Thứ Ba, 29 tháng 1, 2019

Viết cho những ngày chờ tuyên án đối với bác sĩ Hoàng Công Lương(1,2,3)

Bài 1: Viết cho những ngày chờ tuyên án đối với bác sĩ Hoàng Công Lương
FB Trần Hồng Phúc
26-1-2019
Tiengdan

Sau 02 năm theo đuổi hành trình tìm công lý cho bác sĩ Hoàng Công Lương, trải qua phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai nhiều ngày xét xử (từ ngày 14/01/2019 và sẽ tuyên án vào chiều ngày 30/01/2019 tới đây), dưới góc nhìn của một luật sư bào chữa, tôi xin đưa ra những quan điểm của mình với tư cách của một người hành nghề luật về các vấn đề pháp lý của vụ án này.
Tôi cũng cho rằng nếu các vấn đề pháp lý này không được xem xét, đánh giá thận trọng thì chắc chắn sẽ có oan, sai trong vụ án. Đây hiển nhiên không phải là điều mong mỏi của một nền tư pháp công minh, liêm chính; không là mục tiêu hướng đến bảo vệ quyền con người của một nhà nước của dân – do dân – và vì dân.
BÀI 1: KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH CÓ DẤU HIỆU SAI
Điểm mới trong quan điểm luận tội của VKSND tỉnh Hòa Bình (do các KSV của VKSND thành phố Hòa Bình được ủy quyền công tố tại phiên tòa) tại phiên tòa lần này đối với Hoàng Công Lương là: “Bệnh án của 18 bệnh nhân thể hiện rõ đây không phải là lọc máu cấp cứu mà theo Kết luận giám định số 2730 ngày 26/6/2017 của Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an và theo lời khai của bị cáo Bùi Mạnh Quốc thì Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình có 02 hệ thống RO, khi cần thiết hệ thống RO1 có thể hỗ trợ cho RO2 lọc máu nên đây không phải là tình thế cấp thiết. Vì vậy, với điều kiện hoàn cảnh thực tế và với vai trò trách nhiệm của mình, bị cáo Lương hoàn toàn có thể không đồng ý để các điều dưỡng viên thực hiện ý lệnh của mình khi chưa có căn cứ xác định chất lượng nguồn nước bảo đảm an toàn cho bệnh nhân…”.
Tại phần đối đáp với luật sư chúng tôi bào chữa cho Hoàng Công Lương về việc RO1 không thể thay thế cho RO2, KSV Bùi Thị Thu Hằng cho rằng:
– Thứ nhất, theo thẩm vấn lời khai của bị cáo Quốc tại phiên tòa thì hệ thống RO1 có thể hoạt động độc lập;
– Thứ hai, Kết luận giám định số 2730 ngày 26/6/2017 xác định trong trường hợp cần thiết RO1 có thể hỗ trợ RO2 lọc máu;
– Thứ ba, Kết luận giám định số 2279 thì mẫu nước từ nguồn RO1 không có florua (tức chất nhiễm độc trong máu các bệnh nhân tử vong).
Như vậy, với quan điểm luận tội và đối đáp buộc tội tại phiên tòa cho thấy cơ quan truy tố sử dụng các kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an) như một bằng chứng khoa học để buộc tội các bị cáo, đặc biệt đối với Hoàng Công Lương.
Vấn đề này là sai lầm nghiêm trọng, có đủ cơ sở để khẳng định RO1 không thể dùng để hỗ trợ hay thay thế dự phòng cho RO2 được. Vì vậy, tại phiên tòa, để tránh oan, tránh sai, chúng tôi liên tục đề nghị HĐXX Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình triệu tập giám định viên để làm rõ các vấn đề kết luận được nêu tại Kết luận giám định nhưng không được HĐXX chấp nhận. Vì vậy, trước giờ tuyên án ngày 30/01/2019 tới đây, tôi tin chắc nếu không làm rõ về giá trị kết luận của Kết luận giám định sẽ dẫn đến buộc tội không chính xác, không đúng người và không đúng tội.
Cụ thể như sau:
Theo hồ sơ vụ án và thực tiễn thẩm vấn tại phiên tòa phản ánh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình có 03 hệ thống lọc nước RO phục vụ hoạt động lọc máu thận nhân tạo; trongđó: RO1 dùng cho rửa quả lọc, RO2 dùng cho máy thận và RO-mini (HFonline dùng cho tái lọc).
Mấu chốt quan điểm buộc tội của cơ quan truy tố là việc sửa chữa RO2 chưa có xét nghiệm AAMI theo hợp đồng thầu đã ký giữa BVĐK tỉnh Hòa Bình và Công ty Thiên Sơn, nếu có phải chờ kết quả xét nghiệm của hệ thống RO2 trong khoảng 10-14 ngày thì BVĐK tỉnh Hòa Bình hoàn toàn có thể sử dụng hệ thống RO1 cho người bệnh lọc máu mà không ảnh hưởng gì.
Những vấn đề cấp thiết lọc máu cho bệnh nhân suy thận mạn và Hoàng Công Lương không biết được nội dung sửa chữa, bảo dưỡng, xét nghiệm theo Hợp đồng thầu của Bệnh viện ký với Công ty CP dược phẩm Thiên Sơn, xin bàn ở bài viết sau. Tại bài viết này, chỉ xin trao đổi về kết luận giám định mà VKS sử dụng để buộc tội Hoàng Công Lương.
Chúng tôi nhận thấy, ngày 29/5/2017, hệ thống RO1 không thể dùng được để thay thế cho RO2, vì nếu dùng cũng gây ra thảm hoạ bởi các lý do sau:
– Thứ nhất, Tank RO2 đã nhiễm bẩn:
+ Việc bị cáo Quốc cho hỗn hợp 3 acid (HF+HCL+Citric) vào 04 vỏ màng sau khi đã tháo 4 màng RO ra, rồi bật bơm cao áp sẽ làm đường ống thu nước RO bị nhiễm bẩn dù có đóng van điều chỉnh áp lực xuyên màng RO (van ngắt kết nối) hay không.
+ Do vậy, dù đã lắp lại màng RO sau đó, đường ống thu nước RO thành phẩm đã bị nhiễm bẩn độc chất sẽ tiếp tục đưa nước có hỗn hợp 3 acid trên chảy vào tank RO2 khi van điều chỉnh áp lực xuyên màng (van ngắt kết nối) được mở ra và bơm cao áp được khởi động.
+ Việc này được khẳng định bằng lời khai của BC Quốc ngay tại phiên toà lần này khi cho biết: “đồng hồ đã vượt lên tới vô cực rồi từ từ hạ xuống 8.6 trong khoảng thời gian 1 giờ đồng hồ”. Hiện tượng sụt giảm độ dẫn điện theo thời gian (ở đây là hơn 1 giờ đồng hồ) từ vô cực này tới 8.6 microSiemens/cm chính là hiện tượng hoà loãng nồng độ vật chất tích điện trong nước đi qua cảm biến của đồng hồ đo độ dẫn điện được gắn ngày sau màng RO. Và với một giờ đồng hồ hoạt động của hệ thống RO2 công suất 1000 L/h mới là sạch được nước RO đi qua cảm biến đồng hồ, và điều này cũng có nghĩa là BC Quốc đã bơm vào tank RO2 với 1000L nước có hỗn hợp 3 acid HF+HCl+Citric.
– Thứ hai, hệ thống RO1 nối với hệ thống “vòng tuần hoàn” thông qua Tank đã nhiễm bẩn RO2
+ Theo sơ đồ vẽ tay của chính Quốc tại cơ quan điều tra (Đây là sơ đồ duy nhất phản ánh thực trạng thiết kế, vận hành của hệ thống RO1 và RO2 của BVĐK tỉnh Hòa Bình vào thời điểm xảy ra sự cố) cho thấy: hệ tank RO1 có kết nối với tank RO2 và nhiều lần tại toà BC Quốc cũng khẳng định sự kết nối giữa tank RO1 và RO2 nhưng không có sự kết nối trực tiếp nào giữa Tank RO1 với hệ thống đường ống phân phối tới các máy thận (hệ thống vòng tuần hoàn). Do tank RO2 đã nhiễm bẩn độc chất 3 acid HF+HCl+Citric như đã phân tích ở trên, nên việc sử dụng hệ thống RO1 bơm nước cấp nước cho các máy thận thông qua tank RO2 chắc chắn gây ra thảm hoạ nhiễm độc hàng loạt không khác gì với thực tế đã xảy ra vào ngày đen tối 29/5/2017.
+ Tại phiên tòa lần này, BC Quốc lại khai và cho rằng tank RO1 có đường phân phối riêng, tức hệ thống RO1 có đường nối tới vòng tuần hoàn riêng biệt. Tuy nhiên, lời khai này càng bất lợi cho việc buộc tội vì nếu có đường nối này trên thực tế thì đã được đóng chặt và không còn được khai thác từ năm 2011 khi hệ thống RO2 được đưa vào sử dụng (Hệ thống RO1 được lắp đặt năm 2009, hệ thống RO2 lắp đặt năm 2010 và được thanh lý hợp đồng vào tháng 11/2011). Do vậy, nếu mở đường ống này ra, thì nguy cơ đưa thẳng vi khuẩn và các vi sinh vật đã nằm lưu cữu hơn 06 năm trong đoạn ống này còn có thể gây ra thảm hoạ lớn hơn, nặng nề hơn vì bằng cách này, các vi khuẩn trên đã được đưa vào máu 18 bệnh nhân bất hạnh.
+ Đặc biệt, căn cứ Kết luận giám định số 2730+2777/C54-P6 ngày 26/6/2017 có nội dung giám định tình trạng kỹ thuật của hệ thống xử lý nước dùng cho chạy thận nhân tạo thì Viện KHHS – Bộ Công an đã kết luận: “Hệ thống RO1 có 02 van chất lượng kém (bị dò nước khi đóng kín)…Ngoài ra van tiệt trùng cũng không còn bảo đảm kỹ thuật sử dụng để nước vẫn chảy qua khi đang đóng kín” (BL 528). Như vậy, hệ thống RO1 không bảo đảm kỹ thuật an toàn để sử dụng ngay cả khi RO2 không sử dụng.
Ngoài ra, trong trường hợp hệ thống RO2 ngừng hoạt động chờ xét nghiệm từ 10-14 ngày chắc chắn sẽ tiếp tục có mảng bám vi khuẩn do nước không được dùng tuần hoàn nằm chờ. Do đó, phải tiếp tục sục rửa, rồi lại đem đi xét nghiệm. Khi ấy lại một chu ký chờ – xét nghiệm – tiệt trùng – chờ – xét nghiệm – tiệt trùng… thì bao giờ cho hoạt động hỡi các nhà thông thái?
Không hiểu lý do gì các giám định viên của Viện Khoa học hình sự có thể kết luận cho kết quả: Hệ thống RO1 khi cần thì bổ sung cho chạy lọc thận cùng RO2???
Chúng tôi mời các giám định viên lên tiếng bởi nếu không, chính các giám định viên mới là người buộc tội và tuyên án đối với các bị cáo trong đó có Hoàng Công Lương đấy ạ.
Bài 2: Những chứng cứ “giả mạo” buộc tội Hoàng Công Lương
LS Trần Hồng Phúc
27-1-2019
Tiengdan

Cáo trạng số 05/CT-VKS-P2 ngày 22/02/2018 của VKSND tỉnh Hòa Bình và quan điểm luận tội của đại diện VKSND thành phố Hòa Bình thừa ủy quyền công tố tại phiên tòa hồi tháng 5/2018 buộc tội Hoàng Công Lương về hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 285 BLHS1999.
Để chứng minh việc Hoàng Công Lương được giao nhiệm vụ này, chứng cứ mấu chốt để cơ quan truy tố buộc tội là căn cứ vào Sổ họp khoa các năm 2015 và 2016, trong đó có nội dung phân công Hoàng Công Lương phụ trách đơn nguyên Thận nhân tạo (Khoa Hồi sức tích cực). Điều đặc biệt là các nội dung phân công đều được ghi chép tại cuộc họp khoa về việc đánh giá viên chức cuối năm và bình xét thi đua cho hơn 40 con người.
Tuy nhiên, tại phiên tòa hồi tháng 5/2018, sau những ngày tham gia phiên tòa và đấu tranh tư tưởng, người ghi biên bản 02 cuộc họp cuối năm 2015 và 2016 đã khai ra sự thật về việc anh ta đã ghi thêm nội dung phân công cho bác sĩ Lương phụ trách đơn nguyên TNT là vào thời điểm sau sự cố theo chỉ đạo của lãnh đạo khoa. Tại phiên tòa, luật sư Lê Văn Thiệp cũng đã nộp cho HĐXX một Vi bằng có nội dung thừa nhận của người ghi biên bản là đã ghi thêm vào theo chỉ đạo của Trưởng khoa.
Đồng thời tại phiên tòa đó, các điều dưỡng viên đồng loạt thay đổi lời khai về việc họ khai việc bác sĩ Lương được phân công phụ trách đơn nguyên TNT theo Sổ họp khoa (được cơ quan điều tra cho xem và khai theo như vậy).
Mặc dù không có mặt tại phiên tòa, nhưng cặp vợ chồng bác sĩ Phạm Thị Huyền và Nguyễn Mạnh Linh có Giấy xác nhận (đóng dấu của Phòng Tổ chức cán bộ của BVĐK tỉnh Hòa Bình) chứng minh sự thật việc bs Lương không được giao nhiệm vụ phụ trách Đơn nguyên TNT: “Về Biên bản (sổ họp khoa) cuối năm 2015, tôi không biết về nội dung viết những gì, và không biết về việc ai phân công bs Hoàng Công Lương phụ trách đơn nguyên TNT, vì tính chất công việc của khoa đòi hỏi cần phải có người chăm sóc, theo dõi bệnh nhân nên chúng tôi không được tham gia đầy đủ hết thời gian họp khoa. Theo tôi được biết, từ trước đến khi xảy ra sự cố, lãnh đạo bệnh viện và lãnh đạo khoa không có một quyết định bằng miệng, hay bằng văn bản nào phân công bác sĩ Hoàng Công Lương phụ trách đơn nguyên TNT”.
Một sự thật khác được hé lộ qua Giấy xác nhận của bác sĩ Nguyễn Mạnh Linh (sau khi HĐXX công bố và luật sư chúng tôi xin sao chụp tại phiên tòa) là Linh khẳng định có buổi làm việc tại VKSND vào ngày 29/01/2018. Linh có Giấy triệu tập với tư cách người làm chứng mời làm việc vào hồi 08h ngày 29/01/2018 tại VKSND tỉnh Hòa Bình. Tại buổi làm việc này, Linh đã cho lời khai về việc bác sĩ Lương không được phân công, giao nhiệm vụ phụ trách Đơn nguyên TNT.
Tuy nhiên, thời điểm tháng 05/2018, kiểm sát viên của VKSND tỉnh Hòa Bình đã chủ ý bỏ biên bản ghi lời khai ngày 29/01/2018 ra ngoài hồ sơ vụ án.
Để minh bạch tình tiết này, luật sư chúng tôi đề nghị HĐXX công bố biên bản ghi lời khai của bác sĩ Linh vào ngày 29/01/2018 để xem xét, đánh giá tại phiên tòa. Rất may thời điểm đó, bác sĩ Linh còn giữ được bản chính Giấy triệu tập của cơ quan truy tố về buổi làm việc này 29/01/2018 để cung cấp cho luật sư chúng tôi. Trước chứng cứ vật chất rõ ràng và HĐXX đã không thể tìm thấy bút lục ghi lời khai của bác sĩ Linh vào ngày 29/01/2018, khiến cho kiểm sát viên phải thừa nhận bút lục đó đã lưu trong “tiểu hồ sơ” của cơ quan truy tố, chưa được đưa vào HSVA, HĐXX quyết định trả hồ sơ thì VKS sẽ khắc phục đưa vào.
Ngày 05/6/2018, HĐXX tuyên án và quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Quá trình điều tra bổ sung, với lời khai của những người có trách nhiệm liên quan đến Sổ họp khoa và kết quả giám định cho thấy việc ghi thêm các dòng chữ phân công nhiệm vụ cho Hoàng Công Lương là có thật nên cơ quan tiến hành tố tụng đã đình chỉ đối với Lương về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, chuyển tội danh “Vô ý làm chết người”.
Vì vậy, đây chính là lý do mà luật sư Nguyễn Văn Quynh và Nguyễn Thị Thúy Kiều trong nhóm chúng tôi kiến nghị HĐXX phiên tòa lần này khởi tố hành vi có dấu hiệu xâm phạm hoạt động tư pháp của kiểm sát viên liên quan đã bỏ biên bản ghi lời khai ra ngoài hồ sơ vụ án.
Trong một diễn biến mới, tại phiên tòa tháng 01/2019 này, còn những chứng cứ khác bị tạo lập có dấu hiệu giả mạo để buộc tội Hoàng Công Lương, chúng tôi quyết định không đưa ra đánh giá, chứng minh tại phần thẩm vấn.
Kiên nhẫn chờ đợi phần luận tội và đối đáp của kiểm sát viên về việc buộc Lương phải biết tầm quan trọng của hệ thống nước RO dùng trong chạy thận sau tẩy rửa hệ thống RO phải có xét nghiệm hóa chất tồn dư vì VKS đưa ra căn cứ Lương là người ký Biên bản xác nhận tình trạng sửa chữa hệ thống RO2 trong đó biên bản này thể hiện rõ là tẩy rửa màng RO, tiệt trùng đường ống.
Chuẩn bị kỹ hơn cho phiên tòa, luật sư Vũ Công Dũng đã tỷ mỷ nghiên cứu và trao đổi cùng luật sư Nguyễn Thị Thúy Kiều về việc sửa chữa, tạo lập 02 tài liệu được đưa vào làm chứng cứ vật chất buộc tội Hoàng Công Lương là người ký trong các tài liệu này nên không thể không biết, gồm:
+ Biên bản kiểm tra tình trạng trạng thiết bị đề ngày 20/4/2017 (BL 3074);
+ Đề nghị mua sắm cửa chữa nhỏ cùng ngày 20/4/2017 (BL 1507).
Tại cả 02 tài liệu chứng cứ nêu trên đều có dấu hiệu sửa chữa, giả mạo. Điểm quan trọng nhất đó là giấy tờ thể hiện sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống RO1 (dùng cho rửa quả lọc) chứ không phải dành cho RO2 (dùng cho máy thận). Sự cố xảy ra lại chỉ liên quan đến sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống RO2 thôi ạ. Như vậy không có biên bản kiểm tra tình trạng thiết bị hệ thống RO2, không có đề xuất sửa chữa RO2 thì Phòng Vật tư TTBYT, Phòng Tài chính kế toán căn cứ vào đâu để đề xuất Ban Giám đốc cho thực hiện dịch vụ sửa chữa RO2 và tiến hành lựa chọn nhà thầu theo Báo giá?
Việc giả mạo từ RO1 thành RO2 cho thấy không hề có tài liệu liên quan đến kiểm tra, đề xuất sửa RO2 trong sự cố.

Không có 2 tài liệu về việc kiểm tra và đề xuất sửa chữa RO2 này làm thay đổi cơ bản bản chất vụ án vì chẳng có cuộc kiểm tra nào hệ thống RO2 cũng như chẳng có đề xuất nào của đơn nguyên TNT đối với sửa chữa RO2 cả, vậy sửa chữa vô căn cứ, thiếu đề xuất, tự ý làm thì ai là người chịu trách nhiệm đây?
Chúng tôi nghi ngờ việc sửa chữa RO2 ngày 28/5/2017 không có giấy tờ nào cả, chỉ đến khi sự cố xảy ra mới tạo lập giấy tờ, theo đó giấy tờ liên quan đến RO2 không có, nên tặc lưỡi đánh liều lấy giấy tờ có sẵn trước đấy sửa chữa RO1 chưa điền ngày vào thay thế và chữa thành RO2. Vì thế, bị cáo Trần Văn Sơn luôn khẳng định tại phiên tòa, ngày 20/4/2017 là bị điền sau, mà Sơn không rõ.
Để “bẫy” thành công KSV, luật sư Nguyễn Thị Thúy Kiều mạnh dạn đề cập việc không có tài liệu chứng minh Hoàng Công Lương biết việc tẩy rửa màng RO và tiệt trùng đường ống tuần hoàn vì tại Đề nghị mua sắm sửa chữa nhỏ ghi ngày 20/4/2017 chỉ thể hiện “sửa chữa hệ thống nước RO số 02 X 01 hệ thống”, bác sĩ Lương không thể biết sửa chữa gì, xét nghiệm nào.
Ngay lập tức sau đó, nữ KSV đối đáp, cho hay thể hiện rất rõ việc Hoàng Công Lương biết nội dung sửa chữa tẩy rửa màng RO, tiệt trùng đường ống tại Biên bản kiểm tra tình trạng trạng thiết bị đề ngày 20/4/2017.
Vậy là thời cơ cho phút 89, các luật sư Nguyễn Thị Thúy Kiều và Vũ Công Dũng đã thay nhau đối đáp về 02 tài liệu “ma mị” này chỉ ra các điểm sửa chữa, đồng thời kiến nghị HĐXX trưng cầu giám định. Nhìn KSV cũng thấy vẻ mặt ngỡ ngàng, chẳng hiểu cô ấy thế nào mà cũng đủ can đảm đứng lên đối đáp, cho rằng các chứng cứ này không ảnh hưởng đến bản chất vụ án vì tại phiên tòa tháng 5/2018 và tại phiên tòa này, rất nhiều người cũng như Hoàng Công Lương đều khai biết việc sửa chữa ngày 28/5/2018, sửa chữa gì không quan trọng nhưng biết nguồn nước bị can thiệp thì bác sĩ Lương phải bảo đảm điều kiện an toàn nguồn nước. Còn tài liệu chứng cứ có dấu hiệu sửa chữa, làm giả sẽ kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ.
Không biết vì sao, cơ quan tiến hành tố tụng quá “vô tư” khi xem xét, đánh giá chứng cứ này. Khi luật sư chỉ ra, họ không thích tiếp thu mà chỉ muốn buộc tội bị cáo như thể cho hoàn thành phiên xử?
Đây là các tài liệu chứng cứ buộc tội Hoàng Công Lương biết việc sửa chữa ngày 28/5/2017 với cụ thể nội dung về tẩy rửa màng RO, tiệt trùng đường ống nước tuần hoàn, là căn cứ để chứng mình Lương biết mà cẩu thả không kiểm tra, vô ý làm chết người; nhưng nay VKS lại cho rằng không có những tài liệu này, không có gì thay đổi vì chính BC Lương cũng thừa nhận biết việc sửa chữa hệ thống RO.
Tôi xin đối đáp với nữ KSV này rằng về nguyên tắc của tố tụng hình sự, không được dùng lời khai duy nhất của bị can/bị cáo để buộc tội nếu không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Việc sử dụng lời khai nhận của Lương biết việc sửa chữa là trái với quy định tại Điều 72 BLTTHS 2003 (nay là Điều 91 BLTTHS 2015). Vấn đề quan trọng hơn là bác sĩ Lương phải biết là sửa chữa cái gì, nếu bác sĩ này chỉ biết sửa chữa thay thế bộ đèn UV và khởi động từ của hệ thống RO2 thì sao đây ạ, rõ ràng không có sự can thiệp gì vào nguồn nước?
Cho đến thời điểm này, trong hồ sơ vụ án vẫn còn ngổn ngang những chứng cứ có dấu hiệu “làm giả” đầy ma mị, phía sau là những tác nhân…Hội đồng sản xuất “hàng giả” này sẽ được chúng tôi đưa ra ánh sáng trong một ngày không xa, theo tiến trình vụ án.
Khép lại hồ sơ cho những ngày sắp tới, sẽ đi cho đến cùng trời, cuối đất với vụ án rất thiếu nhân tâm này bởi còn quá nhiều điều dối trá và bất công để nói!
Bài 3: Các hợp đồng thầu và sự cố ngày 29/5/2017
LS Trần Hồng Phúc
28-1-2019
Tiengdan

Theo hồ sơ vụ án và thực tế phiên tòa, Công ty CP dược phẩm Thiên Sơn là đối tác lâu năm của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình. Ngoài việc hợp tác đặt máy thận cho dịch vụ lọc máu thận nhân tạo, công ty này cũng là bên cung cấp hệ thống RO2 và RO mini cho BVĐK tỉnh Hòa Bình.
Tháng 5/2017, Công ty Thiên Sơn gửi cho BC Trần Văn Sơn (cán bộ Phòng Vật tư TTBYT – BVĐK tỉnh Hòa Bình) 03 bản báo giá chào giá cạnh tranh đối với dịch vụ cung cấp vật tư sửa chữa hệ thống lọc nước RO số 2 cho BVĐK tỉnh Hòa Bình, trong đó có Báo giá của Công ty Thiên Sơn với giá chào cạnh tranh thấp nhất là hơn 99 triệu đồng.
Hợp đồng số 315/BVĐKT-TS ngày 25/5/2017 được giao kết giữa BVĐK tỉnh Hòa Bình (do ông Trương Quý Dương – Giám đốc, làm đại diện) và Công ty Thiên Sơn (do ông Đỗ Anh Tuấn – Giám đốc, làm đại diện).
Sau Hợp đồng số 315, Công ty Thiên Sơn ký Hợp đồng số 05/2017/TS/TA cùng ngày 25/5/2017, với Công ty TNHH xử lý nước Trâm Anh (do Bùi Mạnh Quốc – Giám đốc làm đại diện) để thực hiện dịch vụ cho BVĐK tỉnh Hòa Bình.
Tại phiên tòa tháng 05/2018, Bùi Mạnh Quốc khai và gia đình bị cáo Quốc xuất trình chứng cứ chứng minh về việc ngày 25/5/2017 Quốc không có mặt ký Hợp đồng 05 với Công ty Thiên Sơn, đồng thời khẳng định Hợp đồng số 05 được ký tại khu vực nhà xe Bệnh viện sau khi sự cố xảy ra (vào khoảng 16h chiều ngày 29/5/2017).
Sau quá trình điều tra bổ sung từ tháng 5/2018 đến tháng 12/2018, tại trang 24 Bản KLĐT số 64 ngày 25/11/2018 của cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Hòa Bình cũng như tại trang 7 bản Cáo trạng số 01 ngày 05/12/2018 của VKSND tỉnh Hòa Bình đều đã kết luận không có việc giao kết hợp đồng số 05 vào ngày 25/5/2017 giữa đại diện Công ty CP dược phẩm Thiên Sơn và Công ty TNHH xử lý nước Trâm Anh (do Quốc làm đại diện) mà kết quả điều tra xác định, khoảng 17h ngày 29/5/2017, chị Ngô Thị Tuyết Minh – Phó Giám đốc Công ty CP Dược phẩm Thiên Sơn mang Hợp đồng số 05 đến BVĐK tỉnh Hòa Bình đưa cho Quốc ký tại khu vực nhà để xe của cán bộ BVĐK tỉnh Hòa Bình.
Như vậy, việc sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống RO 2 vào ngày 28/5/2017 không có hợp đồng nào của Công ty Thiên Sơn chuyển giao nội dung hợp đồng số 315 cho Bùi Mạnh Quốc.
Tại phiên tòa những ngày tháng 01/2019 vừa qua, một số luật sư nghi ngờ việc giao kết Hợp đồng số 315 giữa BVĐK tỉnh Hòa Bình và Công ty Thiên Sơn là thực hiện sau khi xảy ra sự cố, và họ cũng nghĩ nhiều đến việc Hợp đồng 315 ký cùng ngày ký Hợp đồng số 05 sau sự cố 29/5/2017.
Để làm việc này, thật không khó nếu cơ quan điều tra thực hiện trưng cầu giám định, chữ ký và con dấu của Công ty Thiên Sơn trên Hợp đồng 315 và trên Hợp đồng 05 có cùng ngày thời điểm ngày 29/5/2017 hay không. Rất tiếc, hoạt động này chưa được thực hiện nên kết luận của cơ quan điều tra cũng có phần “để ngỏ” rằng: “Với các tài liệu điều tra đã thu thập được, cho thấy việc các bên ký kết hợp đồng 315, cùng các thủ tục kèm theo hợp đồng là có thật. Tuy nhiên, không có căn cứ để kết luận thời điểm ký kết hợp đồng 315/BVĐKT-TS ngoài thời điểm ngày 25/5/2017”.
Vào tháng 5/2018, khi xét xử vụ án này đã kết luận việc Công ty Thiên Sơn chuyển nhượng thầu trái pháp luật cho Công ty Trâm Anh là vì tồn tại hợp đồng 315 của BVĐK tỉnh Hòa Bình với Công ty Thiên Sơn, sau đó Công ty Thiên Sơn lại chuyển giao 100% nghĩa vụ thực hiện hợp đồng 315 cho Công ty Trâm Anh của Bùi Mạnh Quóc bằng hợp đồng số 05 giữa hai bên.
Đến nay, hợp đồng 05 được cơ quan tiến hành tố tụng kết luận là lập và ký sau khi xảy ra sự cố 29/5/2017, cho nên chỉ còn Hợp đồng số 315 làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của BVĐK tỉnh Hòa Bình theo hợp đồng này, trong sự cố.
Theo Cáo trạng và luận tội của cơ quan truy tố, Bùi Mạnh Quốc thực hiện sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống RO2 là theo Báo giá của Công ty Trâm Anh cho Công ty Thiên Sơn. Tại phiên tòa BC Quốc khẳng định thực hiện theo Báo giá gửi qua email cho Cty Thiên Sơn ngày 18/4/2017. Lời khai của ông Trần Văn Thắng và anh Trần Văn Sơn đều khẳng định Phòng vật tư TTBYT thực hiện việc sửa chữa theo Báo giá của Thiên Sơn gửi BVĐK tỉnh Hòa Bình và đều không biết hợp đồng 315, không biết báo giá của Công ty Trâm Anh hay của Bùi Mạnh Quốc. Như vậy, việc sửa chữa hệ thống RO2 của Quốc (đại diện cho Cty Trâm Anh) thực hiện tại BVĐK tỉnh Hòa Bình là hoàn toàn không có hợp đồng tại thời điểm sửa chữa ngày 28/5/2017 vì không có Hợp đồng nào giữa BVĐK Hòa Bình với Cty Trâm Anh; không có hợp đồng nào giữa Cty Thiên Sơn và Cty Trâm Anh; đặc biệt Bùi Mạnh Quốc thực hiện dịch vụ thay thế, sửa chữa hệ thống RO2 không liên quan đến hợp đồng 315 vì Quốc khẳng định không biết gì về hợp đồng 315 và chỉ làm theo Báo giá của mình cho Công ty Thiên Sơn. Theo đó, có những vấn đề pháp lý được đặt ra để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trên cơ sở nào:
+ Một là, việc có hay không có hợp đồng số 315 cũng không ràng buộc trách quyền và nghĩa vụ của BVĐK tỉnh Hòa Bình với Công ty Trâm Anh hoặc BC Bùi Mạnh Quốc đối với dịch vụ thay thế, sửa chữa hệ thống RO2 vào ngày 28/5/2017;
+ Hai là, Báo giá của công ty Trâm Anh cho Cty Thiên Sơn làm căn cứ để Quốc thực hiện việc thay thế, sửa chữa ngày 28/5/2017 không có giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ của BVĐK tỉnh Hòa Bình;
+ Ba là, việc thực hiện dịch vụ theo Báo giá là việc đưa ra lời đề nghị hợp đồng của phía Công ty Trâm Anh. Để thực hiện nội dung sửa chữa hệ thống RO2 nhất thiết phải có hợp đồng giữa Công ty Thiên Sơn và Cty Trâm Anh để làm cơ sở nghiệm thu, bàn giao; thanh toán qua tài khoản, thực hiện cấp hóa đơn GTGT, hạch toán, quyết toán theo Luật kế toán và chuẩn mực kế toán; thậm chí phục vụ quyết toán thuế doanh nghiệp các bên, theo luật định.
Trường hợp này không thể áp dụng thỏa thuận hợp đồng bằng báo giá đơn phương hay lời nói.
Về phía Khoa hồi sức tích cực, ông Hoàng Đình Khiếu và các y bác sĩ đơn đều khẳng định không được giao, không được biết Hợp đồng 315, nên chúng tôi cho rằng sẽ không có căn cứ để ràng buộc và đòi hỏi họ tuân thủ các nội dung hợp đồng số 315 ký giữa Cty Thiên Sơn và Bệnh viện. Điều này cũng phù hợp với lời trình bày của ông Trương Quý Dương tại phiên tòa sáng 15/01/2019 là giao triển khai Hợp đồng 315 cho 02 đầu mối là Phòng vật tư TTBYT và Phòng TCKT.
Tại phiên tòa ngày 15/01/2019, ông Trần Văn Thắng đã trả lời câu hỏi của Thẩm phán Chủ tọa về Hợp đồng 315 như sau: Tại thời điểm sửa hệ thống RO2 chưa nhận được Hợp đồng 315 mà biết nội dung sửa chữa theo kế hoạch và theo Báo giá của Công ty Thiên Sơn được chọn. Ông Thắng cho rằng Trần Văn Sơn là người xây dựng kế hoạch sửa chữa nên Sơn có thông tin nắm được nội dung sửa chữa. Việc giao Hợp đồng 315 cho Khoa HSTC để thực hiện Hợp đồng thì ông Thắng không nắm được. Trước ngày 28/5, ông Thắng chỉ đạo Trần Văn Sơn giám sát, nhưng chưa nhận được Hợp đồng 315 nên không khẳng định được hợp đồng đã được ký kết và nội dung công việc thực hiện hợp đồng có đúng như nội dung kế hoạch sửa chữa hay không.
Như vậy, đến Trưởng phòng Vật tư TTBYT Trần Văn Thắng, người được ông Thắng giao thực hiện giám sát dịch vụ sửa chữa của Quốc là Trần Văn Sơn còn không biết hợp đồng số 315 đã ký và nội dung triển khai của hợp đồng, chỉ căn cứ theo nội dung kế hoạch sửa chữa thì bất kỳ ai trong đơn nguyên Thận nhận tạo (trong đó có Hoàng Công Lương) không hay biết gì về Hợp đồng 315 là hoàn toàn thực tế!
Với góc nhìn này, BVĐK tỉnh Hòa Bình chỉ ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với xét nghiệm nước AAMI của hệ thống RO2 sau sửa chữa theo Hợp đồng số 315 với Công ty Thiên Sơn, không liên quan gì đến Cty Trâm Anh và Bùi Mạnh Quốc. Để phát sinh sự ràng buộc của BVĐK tỉnh Hòa Bình đối với Công ty Trâm Anh hay Bùi Mạnh Quốc thì nhất thiết phải có hợp đồng chuyển giao của Cty Thiên Sơn cho Công ty Trâm Anh hoặc cá nhân Bùi Mạnh Quốc. Trong trường hợp này, về nguyên tắc cũng không thể đòi hỏi một bản hợp đồng ký thẳng giữa BVĐK tỉnh Hòa Bình với Công ty Trâm Anh hay cá nhân Bùi Mạnh Quốc vì theo quy định lựa chọn nhà thầu báo giá cạnh tranh, BVĐK tỉnh Hòa Bình chỉ lựa chọn duy nhất Công ty Thiên Sơn làm bên thực hiện dịch vụ thay thế, sửa chữa hệ thống RO2 cho mình.
Do vậy, việc phải chờ xét nghiệm AAMI mẫu nước RO2 sau sửa chữa không còn ý nghĩa gì vì việc sửa chữa của Bùi Mạnh Quốc không hề có hợp đồng với bệnh viện; chỉ dựa trên báo giá nhưng báo giá của Quốc là báo giá cho Công ty Thiên Sơn, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình để từ đó đưa ra vấn đề xét nghiệm AAMI buộc BVĐK tỉnh Hòa Bình phải chờ xét nghiệm.

Điểm đáng lưu ý, tại phiên tòa cho thấy Công ty Trâm Anh của Quốc gửi cho Công ty Thiên Sơn nhiều báo giá, nhưng báo giá cuối cùng để Quốc thực hiện có giá trị 49,5 triệu đồng; tuy nhiên về phía Công ty Thiên Sơn lại khẳng định là thực hiện theo báo giá cuối cùng (không cung cấp báo giá cuối cùng cho HĐXX vì cho đó là nghĩa vụ thu thập chúng cứ của cơ quan điều tra) nên không có cơ sở để xác định được báo giá cuối cùng, chỉ biết báo giá cuối cùng của Quốc được Thiên Sơn chấp thuận và lấy làm căn cứ phù hợp đúng nội dung của hợp đồng số 315 đã ký với BVĐK tỉnh Hòa Bình.
Thực tế, đối với dịch vụ sửa chữa hệ thống RO2 thì quy định xét nghiệm AAMI nằm ở đâu, phải là nằm ở báo giá của Quốc vì Quốc là bên sửa chữa hệ thống RO2 cho Bệnh viện nhưng rất tiếc báo giá của Quốc hoàn toàn không có bất kỳ sự liên quan nào đến BVĐK tỉnh Hòa Bình thì lấy cơ sở pháp lý nào để buộc trách nhiệm BVĐK tỉnh Hoà Bình phải chờ kết quả xét nghiệm AAMI?
Kết quả điều tra chứng minh không có Hợp đồng số 05 giữa Cty Thiên Sơn và Cty Trâm Anh khiến cho việc thực hiện sửa chữa hệ thống RO2 của Bùi Mạnh Quốc dù với vai trò của Công ty Trâm Anh hay cá nhân Bùi Mạnh Quốc cũng không ràng buộc bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào của BVĐK tỉnh Hòa Bình đối với dịch vụ mà Quốc cung cấp. Đây hiển nhiên là tình tiết làm thay đổi cơ bản bản chất vụ án (khi hợp đồng 05 được ký sau sự cố).
Vậy ai phải chịu trách nhiệm cho việc Bùi Mạnh Quốc thực hiện dịch vụ sửa chữa hệ thống RO2 tại BVĐK tỉnh Hòa Bình ngày 28/5/2017 không có hợp đồng ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên?
Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc xác định ai phải chịu trách nhiệm hình sự, đặc biệt là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho các gia đình nạn nhân tử vong và bị hại!
Xin lưu ý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp này là bồi thường do người của pháp nhân gây ra. Vậy Bùi Mạnh Quốc là người của pháp nhân nào, theo hợp đồng dịch vụ sửa chữa hệ thống RO2 nào vào ngày 28/5/2017?
(Bài 4: Chuyển giao công nghệ kỹ thuật TNT theo Đề án 1816 và sự cố)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét