền trong ĐCSVN không tính đến và dựa vào nhân dân để chủ động thiết kế một con đường như thế? 

Hỏi được hay không hỏi được như vậy, trả lời được hoặc không trả lời được câu hỏi như vậy, sẽ làm rõ bản chất và tầm nhìn từng người có thực quyền trong đảng! 

Tôi hy vọng, như thế tôi đã giải trình rõ lý do tôi lựa chọn con đường hòa bình cải cách chính trị đi qua ĐCSVN. Bởi vì bất kỳ sự phát triển nào của quốc gia nào trên trái đất này, đều cần có sự lãnh đạo của giới tinh hoa và lực lượng chính trị đủ tầm của nó dẫn dắt! Đây chính là con đường tạo lập ra cho quốc gia của chúng ta một giới tinh hoa và lực lượng chính trị đúng tầm phải có như thế của nó! Không thể có sự phát triển tự phát! Càng không thể có sự phát triển như thế bằng một cuộc cách mạng đập phá tất cả để làm lại từ đầu như đã từng xẩy ra trong lịch sử các quốc gia trên thế giới cho đến hôm nay – kể cả cuộc Cách mạng Tháng Tám của chúng ta, CNML càng không! Đơn giản vì cách mạng không làm nhiệm vụ phát triển. Cách mạng chỉ có thể làm chức năng tạo điều kiện hay mở đường cho phát triển. Còn toàn bộ sự nghiệp phát triển phải là sự vận động tự thân liên tục và mãi mãi của toàn quốc gia trong thể chế chính trị dân chủ và tiến bộ phải có. 
III. Đảng Cộng Sản Việt Nam phải tự thay đổi chính mình 

Lời thay mặt Bộ Chính trị của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị TƯ 6 khóa XI nhận lỗi trước toàn dân và toàn đảng về tệ nạn tham nhũng và những yếu kém của đảng tự nó đã đặt ra vấn đề ĐCSVN phải tự thay đổi chính mình. Nghiêm túc với đất nước thì phải nghĩ như vậy. 

Lấy 3,5 triệu đảng viên hôm nay, so với thời Cách mạng Tháng Tám chỉ có 5000 đảng viên, phải nói ĐCSVN hôm nay sa sút nghiêm trọng, hầu như đã mất hết tính tiền phong chiến đấu một thời đã làm nên lịch sử vinh quang của đảng trong quá khứ. Sự tha hóa về phẩm chất, đạo đức là rất nghiêm trọng, điều này dễ nhận thấy được. Song theo tôi, nếu 5000 đảng viên thời CMTT vừa là ý chí, vừa là trí tuệ dẫn dắt nhân dân làm cách mạng – thời 4 cuộc kháng chiến đảng viên cũng làm được vai trò này; thì 3,5 triệu đảng viên hôm nay chủ yếu chỉ giữ vai trò công cụ quyền lực của một đảng cai trị! Một sự khác biệt 1800, đến mức đối kháng! 

Theo tôi: Đây không còn là một hiện tượng tha hóa nữa, cũng không phải là biến chất của đảng viên. Thật ra đấy là hiện tượng quyền lực trong đảng trên thực tế đã vứt bỏ Cương lĩnh và Điều lệ đảng sang một bên, nhân danh tổ chức của đảng tự cho phép mình thông qua những luật, lệ, và quy định thành văn hoặc không thành văn, đi kèm với các lợi ích ban cho, để từng bước chủ động buộc cho các đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng nhiệm vụ và chức năng là công cụ mang tính chuyên chính của đảng cai trị và chế độ toàn trị. Sự việc quyền lực trong đảng nhân danh tổ chức chủ động vi phạm nghiêm trọng Cương lĩnh và Điều lệ Đảng như vậy trên thực tế đã tự tay chủ động tước bỏ vai trò tiền phong chiến đấu của từng đảng viên. 

3,5 triệu đảng viên của đang hôm nay nằm trong các tổ chức cơ sở đảng xuống đến tận thôn, xóm, trường học, xí nghiệp… khắp cả nước, bây giờ còn được bổ sung thêm công an chính quy xuống từng xã. Song cho đến nay có thể nói, các tổ chức cơ sở này của đảng ngoài nhiệm vụ thực thi quyền lực chuyên chính của đảng và chính quyền ở cơ sở hay địa phương mình, chưa một lần phát hiện được lấy một vụ tham nhũng tiêu cực đáng kể nào ở địa phương, chưa có đóng góp đáng giá nào vào các vấn đề quốc kế dân sinh của địa phương mình, chưa làm được vai trò tiền phong chiến đấu của mình, càng không phải là chỗ dựa cho nhân dân địa phương mình trong không biết bao nhiêu vấn đề họ phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày – nghèo đói, bất công xã hội, ô nhiễm môi trường, hủ tục, cái dốt, cái ác, tệ nạn xã hội, tham nhũng tiêu cực ngang nhiên hoành hành nhiều nơi! Trong khi đó đảng lại cấm xã hội dân sự lẽ ra nó phải là nơi nhân dân bẩy tỏ tiếng nói của mình và là môi trường sống và rèn luyện của các tổ chức cơ sở đảng. Đây là biểu hiện đặc trưng nhất của sự biến chất của ĐSVN từ đảng lãnh đạo sang đảng toàn trị: đảng rất lớn, quyền lực rất lớn, song hầu như toàn đảng chỉ còn chức năng là công cụ để phục vụ quyền lực trong đảng ngự trị đất nước. 

Vài nét khái quát như thể để nói lên tính bức thiết ĐCSVN hôm nay cần tự thay đổi chính mình và thay đổi những gì. Chính vì những lý do này, thư ngày 09-08-1995 của thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt vấn đề: Đảng phải thay đổi về đường lối, và trên cơ sở đó thay đổi về tổ chức! Mong sẽ có dịp được bàn bạc chủ đề trọng đại này. 

Cần lưu ý một thực tế khách quan: Vấn đề đảng chính trị trong một thể chế quốc gia độc lập có chủ quyền luôn luôn là một vấn đề khó, biến đổi không ngừng trong quá trình vận động và phát triển của mỗi quốc gia. 

Hiện nay nổi lên mấy vấn đề: 

1. Tại các nước phát triển có thể chế chính trị đa nguyên, đảng phái chính trị thường xuyên đứng trước nguy cơ không theo kịp về nhiều phương diện như tổ chức, đường lối, phương thức hoạt động… trước những đòi hỏi và thách thức trong quá trình vận động của đất nước. Song chính những nguy cơ này là động lực quyết định, thường xuyên thôi thúc sự vươn lên và cạnh tranh mất / còn của các đảng phái chính trị. Đương nhiên, chính trị (như tôi vẫn coi là bẩn thỉu) nhiều khi không có khái niệm đạo đức, mọi cái xấu và cái ác đều có thể xảy ra ở các đảng phái chính trị trong thể chế đa nguyên, song cũng được kiểm soát đáng kể bởi chính thể chế chính trị dân chủ đa nguyên. Cho đến nay văn minh của xã hội loài người về tổ chức thể chế quốc gia chưa có cái gì có thể đi xa hơn sự vận động của hệ thống rường cột kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự. Do đó hoàn thiện hệ thống rường cột này và làm cho nó thích nghi với sự vận đông không ngừng và đầy biến động trong cuộc sống vẫn là vấn đề hàng ngày của mọi nước phát triển. 

2. Tại các nước có chế độ toàn trị một đảng, vì không có sức ép của kinh tế thị trường, không có môi trường cọ sát / sàng lọc của xã hội dân sự và thể chế nhà nước pháp quyền dân chủ, nên ngoài những nguy cơ hay thách thức của những đảng chính trị trong thể chế đa nguyên nói trên (tuy không có nguy cơ cạnh tranh với các đảng phái khác, nhưng thay vào đó lại là áp lực của xung đột quyết liệt giữa dân và chế độ toàn trị), còn có thêm những nguy cơ như: ăn bám (thường bị gọi trẹo đi là tính phong kiến, gia đình trị…), bảo thủ, mafia hóa, bè phái, cục bộ, phát xít hóa... Cuối cùng – gần như không có ngoại lệ - đảng trên thực tế biến thành công cụ của quyền lực đảng. Đấy là những nguy cơ có xuất xứ cấu thành từ 2 nguồn gốc: (a)do thể chế sinh ra, và (b)do tha hóa đạo đức con người. Những nguy cơ đặc thù này trong chế độ toàn trị cho thấy việc thay đổi, đổi mới đảng của chế độ toàn trị hầu như là không thể nếu không gắn hữu cơ với thay đổi thể chế chính trị. 

Vì vậy, nếu không tiến hành cải cách để thay đổi thể chế chính trị, tất yếu sẽ dẫn tới hệ quả: Chế độ chính trị sớm muộn sẽ đi tới sụp đổ, qua đó xóa bỏ sự tồn tại của đảng như đã xảy ra ở các nước LXĐÂ. Hoặc đảng càng muốn tồn tại, thì càng phải toàn trị hơn nữa, như đang diễn ra ở Trung Quốc, Việt Nam… 

3. Cuộc sống không ngừng phát triển, khả năng xử lý của con người thường phải đuổi theo sau những vấn đề mới nẩy sinh – hiện nay là xuất hiện nhiều vấn đề mới chưa có lời giải trong quá trình phát triển vả biến động không ngừng của toàn cầu hóa và của những tác động mới của cách mạng công nghiệp 4.0, người ta đã phải nói đến những bất cập mới của thể chế dân chủ và của một số giá trị hiện hành, nảy sinh từ những vận động và phát triển mới của cuộc sống[9]. Toàn bộ hiện tượng bất cập này (tôi xin tạm dùng khái niệm này) được quan sát rất rõ qua những cuộc bầu cử vừa qua ở một số nước phát triển, hiện tượng Trump ở Mỹ, hiện tượng các trào lưu dân túy mới lây lan nhiều quốc gia như một bệnh cúm với mọi biểu hiên phái sinh khác nhau (bao gồm cả một số hiện tượng phát xít, phân biệt chủng tộc, hiện tượng đòi ly khai hay chia tách quốc gia…), vấn đề di cư lao động và vấn đề nhập cư.., những xáo động trong các liên minh kinh tế, chính trị, quân sự, vấn đề Trung Quốc của cả thế giới chưa có lời giải… V.., v… Toàn bộ cái gọi là hiện tượng bất cập này là sự phát triển không ngừng và khách quan của sự vật, đặt ra cho mỗi nước – nghĩa là không loại trừ quốc gia nào – những thách thức mới trong quá trình nó xử lý mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của mình. Thực tế này đòi hỏi hơn bao giờ hết mỗi quốc gia – nhất là các nước nhỏ yếu hơn – phải giành lấy cho mình quyền và khả năng tự quyết định vân mệnh của mình trong cái thế giới đầy biến động mới. 

Xin nói ngay tại đây: Việc cải cách chính trị và đổi mới đảng của Việt Nam nếu thoát ly thực tế này sẽ tự chuốc lấy những nguy hiểm có thể. 

Như một phản ứng tất yếu, giới tinh hoa của các nước phát triển nhấn mạnh: Thế giới hôm nay hơn bao giờ hết đòi hỏi các quốc gia của họ phải được dẫn dắt bởi sự lãnh đạo anh hùng… (heroic leadership – Niall Ferguson – hàm ý người lãnh đạo tài ba và đảng chính trị mạnh)[10]

Đến đây có thể rút ra: 

Những thách thức trong thế giới đã sang trang đi vào cục diện quốc tế mới khiến Việt Nam đứng trước đòi hỏi không có đường lùi (như đã trình bầy trên): Phải tiến hành cải cách chính trị đưa đất nước tiến lên phía trước, bắt đầu từ thay đổi ĐCSVN trở thành đảng của dân tộc. 

Song lựa chọn những mục tiêu nội / ngoại và những bước đi, cách đi thế nào là đúng với lực / đòi hỏi của nước ta và đồng thời thích nghi tối ưu thế giới hôm nay? 

Đấy là câu hỏi xin cùng nhau quan tâm nghiên cứu, mổ xẻ. 

Dưới đây tôi xin trình bầy một số suy nghĩ vô cùng sơ bộ ban đầu. 

Cần xác định mục tiêu chiến lược của cải cách chính trị phải thực hiện là: Giải phóng và phát huy sức mạnh dân tộc giành lấy quyền tự quyết định lấy vận mệnh quốc gia của mình trong thế giới đã hình thành một trật tự quốc tế mới và đang có nhiều kẻ điên, quyết đưa dân tộc ta vươn lên dân tộc trưởng thành của quốc gia trưởng thành, để giành vị thế đất nước phải có tại vị trí địa đầu của khu vực và trong cái trật tự mới đang hình thành của thế giới hôm nay. 

Đấy là quyết định chuyển đất nước sang một giai đoạn phát triển mới: Đất nước bắt buộc phải vứt bỏ thân phận “miếng da lừa”, để đổi đời trong thế giới hôm nay, thức tỉnh ý chí và sức mạnh dân tộc thực hiện bằng được! Đó thực sự là một thay đổi mang tính chất cách mạng dân tộc và dân chủ của đất nước, do đòi hỏi phát triển tự thân của đất nước và do bối cảnh thế giới mới hôm nay đặt ra cho nước ta. Toàn dân phải giác ngộ đưa tổ quốc mình bước vào giai đoạn quyết liệt này. 

Riêng đối với ĐCSVN với tích cách là đảng độc quyền trong chế độ toàn trị hôm nay, cần nhận thức dứt khoát cải cách chính trị phải thực hiện như vậy hoàn toàn không phải là một giải pháp tình thế đảng phải chấp nhận. Tuyệt đối không nên tư duy như vậy. 

Trong thâm tâm mỗi người đảng viên, trước hết là trong hàng ngũ những người nắm quyền lực trong đảng, cần xác định cải cách chính trị lần này là khắc phục lỗi lầm đối với đất nước, vì đã bỏ qua nhiệm vụ thiêng liêng đã hứa và lẽ ra đã phải thực hiện sớm nhất có thể sau 30-04-1975: Trao lại cho nhân dân với tính cách là người tự do quyền làm chủ đất nước độc lập thống nhất! Đảng dẫn dắt nhân dân theo đảng kháng chiến cứu nước, nhưng giành được thắng lợi thì đảng tiếm quyền trở thành người chủ đất nước và cai trị dân! [Tôi đã trình bầy suy nghĩ này trong “Dòng đời” và trong nhiều bài viết khác, kể cả những bài và thư đã gởi trực tiếp cho lãnh đạo đảng và nhà nước.] 

Còn một chuyện nữa cũng phải rành rẽ: Không thể bê nước ta đi đâu được, phải tìm cách sống đàng hoàng, hữu nghị thật, hợp tác thật – bền vững, lâu dài với Trung Quốc, song không theo ai và chống ai mà chỉ theo lẽ phải, cùng đi với cả nhân loại văn minh, cũng không để cho ai khuất phục ta. 

Nhất là xin đừng mơ hồ, nhầm lẫn như lâu nay: 

- Nhiệm vụ chính trị duy nhất và tối cao của ĐCSVN đối với nước Việt Nam trong cục diện thế giới hôm nay là phải bứt bằng được đất nước ta ra khỏi thân phận trở thành “miếng da lừa”, để quyết trở thành quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc. 

- Còn từ lâu, và gần đây nhất tại đại hội 19, ĐCSTQ đã tự khẳng định nhiệm vụ chính trị đời đời của nó là phục hưng đế chế Trung Hoa “để dẫn dắt” thế giới, trao cho Tập Cận Bình cầm cương đất nước suốt đời để thực thi! 

Hai nhiệm vụ chính trị của 2 đảng khác nhau như nước với lửa, như ngày và đêm như vậy. Tại đây, xin đọc lại cuối Phần một đánh giá về ngoại giao của nước CHXHCNVN, trong đó so sánh ĐCSVN với ĐCSTQ, để thấy rõ sự khác biệt trên mọi phương diện đối nội và đối ngoại giữa hai đảng này. 

Chúng ta phải tự vươn lên thành người trưởng thành, không bao giờ bài Hoa, nhưng cũng không đánh mất mình, để sống làm người biết tự trọng và giành lấy sự tôn trọng. 

Xin hãy xác định rành mạch với nhau mọi bề về nhiệm vụ, nghĩa vụ và đạo lý như thế, để tiến hành cải cách chính trị đúng hướng, thực tâm, quyết tâm, hết lòng và kiên định đến cùng! 

Trên hết cả, đất nước đang bước vào một trật tự quốc tế mới, cùng với đòi hỏi tự thân của phát triển đất nước phải đi vào giai đoạn mới, tất yếu đất nước phải có sự lãnh đạo mới của tinh hoa đất nước. ĐCSVN hôm nay phải quyết tự thay đổi chính mình để thực hiện được nhiệm trọng đại này: Quyết tự cải tạo để trở thành lực lượng tinh hoa của dân tộc. 

Nếu ĐCSVN hôm nay và đội ngũ lãnh đạo của nó không xác định rành mạch như thế, sẽ chẳng có gì để bàn về nhiệm vụ cải cách chính trị nữa. Mà như thế, con đường cải cách đi qua ĐCSVN cũng sẽ không thể có lý do để tồn tại. 

Về đại thể, cải cách chính trị nên chia làm 2 thời kỳ: 

(a) sớm hình thành một nền nội trị vững mạnh như một điều kiện tiên quyết giải phóng mọi năng lượng quốc gia cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đủ sức sẵn sàng ứng phó mọi tình huống – cơ hội cũng như thách thức – đây là cái nhất biến để ứng vạn biến; 

(b) xây dựng một thể chế quốc gia dân tộc và dân chủ trên nền tảng kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự để trở thành nước phát triển. 
Để tiến hành cải cách chính trị, đảng cần đổi mới chính mình đi trước một bước, để dẫn dắt toàn bộ quá trình cải cách của đất nước. 

Theo suy nghĩ của tôi, đảng nên dựa vào tiến trình cải cách chính trị của đất nước, xây dưng lại đảng về đường lối và về tổ chức, để trở thành một đảng của dân tộc và dân chủ, phấn đấu là lực lượng tinh hoa của đất nước, đưa quốc gia trở thành một nước phát triển, như thủ tướng Võ Văn Kiệt đã kiến nghị trong thư 09-08-1995. 

Về nhiều mặt trên thực tế, đổi mới đảng như thế gần như là hình thành nên một đảng mới, thiết lập nên từ đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới của quốc gia trong bối cảnh trật tự quốc tế mới hôm nay. Đây sẽ phải là một chính đảng kế thừa xứng đáng tiền thân của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giành lại độc lập – thống nhất cho đất nước. Nói cho hết nhẽ: Toàn bộ nhiệm vụ đổi mới đảng như vậy là tìm con đường thay đổi ĐCSVN hôm nay về tất cả, để từ lực lượng chính trị lớn nhất cả nước này hình thành nên một lực lượng tinh hoa của dân tộc! Đây là một siêu nhiệm vụ, như phải chọn giữa sống và chết vậy! Làm được thì sống, không làm được thì chỉ còn cách để cho quá trình tha hóa làm nốt nhiệm vụ thối rữa đến không còn gì của nó! Mong trí tuệ trong đảng phải thức tỉnh điều này. 

Có thể tôi duy tâm, song nói hết lời: Trong thâm tâm tôi muốn ĐCSVN hôm nay tự thay đổi đúng với tinh thần tự cải tạo chính mình để trở thành đảng của dân tộc, kế thừa xứng đáng truyền thống cách mạng vẻ vang của các bậc tiền bối đã hoàn thành sự nghiệp giành độc lập và thống nhất đất nước. Với nội dung triết học và đạo lý như vậy tự cải tạo vì nước sẽ mở ra một trang sử mới: Đảng có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ tổ quốc đặt ra trong cục diện quốc tế mới hôm nay! 

Với cách đặt vấn đề như vậy, để thay đổi chính mình, đảng cần 

- Xác định những nhiệm vụ chính trị phải thực hiện để tiến hành thành công cải cách chính trị với các mục tiêu chiến lược như đã nêu trên. Tất cả phải xoay quanh và phục vụ 2 nhiệm vụ trung tâm: (1) Sớm đưa nước ta trở thành nước phát triển cùng đi với cả thế giới; (2) Xử lý thành công mối quan hệ với Trung Quốc. 

- Xây dựng phương thức đảng thực hiện những nhiệm vụ chính trị của mình trong quá trình tiến hành cải cách chính trị trên cơ sở hoàn thiện và phát huy hệ thống rường cột quốc gia là kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự. 

- Tổ chức lại đảng cho phù hợp với vai trò, nhiệm vụ, chức năng và phương thức vận động của đảng trong thể chế rường cột của quốc gia là kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự. 

Trong bài “Cùng nhau mở con đường cải cách, đưa đất nước vào thời kỳ phát triển mới”[11] tôi đã kiến nghị sơ bộ nội dung và tiến trình cuộc cách chính trị như đang nói ở đây. 

Xin đặc biệt lưu ý: Đòi hỏi phát triển tự thân rất quyết liệt của đất nước và những thách thức mới rất gay gắt của thế giới bên ngoài đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới (1) đã làm lỗi thời tư duy và hiểu biết chúng ta sẵn có, (2) đặt chúng ta trước nhiều vấn đề chưa có lời giải, và (3) đòi hỏi chúng ta phải bỏ lối nghĩ và cách làm ăn theo kiểu “copy & paste) để tìm cho ra con đường sáng tạo riêng, lối đi riêng của đất nước để sống sót, tồn tại và phát triển. Vì 3 đòi hỏi sống còn này, trong bài tôi đã đề nghị và nêu ra những lý lẽ phải vượt lên trên mọi ý thức hệ và từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin rất sai lầm được du nhập vào nước ta[12]. Thay vào đó là lấy các giá trị trường tồn trong văn minh nhân loại, những kiến thức và trí thức mới của thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 để tìm ra lối đi và những quyết sách phục vụ 2 nhiệm vụ trung tâm, với tinh thần đời đời cha chuyền con nối quyết thực hiện bằng được! 

Hơn thế nữa, con đường đất nước ta đã trải qua trong 2 thế kỷ vừa qua, nhất là từ năm 1930 cho đến hôm nay, đã mang lại cho đất nước ta một kho tàng quý báu những kinh nghiệm và bài học thành / bại rất đắt, rất hữu ích, hiếm có quốc gia nào có được! Tôi dám cả quyết: Nếu có ý chí và bản lĩnh vận dụng kho tàng kinh nghiệm và bài học này của quốc gia trong tầm nhìn mới của tri thức hiện tại, chắc chắn nhân dân ta sẽ thực hiện thành công 2 nhiệm vụ trung tâm của quốc gia. 

Tôi xin nhấn mạnh: Cuộc cải cách chính trị đất nước ta nhất thiết phải tiến hành như đang bàn tới ở đây trước hết là sự nghiệp của toàn dân, để nhân dân tự vươn lên thay đổi chính mình. Đây không phải chỉ đơn thuần là một cuộc cải cách chính trị do đảng đề xướng và vận động nhân dân thực hiện! Hoàn toàn không phải thế! Mà trước hết nó phải là cuộc cải cách của chính nhân dân thực hiên, cho mình và vì mình, để thay đổi chính mình! Sẽ không phải là quá lời nếu cho rằng: Nhân dân ta cần thông qua cuộc cải cách chính trị quá muộn mằn này để đổi đời chính mình thành người trưởng thành! 

Là lực lượng chính trị lãnh đạo, đảng cần đề xướng cuộc cải cách vỹ đại này, đánh thức nhân dân tự đứng lên thực hiện. Làm như thế chính là lãnh đạo! Lý do cơ bản: Nhân dân ta phải tự giác ngộ đứng lên giải phóng chính mình – nhiệm vụ khó nhất từ trước đến nay như tôi đã nêu ra trong kết luận của “Dòng đời” và của nhiều bài viết khác. Không ai có thể làm thay được cho nhân dân nhiệm vụ tự giải phóng mình như vậy! Thực tế 43 năm độc lập thống nhất vừa qua đã chứng minh thực tế này. 

Tôi hoàn toàn tin rằng, nếu nhân dân giác ngộ được cuộc cải cách này là của chính mình, nhằm đổi đời chính mình, phải tự mình làm lấy, chắc chắn nhân dân sẽ thực hiện thắng lợi, sẽ không thể có đất cho bạo loạn hay lất đổ len chân vào! Thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám vả 4 cuộc kháng chiến có nhiều ví dụ chứng minh nhân dân biết bảo vệ sự nghiệp của mình. Xin lưu ý kỹ điều này. 

Xin nhớ lại cho, trong Cách mạng Tháng Tám tôi được chứng kiến sự giác ngộ vô song này của nhân dân. Cả nước lúc bấy giờ mới có 5000 đảng viên. Hồi ấy nhiều huyện và xã thậm chí không có 1 đảng viên nào, nhân dân giác ngộ vai trò của mình, tiếp nhận đường lối chính sách của đảng, tự đứng lên làm chủ, tự giải quyết những công việc của mình và địa phương mình: Giành chính quyền, đưa đất nước vào cuộc kháng chiến lịch sử. 

Huyện Yên Bình – nơi gia đình tôi sống thời kháng chiến chống Pháp, phần lớn địa phương của huyện là công giáo – bố tôi cho biết một thời gian dài lúc đầu toàn huyện và cơ quan huyện ủy chỉ có vài đảng viên, nhưng hồi ấy không công khai. Xã chúng tôi sống không thấy có một đảng viên nào, trường Trung học ở Yên Bái thời tôi học cũng không có đảng viên nào… Song đâu đâu cũng thống nhất một chí hướng và hành động tất cả cho kháng chiến thắng lợi! Vì nhân dân giác ngộ được và coi sự nghiệp kháng chiến cứu nước là của mình, nên tự thực hiện được như vậy! 

Phải nói ngay tại đây, nội dung của lãnh đạo rõ ràng là giúp dân tự giác ngộ đứng lên làm những việc của dân như vậy, chứ không phải “dắt” dân hay “áp đặt” lên dân! Sẽ chẳng còn mấy ý nghĩa, và chắc gì kháng chiến thắng lợi được như vậy, nếu như nhân dân chỉ vì theo đảng, hay chỉ vi bị đảng ốp mà chiến đấu!? 

Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm riêng của mình trong kháng chiến chống Mỹ: Có lúc cơ sở vùng bị càn quét trắng xóa không còn đảng viên nào, bản thân ông cũng được dân giấu kín sang vùng khác, song sức kháng chiến tại chỗ của nhân dân tự giác ngộ tự nó phục hồi dần… Bài học này hôm nay quý giá vô cùng: Sự giác ngộ của dân. 

Nói cuộc cải cách phải tiến hành hôm nay là sự nghiệp của dân với tinh thần nêu trên là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ! Nhân dân hôm nay còn phải được học và giác ngộ từ học, từ đó mới có thể đứng lên tiến hành cải cách chính trị với nghĩa tự đổi đời chính mình thành người công dân tự do của đất nước tự do! 

Vì vậy, tôi thực sự muốn nói: Đây phải là cuộc cải cách của học tập, dân phải học từ A đến Z để đứng lên tự thực hiện![13]

Trước hết phải học để tự giải phóng chính mình khỏi tàn dư văn hóa cũ và lối tư duy cũ – kể cả lối tư duy nằm bên trong cái bóng của văn hóa Trung Quốc. Phải học vì 43 năm qua tuyên giáo và lý luận của đảng đã mang vào tâm thức và ý thức của dân – ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường – nhiều điều sai trái. Phải học, vì để trở thành người công dân tự do của đất nước đã đành! Mà còn phải học, bởi vì là công dân tự do cũng có nghĩa là tự giác nhận về mình trách nhiệm và nghĩa vụ cao nhất của mình đối với dân tộc, đối với đất nước – không học, sao làm được! Phải học, còn vì đất nước có những đòi hỏi phát triển hoàn toàn mới, trong khi đó thế giới hôm nay đặt ra cho mỗi công dân và đất nước ta những cơ hội và thách thức chưa từng có! Phải học, vì để sống, mỗi chúng ta hôm nay còn phải trở thành công dân của thế giới. 

Một cuộc cải cách của học tập, do người dân giác ngộ thực hiện, tự nó đã loại bỏ đáng kể mọi nguy cơ lợi dụng cải cách theo đuổi những âm mưu bạo loạn, lật đổ! Cũng như trong làm Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến cứu nước vậy, dân đứng lên và có dân – đất nước sẽ có tất cả. Một đảng lãnh đạo làm được như thế cũng sẽ có tất cả cho đất nước! Vậy sợ dân để trì hoãn cải cách, trì hoãn việc thực hiện các quyền tự do – dân chủ của dân, động cơ tư tưởng sâu xa bên trong là vẫn muốn tiếp tục thống trị một nhân dân được bao bọc trong ngu dốt mà thôi! 

Thách đố thực sự đối với ĐCSVN hôm nay, không phải là nguy cơ cải cách có thể dẫn tới bạo loạn sụp đổ! Thách đố này chỉ xảy ra nếu đảng không chịu khắc phục những yếu kém của chính mình. Thách đố thực sự là ĐCSVN hôm nay có đủ tầm nhìn để nhận ra tầm vóc một cuộc cải cách chính trị như thế hay không?, có tâm vì nước, có ý chí thực hiện cải cách với quan điểm đây là cuộc cải cách của nhân dân để nhân dân tự đổi đời chính mình và thay đổi đất nước hay không?! Thách đố khó nhất: ĐCSVN hôm nay có dám tự cải tạo chính mình để chấp nhận nhiệm vụ chiến đấu mới này hay không!? 

Hy vọng, tôi đã trình bầy được đôi điều vì sao ĐCSVN hôm nay phải thay đổi chính mình, thay đổi những gì, và thay đổi như thế nào. 
VI. Nhìn nhận Trung Quốc hôm nay như thế nào? 

Cả thế giới đang tự hỏi mình như thế, không phải chỉ có mỗi Việt Nam chúng ta. 

Đã có một câu trả lời được khá nhiều người chấp nhận: Thế kỷ 21 là thế kỷ Trung Quốc. Song nội dung thế nào là thế kỷ Trung Quốc (the Chinese century), lại tranh cãi nổ trời. 

Trong bài viết ngày 06-11-2017 nhân dịp các cuộc tranh luận ở nước ta về kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, tôi đi tới kết luận: Sau thế kỷ đỏ, sẽ là thế kỷ xám![14] – hàm ý đó là một thế kỷ chịu ảnh hưởng rõ nét của đế chế Trung Hoa thời kỳ phục hưng, đại thể có quy mô tầm vóc thế giới như Cách mạng Tháng Mười đã ảnh hưởng đến thế kỷ 20 – song không phải với sự hứa hẹn “một mùa xuân nhân loại”, mà một thứ gì đó rấtTrung Quốc!.. Tuy nhiên, tôi thực sự vẫn chưa xác định rõ được, đấy sẽ là ảnh hưởng của một Trung Quốc nào… Trung Quốc của Khổng tử chăng? Hay một Trung Quốc như Lỗ Tấn nhìn nhận? Một Trung Quốc trong “Death by China” của Navarro? Hay là một Trung Quốc với mọi sắc thái khác nhau xuyên suốt và liên tục từ thời Mao Trạch Đông cho đến hôm nay – bao gồm cả những gì Việt Nam đã nếm trải trong 6 thập kỷ vừa qua! Một thế kỷ xám dưới ảnh hưởng của một Trung Quốc gồm tất cả những gì đã làm nên nó trong lịch sử cho đến hôm nay?.. 

Thực sự tôi muốn từ góc độ lịch sử và văn hóa tìm hiểu xem nội dung ảnh hưởng Trung Quốc này sẽ đem đến cho thế giới những gì! 

Tôi gọi thế kỷ Trung Quốc là thế kỷ xám hàm ý: Đế chế trên đường phục hưng này đang gây ra một tác động kép đối với thế giới còn lại. 

Đấy là: (a) một đế chế - như lịch sử các đế chế ra đời trên thế giới đã chứng kiến, bao giờ cũng tác động mạnh mẽ trước hết đến ngoại vi chung quanh nó, rồi lan rộng ra trong thế giới còn lại; và (b) đế chế phục hưng này là Trung Hoa, nên tác động của nó gây ra cho cả thế giới còn lại sẽ là “tác động theo kiểu Trung Hoa”. 

Đã xuất hiện nỗi lo ngại của một bộ phận quan trọng trong chính giới ở Mỹ và các nước phương Tây, coi hiện tượng Trung Quốc là một “quái vật Frankenstein” (bắt đầu gọi như vậy từ Nixon khi về hưu). Frankenstein là một quái vật người do chính con người tạo ra, song hệ quả cuối cùng là con người hoàn toàn không điều khiển được nó và chịu bất lực trước nó! Cùng dòng suy nghĩ này nhưng ôn hòa hơn thì gọi Trung Quốc hôm nay vẫn là một quyển sách đóng (a closed book) – với nghĩa còn là một bí mật, chưa thể hiểu được. 

Vân vân… 

Sự thật là Trung Quốc vẫn là một quyển sách đóng, mặc dù trên những phương diện nào đó đã hé lộ nhiều nét cơ bản từ cái gốc văn hóa Trung Quốc. Phần cao điểm – và nhất là phần kết của cuốn sách vẫn còn đóng kín– với nghĩa nó chưa được viết ra, vì còn tùy thuộc rất nhiều vào diễn tiến mọi vận động khác nhau của thế giới hôm nay. Đơn giản vì trong lịch sử cho đến nay chưa từng có một đế quốc nào có thể một mình chi phối thế giới. Hơn thế nữa, Trung Quốc hôm nay bước vào trung tâm vũ đài thế giới với tính cách là kẻ đến muộn nhất! 

Trước khi bàn tiếp, xin điểm lại một vài hiện tượng (facts). 

Trong khoảng 4 thập kỷ, kể từ khi bắt đầu đổi mới 1978 đến đại hội 19 ĐCSTQ (2018), GDP danh nghĩa tính theo đầu người của Trung Quốc từ 400 USD tăng lên gần 10.088 USD, nghĩa là tăng khoảng 25 lần cho một nền kinh tế hiện nay có 1,3 tỷ dân – (GDP pc của TQ hiện nay gấp 4 lần của VN)[15]. Lần đầu tiên trên thế giới có một hiện tượng thần kỳ như vậy – trong khi đó đế quốc Mỹ đi vào giai đoạn thoái trào. Sẽ là một ngộ nhận vô cùng nguy hiểm nếu hiểu sự thần kỳ này như một thành tựu của chủ nghĩa xã hội dù bất kỳ loại gì, hay là một thắng lợi của chủ nghĩa Marx như đang được giảng giải ở Trung Quốc, dù rằng TBT Tập Cận Bình tại đại hội 19 đã gọi đấy là chủ nghĩa Marx Trung Quốc hóa và hiện đại hóa.[16]

Vượt lên thời Mao một bước, ĐCSTQ hôm nay giương cao ngọn cờ tư tưởng Tập Cận Bình (chủ nghĩa dân tộc của đế chế Trung Hoa phục hưng), chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới (cũng có chỗ nói là kỷ nguyên mới) và chủ nghĩa Marx Trung Quốc hóa - hiện đại hóa như một bửu bối thiêng liêng của chế độ toàn trị Trung Quốc, nhằm tập hợp 1,3 tỷ dân Trung Quốc thành một khối sắt thép trong mặt trận thống nhất cho mục tiêu giấc mộng Trung Hoa, bản thân Tập trở thành lãnh tụ suốt đời cho thực hiện sự nghiệp này. Có thể nói đây là cao điểm mới chưa từng có của chủ nghĩa dân túy trong lịch sử nước CHNDTH, nó đi xa hơn rất nhiều so với thời kỳ cách mạng văn hóa, lại diễn ra cùng vào lúc chủ nghĩa dân túy đang rộ lên ở phương Tây và nhiều nơi khác trên thế giới. Sự hỗn loạn trên thế giới như được tiếp sức, càng được Trung Quốc khai thác triệt để! 

Tại đại hội 19 của ĐCSTQ, Trung Quốc trịnh trọng tuyên bố chính thức bước vào trung tâm của vũ đài thế giới, coi đối thủ số 1 là Mỹ, với chương trình sẽ vượt Mỹ trong thập kỷ 2030s, sẽ có lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới, và sẽ trở thành người dẫn dắt thế giới. Đấy cũng là toàn bộ nội dung giấc mộng Trung Hoa. 

Giới chuyên gia Mỹ thừa nhận: Hơn hẳn so với thời Mao, về đối nội hiện nay Trung Quốc đã sẵn sàng cho tình hình chiến tranh, thể hiện rõ nhất trong những đe dọa sẵn sàng sáp nhập Đài Loan. Hội đồng chiến lược an ninh quốc gia Mỹ nhận định Trung Quốc trực tiếp thách thức Mỹ, quyết thay đổi trật tự thế giới hiện có theo cách có lợi cho Trung Quốc. 

Xin đặt sang một bên những đánh giá về đạo lý của quá trình phát triển này và nhiều vấn đề tồn tại bên trong của nó, để thấy rõ một nét cơ bản: Đội ngũ tinh hoa của truyền thống đế chế Trung Hoa, hiện thân trong hàng ngũ lãnh đạo và chính giới của nó, sau những thử nghiệm thất bại của Mao, đã xác định sự rối loạn của thế giới bước vào trật tự quốc tế mới hôm nay trong đà đi xuống của Mỹ là cơ hội có một không hai quyết phải nắm lấy, để dẫn Trung Quốc tới mục tiêu phục hưng đế chế của mình. 

Bức tranh siêu cường trên thế giới hiện này là: Trung Quốc là đế chế trên đường phục hưng đang lên, đế chế Nga của Putin đang tìm cách phục hồi nhưng chật vật, đế chế Mỹ đang trên đà đi xuống. 

Nhìn lại, đế chế Trung Hoa trên đường phục hưng đã bắt đầu con đường đi lên của nó với cột mốc đầu tiên là mèo trắng hoặc mèo đen, miễn là bắt được chuột (Đặng Tiểu Bình), nhất quán qua những bước đi khác nhau, hiện nay đang đứng ở cột mốc hôm nay là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc kỷ nguyên mới (ĐH 19 của ĐCSTQ). Gọi cột mốc này là chủ nghĩa tư bản đặc sắc Trung Quốc cũng là cùng một nghĩa (Martin Jacques[17])! Trên con đường này cho đến hôm nay, Trung Quốc trên đường phục hưng không diễn ra như Mỹ và thế giới phương Tây ảo tưởng: càng phát triển, Trung Quốc sẽ đi vào con đường càng dân chủ hơn. Sự thật đang diễn hoàn toàn ngược lại: Trung quốc càng phát triển, thế giới càng Trung Quốc hơn, đang tạo ra một trật tự quốc tế mới theo hình ảnh của nó (Martin Jacques)[18]

Với nền kinh tế có quy mô lớn thứ 2 thế giới, và là một thị trường mà các nền kinh tế lớn trên thế giới không thể bỏ qua, quyền lực mềm của Trung quốc đã luồn sâu đáng kể tại không ít quốc gia trên thế giới. Đồng thời chủ nghĩa thực dân mới của Trung Quốc đã bỏ xa chủ nghĩa thực dân mới của các nước tư bản thời sau chiến tranh thế giới II. Nhiều thể chế và định chế là rường cột làm nên trật tự kinh tế và chính trị hiện hành của thế giới đã và đang bị Trung Quốc và phương thức phát triển của nó làm méo mó hoặc bị lũng đoạn đáng kể.Chiến lược “một vành đai một con đường” được xem như một đòn bẩy kinh tế phục vụ việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của đế chế Trung Hoa, Việt Nam được coi là một trong những cột mốc quan trọng. 

Trung Quốc đã hoàn thành hệ thống những căn cứ quân sự xây trên các đảo lấn chiếm ở Biển Đông. Qua việc khống chế vùng này bằng sự có mặt thường trực và ngày càng gia tăng về quân sự, giới quân sự Mỹ và NATO đánh giá: về cơ bản Trung Quốc đã thực hiện được trên thực tế (de facto) việc chiếm Biển Đông. Trung Quốc đã thiết lập vùng cấm bay trên biển Hoa Đông, thuê được căn cứ quân sự ở Djibouti (châu Phi), đang tìm chỗ đứng trên bờ biển Pakistan. 

Trong phạm vi nhất định và trên những vấn đề có thể, Trung Quốc ủng hộ nỗ lực của Nga trong việc hình thành một liên minh Nga - Thổ - Iran cùng với một số lực lượng hồi giáo nổi dậy (được Thổ và Iran đỡ đầu) tại Trung Đông, dưới dạng như một trục chống Mỹ và những đồng minh các loại của Mỹ ở khu vực này. Hiện nay Trung Quốc đang xúc tiến việc hợp tác với Nga trong đầu tư vào Syrie để củng cố chính quyền Assad; đang triển khai mạnh mẽ đại chiến lược đi vào Trung Đông, đồng thời nhằm vào nguồn tài nguyên dầu khí khổng lồ của vùng này. Từ khi Trump lên cầm quyền, cùng với tác động của Brexit (Anh), Trung Quốc đảy mạnh khai thác sự rạn nứt quan hệ mọi mặt giữa Mỹ và các đồng minh Tây Âu. 

Mỹ cũng nhìn nhận Trung Quốc là đối thủ nguy hiểm nhất của mình, đã lấn sân đáng kể ảnh hưởng của Mỹ trên cả hai mặt trận kinh tế và chính trị, đang ngày càng trực tiếp đe dọa và thách thức Mỹ. Từ thời Obama đã có nhiều nỗ lực lớn nhằm xoay chuyển xu thế này (G2, TPP, trục xoay CA-TBD…), nhưng thất bại… Trump lên, muốn thay đổi tình hình này bằng thứ ngoại giao “bốp chát, mặc cả, và mua chịu…” (bình luận của báo chí Mỹ chống Trump), ngay giới báo chí Mỹ cũng bình luận: Cho đến nay Trump nói nhiều, nhưng chưa làm được bao nhiêu, thậm chí có lúc nói một đằng làm một nẻo!.. Trump đã từng chủ trương đi với Nga để tập trung mũi nhọn vào Trung Quốc, song quan hệ Nga – Mỹ (trong vấn đề Syrie) và quan hệ Nga – NATO (trong vấn đề Krim – Ucraina) có quá nhiều trở lực lớn, mặt khác EU không thể bỏ được thị trường Trung Quốc và thị trường Nga. Tất cả đang nói lên sự lúng túng của Mỹ và thế giới phương Tây trong vấn đề Trung Quốc. Tuy nhiên, lúc này lúc khác, người ta còn thấy một Trump của hòa bình dựa trên sức mạnh (peace through strength), ví dụ Trump chủ trương cùng với Thụy Điển, Na Uy và một vài quốc gia châu Âu khác thành một hợp tác (dưới dạng một liên minh) bỏ NATO sang một bên để đối phó với Nga, lý do là việc đạt được một quyết định chung của NATO hiện nay cho bất kể vấn đề gì đều dây dưa kéo dài và khó – vì EU không muốn bỏ làm ăn với Nga. Với Trung Quốc, một mặt Trump đang dứt khoát đòi Kim Chung Un loại hẳn vũ khí A khỏi bán đảo Triều Tiên, đồng thời đang tăng cường FONOPS trên Bển Đông, bãi việc mời TQ tham gia tập trận chung trên biển theo RIMPAC. 

Trung Quốc gặp bất ngờ trước những diễn biến trên bán đảo Bắc Triều Tiên, đang tìm mọi cách đối phó với mọi khả năng có thể xảy ra, trong đó có việc tăng thêm áp lực của Trung Quốc trên Biển Đông như đang diễn ra – tới mức giới nghiên cứu và quân sự Mỹ đã phát biểu công khai: Quyền lợi của Mỹ tại khu vực (liên quan cả đến tuyến vận tải biển Malacca) bị uy hiếp, báo động thượng viện Mỹ vấn đề Biển Đông chỉ có thể giải quyết được bằng chiến tranh (Ian Ralby, Philip Davidson, Orania Mastro, Peter Navarro, Robert D. Klapan, RAND-Corporation…). Hiện nay cục diện thế giới căng thẳng hơn thời kỳ chiến tranh lạnh I. Đã có tiếng nói cảnh báo từ NATO: Mỹ không nên vì vấn đề vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên mà hy sinh Biển Đông, vì sẽ là sai lầm không cứu vãn được! 

Trước tình hình Trump tuyên bố sẵn sàng chiến tranh thương mại chống Trung Quốc, nhưng đồng thời để ngỏ cửa cho đàm phán giải quyết vấn đề - có ý kiến nói trong đàm phán này Trump đang thua. Trung Quốc đáp lại trên 3 phương diện: (1) sẵn sàng đàm phán, (2) sẽ đối đầu quyết liệt trong chiến tranh thương mại nếu xảy ra, (3)gây sức ép phụ trợ từ mọi vấn đề có thể nhằm vào Mỹ trên những vấn đề khác, mặt trận khác – bao gồm cả huy động sự tham gia / hợp tác có thể từ các đồng minh của Trung Quốc. 

Nhìn chung có thể dự báo: Về cơ bản Trung Quốc có thể thực hiện được ở mức độ đáng kể những mục tiêu chiến lược đã đề ra cho tới 2030 – 2035 ngoại trừ trường hợp bất khả kháng như nổ ra chiến tranh thế giới III hoặc chiến tranh lớn trong khu vực. Trong khung thời gian này, nền kinh tế Trung Quốc có quy mô vượt Mỹ là hoàn toàn có thể, khoảng cách phát triển so với Mỹ thu hẹp nhanh, tuy nhiên Trung Quốc không thể trở thành kẻ dẫn dắt thế giới – trước hết vì bản chất Trung quốc không phù hợp với khái niệm win-win, văn hóa Trung Quốc có quá nhiều khác biệt so với xu thế phát triển của văn minh nhân loại, một nguyên nhân cơ bản đã từng dẫn tới Trung Quốc đánh mất cả một thế kỷ kể từ cuộc chiến nha phiến I (1839 – 1842) cho đến khi CHDCNDTH ra đời 1949. 

TQ có ưu thế lớn về sức mạnh uy hiếp tại chỗ, song về toàn cục vẫn yếu hơn Mỹ, đang ra sức tận dụng thời cuộc hiện nay cho tăng cường thế chiến lược tại Biển Đông – rất nhức nhối cho các nước láng giềng, tăng cường tạo nên “phe trục” đối phó với Mỹ, song vẫn tìm cách tránh đối đầu tực tiếp với Mỹ. Nội trị TQ vẫn còn nhiều vấn đề lớn nan giải, nên càng phải siết và đồng thời hướng mọi mâu thuẫn ra bên ngoài dưới ngọn cờ của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và giấc mộng Trung Hoa. 

Xin dành cho việc phân tích sâu tình hình và hệ quả mối quan hệ Trung Quốc – Mỹ và quan hệ bộ 3 Trung – Mỹ - Nga trên đấu trường quốc tế hiện nay cho một nơi khác (không thuộc phạm vi cuốn sách nhỏ này). Chỉ xin lưu ý tại đây: quan hệ song phương Việt – Trung không là phải là mối quan hệ song phương đơn thuần của hai nước; nhất là vấn đề Việt Nam – bao gồm cả vấn đề Biển Đông – luôn luôn là một thành phần hữu cơ như một vật để đổi chác trong trò chơi quyền lực hoặc là giữa quan hệ tay đôi Trung Quốc – Mỹ, hoặc là giữa bộ ba Trung – Mỹ - Nga. 

Không thể nói khác: Từ nay đến một vài thập kỷ tới, Trung Quốc Tập Cận Bình quyết nắm lấy cục diện thế giới hiện tại như một cơ hội quyết định, dốc toàn lực cho sự phục hưng đế chế Trung Hoa với lọn nghĩa của nó: nghĩa là rất mác-xít đặc sắc TQ! Mục tiêu này là lẽ tồn tại của nó, song cũng chính mục tiêu này ngày nay thách thức cả thế giới và trở thành vấn đề của cả thế giới. 

Thiết nghĩ, mọi nhận thức về Trung Quốc hôm nay theo cảm súc, dù là bài hoa, hay khiếp nhược, hay thần phục chạy theo, cam chịu khuất phục.., đều không thể giúp ích gì. Đơn giản vì trong vòm trời văn hóa đế chế Trung Hoa không có khái niệm nước láng giềng hữu nghị, bình đẳng.., mà chỉ có nước triều cống, nước chư hầu, hôm nay có thể là nước triều cống thời hiện đại!..[19] Người Việt chúng ta phải bổ sung thêm: Trong vòm trời văn hóa đế chế Trung Hoa còn có: Dạy cho bài học! Và liệu hồn!.. 

Có thể nhận xét ngay tại đây: Về đối ngoại, trên thế giới hôm nay Việt Nam hầu như chỉ có những vấn đề nóng bỏng, nhiều mặt đã ở mức đối kháng – với quốc gia duy nhất là Trung Quốc. Tình hình phức tạp thêm bội phần vì Biển Đông đang trở thành nơi cọ sát trực tiếp Mỹ - Trung tiềm tàng mọi khả năng đụng độ lớn. 

Bối cảnh trong / ngoài Việt Nam hôm nay phải đương đầu trong quan hệ Việt – Trung phức tạp hơn rất nhiều so với thời kỳ phải tiến hành kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, bởi các lẽ: 

(1) hiện nay Việt Nam không có đồng minh chiến lược với đúng nghĩa; VN có khả năng rất lớn tạo ra đồng minh chiến lược, nhưng lại không có một đường lối đối nội và đối ngoại đúng đắn trên cơ sở sức mạnh dân tộc, dân chủ, đoàn kết hòa hợp dân tộc để phát huy; do đó không thoát được thân phận quốc gia leo dây; trong khi đó áp lực trực tiếp tại chỗ của Trung Quốc là toàn diện và rất lớn, hầu như tập trung trước hết vào Việt Nam – vì (a)vị trí chiến lược của VN, và (b)có thể khai thác triệt để vấn đề ý thức hệ của ĐCSVN, TQ xem VN là đối tượng dễ nắn gân nhất; 

(2) vấn đề Việt Nam xuất hiện trong mọi tranh giành của trò chơi quyền lực giữa tay đôi Mỹ-Trung hoặc tay ba Mỹ-Trung-Nga – nguy cơ trở thành vật đổi chác là thường trực; trong khi đó hầu như các nền kinh tế lớn trên thế giới rất cần thị trường Trung Quốc; 

(3) khó khăn lớn nhất: Việt Nam đang thiếu một nền nội trị mạnh toàn diện trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng để có cái bất biến ứng phó được cái vạn biến; lúc này cộng đồng dân tộc đang bị phân tán. Trong khi đó sự can thiệp của quyền lực mềm TQ và sự có mặt của TQ trong mọi lĩnh vực cuộc sống đất nước ta đã đạt tới mức độ nguy hiểm; sự cấm kỵ của chế độ chính trị - nhất là trên phương diện truyền thông – tránh né hoặc không cho dư luận đụng chạm tới vấn đề nhạy cảm này càng làm gia tăng tính chất nguy hiểm của vấn đề TQ đối với đất nước ta. 

Dù bất tương xứng như thế nào trong so sánh lực lượng giữa ta và Trung Quốc, vấn đề của nước ta không phải là tỷ lệ quá nhỏ của ta so với Trung Quốc, mà trước hết và nguy hiểm nhất của hôm nay là chưa có một đội ngũ tiên phong nhìn thấu cục diện trật tự quốc tế mới và có bản lĩnh xứng tầm dẫn dắt đất nước! 

Hiển nhiên, đất nước đang cần một cuộc cải cách chính trị vỹ đại để thoát khỏi tình hình nguy hiểm nêu trên. 

Trong lịch sử, chưa một lần Việt Nam chủ động đối đầu với Trung Quốc, hôm nay càng như thế. Trước sau vẫn tìm cách là láng giềng được tôn trọng của Trung Quốc, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Song trong lịch sử Việt Nam đã nhiều lần phải đối mặt với xâm lăng và lấn hiếp của Trung Quốc – và chưa bao giờ chịu khuất phục, cho dù luôn luôn phải rơi vào cảnh châu chấu đá voi! 

Cũng trong lịch sử, Việt Nam không dưới một lần phải quyết đối mặt trước bạo cường Trung Quốc, với đại nghĩa làm nên ý chí một lòng của dân tộc – lần đầu tiên là Diên Hồng, và rõ ràng hòa bình – hữu nghị chỉ đến với Diên Hồng! Đại nghĩa ấy hôm nay là Việt Nam của một dân tộc tự do, cùng dấn thân với cả thế giới tiến bộ cho hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. 

Có đại nghĩa như vậy, chúng ta sẽ có quyết sách mà đất nước đòi hỏi, sẽ có hữu nghị thật, hợp tác thật với Trung Quốc - hoặc là Trung Quốc sẽ chịu chấp nhận một Việt Nam hữu nghị thật, hợp tác thật như thế. 

Bối cảnh đất nước hôm nay đặt ĐCSVN đứng trước thách thức lớn nhất kể từ khi thành lập: chịu trách nhiệm trước đất nước đứng ra tập hợp trí tuệ, tâm huyết và ý chí của cả nước, đoàn kết toàn dân tộc mở ra con đường đất nước phải đi trong cục diện trật tự quốc tế mới hôm nay. 

ĐCSVN sẽ đáp ứng được thách thức này? 

Nếu ĐCSVN không đáp ứng được thách thức này, đất nước sẽ rơi sâu thêm nữa vào con đường dẫn tới thân phận Bắc thuộc lần thứ hai, như lời cảnh báo năm xưa của cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch về hội nghị Thành Đô. Điều chắc chắn nhân dân cả nước sẽ không thể khoanh tay chịu chết chấp nhận! 

Thiết nghĩ, sự phát triển của Trung Quốc như trình bầy trên đây, khách quan đặt ra thách thức quyết liệt: Từng người dân Việt Nam yêu nước lúc này hơn bao giờ hết, cần tự ý thức đầy đủ thực trạng trong / ngoài đất nước đang phải đối mặt, quyết cùng nhau một ý chí, tự nắm lấy vận mệnh của chính mình, để tự giác cùng nhau nắm lấy vận mệnh quốc gia, quyết đổi đời chính mình và cùng nhau đổi đời đất nước. Đấy là con đường sống của mỗi chúng ta và của cả nước. 

Mong sẽ có dịp được bàn sâu về đối sách của nước ta đối với vấn đề TQ. 

Song tại đây, để kết thúc phần này, xin kiến nghị một đối sách cần thực hiện ngay, càng để chậm càng nguy hiểm: 

Cả nước nên thực hiện ngay sự công khai minh bạch của thiện chí (transparency of good will) trong mọi quan hệ với Trung Quốc. 

Xin diễn giải nôm na thế này: Để gìn giữ môi trường trong sạch cho phát triển lành mạnh và bền vững mọi quan hệ hữu nghị / hợp tác của nước ta với Trung Quốc, hàng ngày phải chịu khó nhặt rác, đừng để cho từng cọng rác dù nhỏ nhất trong quan hệ 2 nước tích tụ ngày qua ngày thành đống rác thối đến một thời gian nào đó sẽ đủ lớn nhấn chìm quan hệ 2 nước, hoặc thậm chí có thể gây động loạn và dẫn đến chiến tranh. 

Cả nước trong cuộc sống hàng ngày - ở phạm vi quốc gia hay từng địa phương, từng ngành, ở phạm vi tổ chức hay cá nhân, kể từ cấp cao nhất đến người dân thường… - tất cả cần nỗ lực thực hiện sự công khai minh bạch của thiện chí như một trong những quốc sách hàng đầu để chủ động xây dựng quan hệ Việt – Trung đúng với nguyên vọng chân chính của nhân dân 2 nước. Hội Hữu nghị Việt – Trung và mọi đoàn thể xã hội trong xã hội dân sự cần thúc đẩy và hậu thuẫn nhân dân cả nước thực hiện quốc sách này. 

Từng cái sai dù nhỏ nhất xảy ra trong quan hệ 2 nước, nên công khai hóa và công bố rộng rãi tùy từng sự việc – song không phải để “đấu” nhau mà là để nhắc nhở mỗi bên liên quan phải khắc phục, hoặc làm đúng, để cả nước cả thông tin, học tập và cùng nhau rút kinh nghiệm, làm đúng… Ví dụ: Khách du lịch TQ mặc áo phông có bản đồ lưỡi bò ở Biển Đông, phía người Việt Nam đứng tên giúp người TQ mua bất động sản là bât hợp pháp .., mọi việc không đúng như thế cần nhắc nhở trực tiếp đương sự, đồng thời công khai minh bạch trên báo chí cả nước cùng biết và rút kinh nghiệm… Khi phải đấu nhau thì cũng xó lý lẽ, số liệu, dẫn chứng đàng hoàng trước dư luận thế giới. Tầu chiến hay tầu đánh cá TQ đuổi bắt hay đánh phá tầu đánh cá của ta cũng nên gọi rõ ràng và liệt kê công khai trên báo chí tại địa phương, không nên nói theo kiểu mập mờ “tầu lạ” chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Trong các công trình đầu tư có TQ tham gia, nếu có vấn đề gì cũng nên công khai minh bạch như thế để các bên liên quan tìm giải pháp khắc phục… Ngay cả trong những mối quan hệ song phương Việt – Trung có liên quan đến an ninh quốc phòng có rất nhiều vấn đề hoàn toàn có thể thực hiện tối đa sự công khai minh bạch của thiện chí như vậy, để nhắc nhở lẫn nhau ai sai ai đúng, để cả hai bên cùng tìm giải pháp khắc phục. Nên coi sự công khai minh bạch của thiện chí như thế là một thế mạnh của ta – bởi vì nước ta không bao giờ muốn gây sự thù địch với TQ. Thực hiện sự công khai minh bạch của thiện chí như thế ở phạm vi nhà nước, phạm vi cả nước và phạm vi nhân dân, phía ta sẽ trưởng thành rất nhiều và càng giương cao được ngọn cờ chính nghĩa, củng cố vị thế của đất nước trong xử lý những vấn đề của quan hệ song phương Việt - Trung. 

Rồi đây, nên áp dụng công khai minh bạch của thiện chí trong quan hệ với mọi quốc gia khác, để dần dần hình thành nên một nền ngoại giao mới của nước Việt Nam độc lập thống nhất trong trật tự quốc tế mới hôm nay. 
[1] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Đại hội XII, một thất bại chung của Việt Nam!” 

[2] Tham khảo: 

(1) Nguyễn Trung, “Thế giới đã sang trang - và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_TheGioiDaSangTrang.htm

(2) Nguyễn Trung, “Sau thế kỷ “đỏ” sẽ là thế kỷ “xám”?http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_TheKyDoXam.html 

[3] Tham khảo: Nguyễn Trung, thư ngỏ ngày 19-02-2013 gửi Bộ chính trị ĐCSVN 



[4] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc” 20-08-2014, viết về Đại hội XII của ĐCSVN, http://viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_Lu 

[5] Tham khảo: GS. Trần văn Thọ, “3 đặc khu cần trả lời 3 câu hỏi” 

http://www.viet-studies.net/kinhte/TranVanTho_BaDacKhu.html 

[6] Tham khảo: Nguyễn Quang Dy, “Câu chuyện đặc khu và hơn thế nữa” 

http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_DacKhuVaHonThe.html 

[7] Xin đừng quên rằng tại các nước phát triển luật pháp được thực hiện nghiêm minh và bất khả kháng trong mọi China-towns. Trong khi đó dù nước ta chưa có China-town nào, nhưng đã có nhiều khu kinh tế và khu nhà do người TQ vận hành mà quyền lực hành chính của ta không kiểm soát được. 

[8] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Cùng nhau mở con đường cải cách, đưa đất nước vào thời kỳ phát triển mới - Một kiến nghị tâm huyết” http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_KienNghiTamQuyet.html 
[9] Sự vật nào bao giờ cũng là một tấm huy chương 2 mặt. Toàn cầu hóa kinh tế một mặt mang lại những lợi ích lớn cho một bộ phận dân cư nào đó, song đồng thời cũng có một bộ phận dân cư bị gạt ra ngoài lề vì không thích ứng kịp. Ví dụ: Người dân các nước phát triển được hưởng lợi lớn trong tiêu dùng các sản phẩm cùng chất lượng nhưng giá rẻ do nhập khẩu từ các nước đang phát triển, song đồng thời một bộ phân dân cư nhất định tại các nước phát triển phải thất nghiệp vì công nghiệp làm ra những sản phẩm có thể nhập khẩu với giá rẻ không còn tồn tại nữa. Hiện tượng “tấm huy chương hai mặt” như thế diễn ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Vì cậy, cách giải thích “những hiện tượng bất cập mới” là biểu hiện tha hóa của chủ nghĩa tư bản để biện minh cho tính đúng đắn của chủ nghĩa xã hội như hiện nay vẫn đang giảng dậy ở nước ta là sai sự thật, với những hệ qủa nguy hiểm. Tuy nhiên, rất đáng tiếc là “những hiện tượng bất cập mới” lại là đất sống của chủ nghĩa dân túy mới. 

[10] Tham khảo: Niall Ferguson, “The Great Degeneration: How Institutions Decay and Economies Die” 
[11] Đã trích dẫn: http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_KienNghiTamQuyet.html 

[12] Có câu hỏi đặt ra: Đảng nói phải kiên trì CNML là kiên trì hay trung thành với cái gì, so với Marx hay Lénin đã viết ra như thế nào? So với Tuyên bố của 71 ĐCS và CNQT tại Moscow 1957 sẽ ra sao?.. V… v… Tôi không tin rằng tuyên giáo có thể tìm ra được câu trả lời, hoặc trả lời những thứ không có so với những gì Marx hay Lénin đã viết ra. Vậy CNML ở đây như đảng và tuyên giáo của đảng đang nói ra phải chăng chỉ còn lại mỗi nội dung bảo vệ cái chính danh của đảng? 

[13] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Phải sống!” http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_PhaiSong.html 

[14] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Sau thế kỷ đỏ, sẽ là thế kỷ xám”, 06-11-2017 viet-studies.net http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/NguyenTrung_TheKyDoXam.html 
[15] List of Countries by Projected GDP per capita 


[16] Nhân dịp 200 năm ngày sinh của Marx, Tập Cận Bình có diễn văn trọng thị,  khẳng định: Marx là nhà tư tưởng vỹ đại nhất thời hiện đại, chủ nghĩa Marx là công cụ để TQ đi đến thắng lợi trong tương lai, Trung Quốc sẽ là giám hộ và là học trò của Marx.. … (!), (song xưa nay TQ không bao giờ nói đến chủ nghĩa Lênin). Nhiều học giả thế giới cho rằng CNM là ngọn cờ và là chỗ dựa cho tư tưởng Tập Cận Bình, là công cụ cho quyền lực toàn trịcủa ĐCSTQ, trong khi đó xã hội TQ đang diễn ra không có gì giống với CNM như thể hiện trong Tuyên ngôn Cộng sản và trong “Das Kapital”, TQ đã hoàn thành kiểm soát Biển Đông về mọi mặt chỉ có chiến tranh mới có thể thay đổi được tình trạng này (hội thảo của đại học Berkley, Mỹ, 15-05-2018), vân vân… Nhân dịp này TQ tặng thành phố Trier – quê hương của Marx, một bức tượng đồng cao 4 m về Marx, gây tranh cãi phức tạp tại địa phương này. Riêng đối với Việt Nam, từ đầu năm 2018 đến nay sự có mặt về quân sự trên Biển Đông tăng lên ráo riết chưa từng có, người phát ngôn BNG VN đã phải lên tiếng phản đối. TQ đã hoàn tất và đặt tên lửa trên các căn cứ quân sự lập trên các đảo đã lấn chiếm, máy bay ném bom H-K6 đã diễn tập ở Hoàng Sa, đã uy hiếp và buộc Việt Nam phải rút các hợp đồng khai thác dầu ký với Repsol, sắp tới có thể sẽ là với Rosneft (Nga), hợp đồng đã ký với Exxpl-Mobil (Mỹ) khai thác khu Cá Voi Xanh bị đẩy lùi tới 2019, tầu đánh cá TQ có lúc đã vào cách Đà Nẵng 30km… Sau sự kiện 2 chiến hạm Mỹ ngày 27-05-2018 vào sát Hoàng Sa cách 12 hải lý, TQ dọa sẽ giải mìn trên Biển Đông… 

[17] Xem trong: Martin Jacques, “When China rules the World – the End of the Western Word and the Birth of a new Global Order”, 2nd Edition 2012 – 2014 – A penguin Book. 
[18] Tìm xem: Martin Jacques, sách đã dẫn. 

[19] Tìm xem Martin Jacques, sách đã dẫn, 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét