Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2020

Nguyễn thị Hoàng trở lại - "định mệnh còn gõ cửa" (?!?)

Nguyễn thị Hoàng trở lại - "định mệnh còn gõ cửa" (?!?)
Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2020


“…Hãy thinh không nhé, hãy trùng khơi
Hãy im lặng đến thời lên tiếng

Vì tiếng em cao vọng tuyệt vời.”
(trích từ bài thơ: Sài Gòn trong nhà – Duyên Anh)


Trở lại “cõi” giới văn chương sau gần nửa thế kỷ (hầu như) im tiếng (nếu không kể đến một vài cuốn rời rạc, vd NXB Kim Đồng: Hồn Muối, NXB Đồng Nai: Lỡ Cánh Chim Trời, 1 cuốn in ở hải ngoại của NXB Kinh Đô Ấn Quán: Nhật Ký Của Im Lặng), tác giả của tiểu thuyết đình đám một thời: “Vòng Tay Học Trò”, 1 trong 5 nhà văn nữ hàng đầu của miền Nam trước 1975 (cùng Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trùng Dương) đã chính thức trở lại với những người yêu văn chương & hơn thế, những người còn muốn một lần chìm đắm vào (dù chỉ là một thoáng) bãi êm đềm và lay động của văn chương miền Nam (kiếp trước).
Với một văn phong đặc trưng: “ảo não rung động” hoặc "kiều diễm và thơ mộng" nhưng đằng sau những con chữ là nỗi quay quắt và cuộc đuổi bắt để truy vấn chính bản thân nhân vật và người đọc, hoài nghi về (những) ý nghĩa của cuộc đời / hoặc giả chăng truy vấn …chính cuộc đời!

Trong một lần trả lời phỏng vấn của tạp chí Văn, tác giả có nói: “Còn dự định lớn? Hoàn thành định mệnh như trời muốn!”

Sau ngần ấy năm im vắng, im vắng trong ẩn nhẫn - sự ẩn nhẫn “đội một hòn than chôn chân sầu đứng đợi” như trong lời một bài hát của Nguyễn Đình Toàn chăng? - (nhưng, đối với Nguyễn Thị Hoàng “bất động cũng là hành tung của một kẻ ẩn mình”),…có lẽ, định mệnh đã một lần nữa (không lúc nào thôi?!?) “gõ cửa”, và phải chăng người nữ sĩ ấy thấy đã đến lúc cần “hoàn thành”… điều “đó”, đã đến lúc “làm cho xong hết cuộc tiễn đưa” – tất toán một “dự định lớn”! - (& cuộc hồi đáp này, sau 2 quyển sách của “lần đầu”, hứa hẹn sẽ là 2 “bom tấn” lớn của chính bà: Người Yêu Của Đấng Trời & Nhật Ký Của Im Lặng – như trên tay gấp sách NXB New Viets đã teasing).
Trở lùi lại với một trong những cuộc phỏng vấn hiếm hoi sau 1975 (thực hiện bởi nhà văn Mai Ninh), tác giả đã từng bộc bạch:
“Một tác phẩm có mặt từ ba yếu tố: nghĩ (hay cảm), viết, và in. Nghĩ thì như thở, càng bị rượt đuổi vây khổn, càng dập dồn, chồng chất. Viết ra thì khó liên tục nếu ăn ở không yên và chèo chống không ngừng với mọi vấn đề. Nếu vượt hai điều trên được, lại phải đứng dừng trước bức tường thứ ba: in ra, ngoài khả năng của một tác giả tận cùng đơn độc, trong mọi nghĩa. Khi qua đi một khúc đoạn ở cuộc đời hay nỗi niềm riêng, NTH vẫn ngạc nhiên là mình vẫn còn sống và câu hỏi duy nhất là làm sao để in ra, cũ và mới những gì đã ứa ra từ quá trình sống… chín này.”
Thời may, giờ đây, cuộc “vượt thoát”…hình như đã bước đầu thành hình, 2 tuyển tập thơ & văn gom lại những quá vãng & trăn trở của tác giả:
“Thời của những khúc viết này ngắn ngủi từ 1967 đến 1972, với những tuyển tập truyện ngắn Trên thiên đường ký ức, Cho những mùa xuân phai, Đất hứa, Vết sương trên ghế đá hồng, Dưới vầng hoa trắng… Nửa thế kỷ im lìm, khuất bóng cho tác phẩm, người đọc và người viết cuộc đồng hành dang dở. Nhưng tất cả vẫn còn đâu đó truân chuyên và cách trở, trong âm vang mơ hồ của ký ức, từ ấy đến bây giờ và còn mãi cho đến ngày tro bụi bay lên thoát cõi người.

Trên Thiên Đường Ký Ức đứng tên cho toàn tập, vì là chút di sản tinh thần bé nhỏ thương yêu, ôm trọn thời ấu thơ, đã như bóng ảnh đồng hành vô hình nuôi dưỡng, nâng đỡ và che chở cho người viết suốt đường đời qua mê lầm, oan khiên, bạc đãi, ngộ nhận, của khổ nạn triền miên tâm và cảnh. Khách quan sẽ chẳng nhìn thấy gì trong đó, nhưng với người viết lại, mỗi hình ảnh, mỗi vết tích nhỏ nhoi đều là một thiên đường trong nghĩa đơn sơ là đẹp đẽ nhất, thuần khiết nhất, tôn quý nhất đủ xúc động tâm cảm bùi ngùi tưởng tiếc…”

Một lần nữa, những truy vấn, những suy tư như những “tiếng im thoát ra từ niềm đau, như giọt máu ứa từ vết thương lặng lẽ”…đã được gom nhặt từ những bài thơ quá vãng, và từ những truyện ngắn tâm đắc nhất của nữ sĩ… hồi sinh, trong một cõi khác: sau phần thư, sau thất tán, sau nát tan…cũng đã là đủ để một lần bạn & chúng ta cùng “nghiêng vai soi lại cuộc đời” qua những áng văn thơ của một trong những gương mặt sáng giá nhất của nền văn chương miền Nam rực rỡ!
Huyvespa

./.
Thông tin sách:
Với lần xuất bản này, ngoài những bản thường có ruột in 2 màu trên giấy Ford kem định lượng 80 gsm, New Viets còn ấn hành 300 bản đặc biệt với bìa cứng trên giấy Kraft 80 gsm, bìa áo giấy Cal 180 gsm, đánh số từ NTH–001 đến NTH–300, với chữ ký kèm tên và dấu triện của tác giả.
Contact NXB qua mail newviets@gmail.com 
./.






Lời tựa cho tập truyện TRÊN THIÊN ĐƯỜNG KÝ ỨC

Thời của những khúc viết này ngắn ngủi từ 1967 đến 1972, với những tuyển tập truyện ngắn Trên thiên đường ký ức, Cho những mùa xuân phai, Đất hứa, Vết sương trên ghế đá hồng, Dưới vầng hoa trắng… Nửa thế kỷ im lìm, khuất bóng cho tác phẩm, người đọc và người viết cuộc đồng hành dang dở. Nhưng tất cả vẫn còn đâu đó truân chuyên và cách trở, trong âm vang mơ hồ của ký ức, từ ấy đến bây giờ và còn mãi cho đến ngày tro bụi bay lên thoát cõi người.
Trên thiên đường ký ức đứng tên cho toàn tập, vì là chút di sản tinh thần bé nhỏ thương yêu, ôm trọn thời ấu thơ, đã như bóng ảnh đồng hành vô hình nuôi dưỡng, nâng đỡ và che chở cho người viết suốt đường đời qua mê lầm, oan khiên, bạc đãi, ngộ nhận, của khổ nạn triền miên tâm và cảnh. Khách quan sẽ chẳng nhìn thấy gì trong đó, nhưng với người viết lại, mỗi hình ảnh, mỗi vết tích nhỏ nhoi đều là một thiên đường trong nghĩa đơn sơ là đẹp đẽ nhất, thuần khiết nhất, tôn quý nhất đủ xúc động tâm cảm bùi ngùi tưởng tiếc, ngôi nhà và những lối đi trong trường Khải Định Huế, tòa Tịnh Cư Đường nguy nga ở Quảng Trị, làng quê nội ngoại thời tản cư, cuộc hồi cư trở về nơi chốn cũ tan hoang… những năm bốn mươi.
Những truyện ngắn, nội dung, tầng bậc và tính cách khác nhau, thường khởi nguồn từ một thoáng thấy về cảnh (Rừng lao xao) hay người (Trên miền xanh lá cây), một xúc động từ cái đẹp (Thành lũy hư vô), một cảm kích tương giao, nỗi niềm ấm ức không thể nói trong đời sống thật (Nắng bên trời, Bọt biển), từ chiêm bao ứng hiện (Đất hứa)… Chỉ là như thế, nhưng chứa đựng được ít nhiều suy nghiệm về con người cuộc sống và những băn khoăn trong nội thể âm u, hoặc những ước mong, tưởng tiếc bồi hồi (Đêm tàn oanh trảo)… hoặc ẩn dụ về tình yêu và sự chết (Tan theo sương mù). Chung thủy tuyệt đối dẫu làm sống được cái chết vẫn sẽ chấm dứt khi hình bóng khác thoáng qua tâm tưởng, chia lìa cuộc hợp nhất âm dương.
Không chỉ sống hay chết mà còn hay mất nhau trong tương quan khi không còn niềm tin vào tuyệt đối thiêng liêng. Nên bóng dáng sống trong chết biến tan theo sương mù ảo giác của kẻ tưởng chung tình.
Không gian hay bối cảnh những chuyện này quanh quẩn Saigon, Đà Lạt, Nha Trang, ba cạnh một tam giác con đường về đi cũ mòn của người viết. Thoáng bóng Đài Bắc (Dưới vầng hoa trắng, Bóng lá hồn hoa), Osaka (Dòng sông chết, Bóng ma), Kyoto (Tan theo sương mù), Seoul (Rừng lửa đen, Mùa xuân một lần), hoài niệm chuyến đi năm 1970.
Dòng truyện ngắn này chấm dứt, khoảng 1972. Về sau, khi viết lại hay viết tiếp, như con người và cuộc đời, những trang viết đã chuyển thể qua một tính cách và tầng bậc khác, khó gọi tên đúng là gì, nên tôi vẫn là tôi mà tôi ấy không thể nào là tôi này nữa. Tế hệ đọc những trang cũ ngày xưa đã già cỗi hoặc lụi tàn. Tuổi trẻ ngày nay sẽ hoàn toàn xa lạ và có thể vô cảm với mớ đồ cũ trên tay, nhưng qua dòng trôi chảy của thời gian và thế sự, biết đâu vẫn còn có ai vớt lại chút bọt bèo
mong manh của quá khứ. Chút bọt bèo có thể sẽ là mầm xanh cho mùa hoa trái mới, cũng có thể là phiến hóa thạch vô tri vì cuộc đợi chờ vô vọng mấy mươi năm mà kỳ thực đã mấy nghìn năm bên bờ ảo hóa.
Nguyễn Thị Hoàng
2019


Lời tựa cho tập thơ MÂY BAY QUA TRỜI XƯA

Nói với...
Thơ là tiếng im thoát ra từ niềm đau, như giọt máu ứa từ vết thương lặng lẽ. Là
tiếng vọng thiết tha của yêu thương, bâng khuâng của tưởng tiếc những vẻ đẹp,
nguồn vui đã đến rồi đi mất hút suốt đời. Đôi khi cũng là tiếng gào la thống hận,
hay tiếng vang lừng ca ngợi hân hoan. Là tiếp điểm của cảm ứng giữa con người
và thiên nhiên, mối nối êm đềm giữa nội tâm cùng ngoại giới. Là nguồn xúc động
ngắn ngủi hay dài lâu của chủ thể và tha nhân, khi tình cờ bắt gặp hay tìm kiếm
được đáp số trên hành trình thao thức chờ mong.
Nên, thơ là nguồn xúc động, phản chấn bên trong từ một hiện tượng, sự kiện,
tình thế bên ngoài, hoặc một bất ngờ hiện tại vang dội từ đáy thẳm hồi ức và
hoài niệm. Cuộc bốc thoát và trôi lướt hồn nhiên của ý trên dòng êm vô thức ấy,
dẫu lặng mà không tịnh vì huyên náo âm vang khắp thần trí và tâm can người
cảm niệm.

Krishnamurti nói chỉ trong định tĩnh mới phát sinh hiện thể sáng tạo. Ngược
lại, với thơ không thể nào định tĩnh được. Cũng không một hiện thể nào. Lại càng
không có bất cứ sáng tạo nào. Vì, thơ không nhờ làm ra mà có.
Người ta vẫn nói làm thơ. Chỉ có thể làm bàn ghế, cá thịt, nhưng không thể
làm ra thơ, trừ một số trường hợp thơ bị biến dạng dưới những chủ đề được đặt
định sẵn do tình thế bắt buộc, như thời xưa là thi cử, thời nay là nhóm họp, tuyên
dương… thành vịnh, thành vè... dù vẫn khoác sắc màu và vần điệu của thơ. Với
thơ, có thể có và cũng có thể không một hiện thể. Vì sự cảm nhận đôi khi từ vô
hình vô ảnh, những thấp thoáng âm vang thành cuộc hòa âm triền miên trong cõi
tâm tình.
Nếu tiểu thuyết giới hạn trong mô hình của chủ đề thì thơ mông lung vô tận
như mây trời, vì là cuộc vỡ tràn của uẩn thức nương theo vay mượn ngôn từ của
ý thức bốc thoát ra cõi hữu hình xa lạ và đôi khi đối nghịch. Vì thế thơ phải hoàn
toàn được tự do về ý tứ diễn tả, trừ những thể loại tất yếu chìu theo âm luật của
thơ. Và cũng không thể uốn ép thơ như tóc đàn bà theo kiểu mẫu của người nhìn
ngắm. Cũng đừng thắc mắc dò hỏi từ đâu và tại sao. Vì, nó như thế là như thế.
Vấn đề là cảm hay không cảm. Có thể cảm mà không nhận. Có thể cảm và nhận
thì cảm nhận ấy sắc phong thơ thành hòa điệu vô thanh của những tâm hồn cách
trở mà vẫn có thể cùng nhau.
Liên quan, ngoài làm thơ còn chuyện nhà thơ. Những tên tuổi lớn trùm phủ
văn học Pháp thế kỷ 19 như Lamartine lãng mạn và thanh thoát, Alfred de Vigny dữ dội và nồng nàn, nặng nề và trầm trọng như Beaudelaire... đích thực là những
nhà thơ... Và sau đó là Gérard de Nerval, John Keats… những mái nhà thơ trên
không gian và thời gian thế giới xưa kia bây giờ và mãi mãi.
Ở ta, một thế giới thơ tôn nghiêm quý giá như Nguyễn Du với Truyện Kiều, hay
thiết tha thâm trầm tài hoa như Đoàn Thị Điểm với Chinh Phụ Ngâm không ai gọi
là nhà thơ, chỉ cụ và bà. Trong những tác phẩm ấy, từng khúc đoạn, từng câu từng
chữ, diễn tả là của một nhà thơ bậc nhất.
Thời nay, chỉ vài ba tập in mỏng manh, có khi chỉ một ít bài rải rác đó đây, vẫn
được hay bị gọi là nhà thơ. Vì sao? Ai hiểu biết và quý yêu thơ, có thể cũng công
nhận một điều. Bản chất của thơ không cần dấu huyền. Nhưng cũng đừng ném
cho thơ dấu nặng. Bởi vì thơ chỉ là dấu hỏi. Là thở. Là hơi thở, thở ra, thở dài hay
thở than. Chỉ để gởi trao từ cõi trong ra ngoài niềm xúc động chứa chan, nỗi trầm
uất nghẹn ngào, niềm hân hoan thoát khỏi nguồn cơn không nói được bằng lời lẽ
thông thường với trần gian thế tục…
Lời giải trình mong được hiểu, những trang muộn màng này, Mây bay qua trời
xưa là gì và tại sao.
… Từ lớp nhất (lớp 5 bây giờ) trường Đoàn Thị Điểm, Huế, những bài thơ rỉ rả
đầu tiên, không vì đâu vì sao viết vào trang vở xé, nhét xuống hộc bàn, bỏ quên
đâu đó, rồi những bài được gọi là thơ khởi nguồn từ lớp đệ ngũ (lớp 7) Đồng
Khánh, bạn bè và cô giáo bắt gặp chuyền nhau đọc, in lên bích báo trường, chép
lén chia nhau… Người viết ra không có và cũng chẳng nhớ bài nào. Chỉ một câu trong Tình vật lý cô giáo khen ngợi ngâm nga “ai bình phương cường độ của lòng
đau”, toàn những chữ của bài đã học. Mười bốn tuổi chưa có lòng thì lấy gì đau,
thật là… láo toét. Cũng có thể là dự báo thời tiết cho cuộc đời bất ổn mai sau. Cùng
thời là bài Chi lạ rứa. Bạn bên cạnh chép, rồi truyền đi, lớp này, lớp khác. Người
viết lại không có và không nhớ, trừ một vài câu nghe mãi xung quanh “chi lạ rứa
chiều ni tui muốn khóc. Ngó chi tui đồ cỏ mọn hoa hèn”. Nói cho văn vẻ thôi,
không là cỏ mọn, hoa hèn gì đâu. Thơ biến mất nhưng nguyên nhân thì còn lại.
Ngồi tựa gốc cây phượng sân trường giờ chơi nhìn ra lối vào bên kia bãi cỏ, người
đi vào lững thững đứng lại nghiêng đầu nhìn không đăm đăm nhưng lâu hơn một
thoáng, mỉm cười… Có vậy thôi mà “chi lạ rứa bên ni bờ tui khóc”.
… Cho đến khoảng 1960, nhóm Bách Khoa của Lê Ngộ Châu, tình cờ mà cơ
duyên, tìm được và tóm gọn những bài thơ đầu tiên trong mấy tập thơ viết tay bị
lấy mất. 1964 là chuyển đoạn qua cuộc trường kỳ kháng chiến phu thê, thơ biến
mất nhường lời cho tiểu thuyết (Nguyễn Hiến Lê gọi Nguyễn Thị Hoàng là tiểu
thuyết gia, mấy người khác còn gọi là văn hào, đại văn hào, thật hay đùa không
cần biết nhưng vẫn được trả lời vui vẻ, đúng rồi, thêm giùm chữ g, là văng đại
xuống hào).
Những năm 70, rồi 80, 90, thơ sống lại từ những nguồn cơn và tâm cảnh khác,
thoi thóp và bất thường như hơi thở khi triền miên khi đứt nối chập chờn. Thật
ra, từ 90, thơ theo dòng những biến chuyển khác, cuộc đời và cảm nghĩ, dần dần
ra khỏi những ác mộng triền miên, thấy biết mà chưa thể lên đường phương
hướng mới.
Vì, khi vui thì ngộ nghĩnh:
trong quán cà phê
có một người ngồi
nhìn qua phía tôi
trong tôi
có một quán cà phê
nhìn về phía khác
Khi buồn thì thương thân:
vầng lá xanh ngoài kia của ai
cây tôi diệp lục tố khô rồi
có người bỏ vắng đời như ngõ
từng bước đi về cõi nhạt phai
Dấu vết trên đường đi của một con người qua số mệnh, mỗi một có vẻ như
chính là nhưng chẳng phải. Như mỗi hạt ngọc hay đá không là xâu chuỗi, mà phải
liên kết bằng sợi dây ẩn khuất bên trong mới biết được là gì. Từ những than van
rên rĩ vì những biến cố tội phúc đầu tiên, đến lời câm trách oán về lối rẽ bất ngờ từ
nợ duyên tiền kiếp, giây phút hồi sinh xao xuyến vì vẻ đẹp tương giao thoáng qua
thân ái xa vời, trở về ngõ đời phận sự tắt tiếng im hơi. Một thời dài chìm đắm viết
để sống mà không bao giờ được sống để viết.
Rồi đêm mưa khởi đầu cơn ác mộng triền miên. Thơ trở về nỉ non, tha thiết,
đắm đuối, mơ say… Toàn thể tâm thức và tình thế của một thứ người nín sống từ lâu tỉnh dậy. Chỉ là tỉnh dậy trong chiêm bao để nương tựa và phóng hóa tương
đối thành tuyệt đối, để tìm lại mình, để níu lại đời. Cho đến khi đêm dài dứt nẻo,
ngày trở về nguyên sơ thể tính bình minh.
Qua những khúc đời lưu chuyển ấy, thơ đến rồi đi, không giữ gìn không ước
hẹn. Đến, từ một xúc động bất chợt mong manh vẻ thoáng hiện sáng ngời của
bóng dáng, sợi nắng, giọt mưa, cơn gió, bông hoa, bờ rêu, vệt cỏ … Trên tất cả
thường là một hình tượng mơ hồ ảo giác không bao giờ có thật trên đời, hoặc có
thì cũng chỉ là lầm tưởng. Những lúc ấy thơ như con dã tràng trên bãi cát, chụp bắt
nhanh hoặc biến mất vào những lỗ sóng xoi mòn. Nên vớ phải bất cứ thứ bút gì,
mảnh giấy vụn nào, tờ lịch xé, mẩu hóa đơn… ghi nhanh có khi trong đêm chưa
kịp bật sáng đèn, ngoài đường đi, trên xe tàu, bãi bờ, bất cứ lúc nào và bất cứ nơi
đâu, hứng đón lấy khi nó ứa ra, như giọt máu từ vết thương, nước mắt khi hoài
niệm, mồ hôi thời bửa củi trên rừng… Chỉ cần thở ra được hơi thở lửa nén vào lúc
ấy. Sau đó, những mảnh rời vất bỏ, mất mát, lẫn lộn vào đâu trong mớ bản thảo
cùng chôn vùi rách nát mấy mươi năm.
Cho nên, những trang sau, dù tuần tự xếp hàng theo dòng thời gian từ ấy đến
bây giờ, sáu mươi đến sắp sửa hai mươi, vẫn chỉ là chứng tích tan tành của những
khúc đoạn thác ghềnh trôi chảy không êm đềm của vượt thoát. Chỉ là những mảnh
gương vỡ tan tành chẳng đủ soi thấy gì dưới kính hiển vi đã mờ đục của trần gian.
Chỉ là, dừng lại cuộc chạy – chạy mà không đua – suốt một cuộc đời không
được giống bất cứ đời nào khác, thử nhìn lại giấc chiêm bao vừa ngắn ngủi vừa lê thê qua những trang thơ vô chủ như tờ rơi suốt dọc đường đời. Vô chủ vì thơ
đúng nghĩa là tác phẩm văn học thường có chủ đề hay chủ trương, riêng Mây bay
qua trời xưa thì rõ là hoàn toàn… vô chủ.
Dù sao, vẫn mang ơn những cơn đau trong ác mộng đã chuyển thành thơ và
những thương tích từ thực tại đã chuyển Tình qua Đạo.
Trên cao, mây bay đi, trời vắng, nhưng rồi mây khác đến, nhờ thế mà trời còn.
Dưới đời, mây đã bay đi, không mây khác đến, hoặc nếu có cũng trượt khỏi Miền
Không Tịch Tịnh. Để chỉ còn lại Tĩnh Lặng. Hoàn toàn tĩnh lặng sau những ngàn
năm gió bão tơi bời. Đôi mắt của Tĩnh Lặng ấy có thể nhìn xuyên suốt (không phải
xuyên thấu của thời trang!) nội tâm và ngoại giới bất chấp mọi đòn roi thực tại mãi
hoài tiếp tục những bất công và bất thông quất ngược vào chút hình hài mong
manh khách trọ trần gian.
Không bến bờ nào khác, không cõi giới nào khác, Tĩnh Lặng ấy, sau qua đi và đi
qua tất cả, chính là Nơi Đến của Trời Mây.
Nguyễn Thị Hoàng
Saigon 2019

---------------------------------------------
Vậy là Bộ sưu tập cá nhân còn thiếu 5/ 36 quyển của bà (tính luôn 2 quyển mới phát hành 2020 của NXB New Viets)
1. Cho những mùa xuân phai (tập truyện, Văn Uyển, 1968)
2. Một ngày rồi thôi (truyện dài, Hoàng Đông Phương, 1969)
3. Tiếng hát lên trời (truyện dài, Xuân Hương, 1970)
4. Bóng tối cuối cùng (truyện dài, Giao Điểm, 1971)
5. Tuần trăng mật màu xanh (truyện dài, Đồng Nai, 1973)




Full List sách của NTH:
1. Sầu riêng (thơ, 1960)
2. Kiếp đam mê (thơ, 1961)
3. Vòng tay học trò (truyện dài, Kim Anh,1966)
4. Tuổi Sàigòn (truyện dài, Kim Anh, 1967)
5. Ngày qua bóng tối (truyện dài, Văn, 1967)
6. Trên thiên đường ký ức (tập truyện, Hoàng Đông Phương, 1967)
7. Vào nơi gió cát (truyện dài, Hoàng Đông Phương,1967)
8. Mảnh trời cuối cùng (truyện ngắn, Hoàng Đông Phương,1968)
9. Cho những mùa xuân phai (tập truyện, Văn Uyển, 1968)
10. Về trong sương mù (truyện dài, Thái Phương, 1968)
11. Một ngày rồi thôi (truyện dài, Hoàng Đông Phương, 1969)
12. Cho đến khi chiều xuống (truyện dài, Gió, 1969)
13. Đất hứa (truyện dài, Hoàng Đông Phương, 1969)
14. Tiếng chuông gọi người tình trở về (truyện dài, Sống Mới, 1969)
15. Vực nước mắt (truyện dài, Gió, 1969)
16. Vết sương trên ghế đá hồng (truyện dài, Hoàng Đông Phương,1970)
17. Tiếng hát lên trời (truyện dài, Xuân Hương, 1970)
18. Trời xanh trên mái cao (truyện dài, Tân Văn, 1970)
19. Bóng người thiên thu (truyện dài, Hoàng Đông Phương,1971)
20. Bóng tối cuối cùng (truyện dài, Giao Điểm, 1971)
21. Tình yêu, địa ngục (truyện dài, Nguyễn Đình Vượng, 1971)
22. Định mệnh còn gõ cửa (truyện dài, Đồng Nai, 1972)
23. Bây giờ và mãi mãi (truyện dài, Đời Mới, 1973)
24. Bóng lá hồn hoa (truyện dài, Văn, 1973)
25. Năm tháng dìu hiu (truyện dài, Đời Mới, 1973)
26. Trời xanh không còn nữa (truyện dài, Đời Mới, 1973)
27. Tuần trăng mật màu xanh (truyện dài, Đồng Nai, 1973)
28. Buồn như đời người (truyện dài, Đời Mới, 1974)
29. Chút tình xin lãng quên (truyện dài, Trương Vĩnh Ký, 1974)
30. Cuộc tình trong ngục thất (truyện dài, Nguyễn Đình Vượng, 1974)
31. Dưới vầng hoa trắng (tập truyện, Sống Mới, 197?)
32. Nhật ký của im lặng (Kinh Đô Ấn Quán, 1992)
33. Lỡ cánh chim trời (Đồng Nai, 1990)
34. Hồn muối (tập truyện, Kim Đồng, 2006)

---------------------------------------------

Bìa tạp chí Văn về 5 cây bút nữ nổi tiếng của văn học miền Nam trước 1975 & bài phỏng vấn (chỉ là Q&A nhưng là những đoạn “tiểu-thuyết” rất Nguyễn-thị-Hoàng) (với tranh minh hoạ của Choé)








https://photos.google.com/share/AF1QipP5ZKf-N_JfjyVdqcqY-Hh2PwyEx9Gxjo6cm1Jjz0s--V5QGK5R1edmLDuFeQlk6Q?key=enJLY1Z2QjU5cDhPZnE0Z3dlOVJsYjlvZjVmdjB3 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét