Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

Ghi chép về Đà Lạt (bài 1,2)

Ghi chép về Đà Lạt (bài 1)
Mai Thái Lĩnh
29/08/2020


Boxitvn  


Chuyện kể về Hồ Xuân Hương – Đà Lạt

1. Nguồn gốc của Hồ Xuân Hương

Hồ nước lớn ở trung tâm thành phố Đà Lạt không phải là một hồ nước tự nhiên, mà là một hồ nhân tạo. Vào năm 1944, trong một bài phỏng vấn của tạp chí Indochine, ông Cunhac (Tỉnh trưởng Tỉnh Lang Bian trong thời gian 1917- 1920) cho biết như sau:

“Hồ được hình thành tương đối gần đây. Thực vậy, do sáng kiến của tôi, hồ được làm vào năm 1919, do kỹ sư công chánh Labbé thực hiện. Vào khoảng 1921-1922, theo lệnh của Công sứ Garnier, đập đất cũ chống đỡ con đường đã được nâng cao và kéo dài thêm và năm sau đó, một cái đập thứ hai được xây dựng ở hạ lưu, như vậy hình thành hai hồ nước. Do không có đập tràn (déversoir), cả hai đập bị vỡ do những cơn giông dữ dội của trận bão tháng 5 năm 1932; ngay sau đó chúng được làm lại trong cùng những điều kiện như trước. Con đập bằng đá được xây dựng vào khoảng 1934-1935, xa hơn một chút về phía hạ lưu so với các con đập cũ.”

Thật ra, sáng kiến xây dựng một hồ nước không phải bắt nguồn từ Cunhac. Ngay từ đầu thế kỷ 20, người phụ trách công chánh (travaux publics) ở Đà Lạt là ông Rousselle đã trình bày dự án này cho công sứ Phan Rang là Odend’hal (năm 1902, Dalat trực thuộc tỉnh Phan-Rang).

Photo_01 Sur le lac de Dalat -1930.jpg

Hình 1: Trên Hồ Đà Lạt (1930)

Kiến trúc sư Louis-Georges Pineau – tác giả của Đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt năm 1933 – đã đánh giá tầm quan trọng của hồ nước này như sau:

“Hồ nước là trung tâm và là sức hấp dẫn của Đà Lạt. Không có hồ nước thì khi đi ngang qua thành phố, thung lũng Cam Ly chỉ là một vùng trũng sình lầy. Baguio – trạm nghỉ dưỡng vùng cao của Philippines, đã hiểu quá rõ tầm quan trọng của nước trong một phong cảnh miền núi và trong một thành phố nghỉ dưỡng, nhưng đành phải bằng lòng với Công viên Burnham (Burnham Park) của một bồn trũng hình chữ nhật – thua xa vẻ đẹp của Hồ Đà Lạt.”

Trong quá trình hình thành và phát triển thành phố, hồ nước này được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau. Lúc đầu, người Pháp chỉ gọi nó bằng cái tên đơn giản: Lac (Hồ) hoặc Lac de Dalat (Hồ Đà Lạt) – như trong Hình 1 (trích từ cuốn Petit Guide touristique của André Bon, xuất bản tại Hà Nội năm 1930). Về sau, khi có thêm nhiều hồ nước khác, nó được gọi tên là Hồ Lớn (Grand Lac), như chúng ta thấy ghi trong bản đồ 1/5.000 năm 1952 (xem hình 2):

Grand Lac.jpg

Hình 2: Trích bản đồ 1/5.000 (1952) của Nha Địa Dư Đông Dương 

Vào thời điểm đó, đã có thêm nhiều hồ khác như: Hồ Saint-Benoit (Lac Saint-Benoit, tức là Hồ Mê Linh sau này), Hồ Than Thở (Lac des Soupirs), …

Mãi đến năm 1953, Hồ Đà Lạt mới đổi tên thành Hồ Xuân Hương (xuân hương: hương mùa xuân). Theo nhiều cư dân sống lâu năm ở địa phương, nhà văn Nguyễn Vỹ – lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Thị xã – đã đặt tên Xuân Hương cho Hồ Lớn. Rất tiếc là cho đến nay, chưa tìm được bằng chứng để xác nhận thông tin truyền miệng này.

2. Sự nhầm lẫn của ông Ely Cunhac

Cũng trong bài phỏng vấn nói trên, ông Cunhac nói: “Tại vị trí của hồ nước, dòng suối nhỏ của bộ lạc Lat chảy ngang qua và người ta gọi nó là “Da-Lat” (Da hay dak trong tiếng Thượng có nghĩa là nước); rồi vì một lý do nào mà tôi không thể tự lý giải được, người ta đã thay cái tên đó bằng một cái tên Việt Nam: Cam-ly”. Sự nhầm lẫn của Cunhac đã khiến cho trong một thời gian dài, nhiều người lầm tưởng Cam Ly là một cái tên Việt Nam.

Nhưng tài liệu của các nhà thám hiểm đầu tiên cũng như của các đoàn khảo sát người Pháp đã từng  đặt chân đến cao nguyên Lang-Bian đều xác nhận vào hai thập niên cuối thế kỷ 19, vùng Đà Lạt ngày nay là một vùng đất hoang vu. Người dân bản địa tập trung vào các buôn làng nằm trên các dòng suối của Sông Da Deung (có khi phiên âm là Da Dong, Da Dung, Da Dâng, …) – nhánh chính của  Sông Đồng Nai ở thượng lưu. Hơn nữa, không có tài liệu nào xác nhận tên của dòng suối chảy ngang Đà Lạt là Da-Lat hay Dalat.

Trong khi đó, nhiều tài liệu cho thấy Cam Ly có nguồn gốc từ một danh xưng của người bản địa. Năm 1881, khi mô tả các phụ lưu của sông Da Deung, Paul Néis ghi tên dòng sông đầu tiên ở tả ngạn là: “Sông Da-komli: hướng chung: Đông Bắc – Tây Nam, chiều rộng 25 mét; nền cát” (hình 3). Trong bài bút ký hành trình kể lại chuyến thám hiểm năm 1893, bác sĩ Yersin viết: “Giữa Lao-Gouan và Rioung, phải đi bộ già một ngày đường. Người ta đi qua các làng Ya, Con Taét, Dou-ouine (trên dòng Da-Kemlé) và Ea.”

Hình 3: Trích tường trình của bác sĩ Néis

Hình 4:  Trích bản đồ của Le Chemineau

Nhìn vào tấm bản đồ (hình 4) in kèm theo bài viết của Le Chemineau (bút hiệu của Constantin, Thanh tra Công chánh Đông Dương) công bố năm 1916 trên Revue Indochinoise chúng ta thấy những cái tên như Da Kamly (Sông Cam Ly), Cascade du Kamly (Thác Cam Ly). Vì vậy Suối Kamly chảy ngang qua Đà Lạt hiển nhiên là một cái tên của người bản địa, không phải là một cái tên Việt-Nam-hóa.

3. Đầu nguồn của Suối Cam Ly:

Le Lac de Dalat (Tessan, 1923).jpg

Hình 5: Hồ Đà Lạt nhìn từ một cửa sổ của khách sạn Langbian Palace

Suối Cam Ly (nghĩa là dòng nước làm nên Hồ Xuân Hương) không bắt nguồn từ dãy núi Lang Bian mà xuất phát từ dãy đồi núi nằm ở phía đông-nam dãy Lang Bian – với độ cao trung bình từ 1.600 đến 1.700 mét, trong đó hai ngọn núi cao nhất là Lap Bé Nord (Lap Bé Bắc) và Lap Bé Sud (Lap Bé Nam). Có lẽ cũng vì lý do đó, khi xây dựng khách sạn Langbian Palace, các nhà quy hoạch và kiến trúc người Pháp đã chọn vị trí trên một ngọn đồi để từ đó người ta có thể nhìn thấy cả hai ngọn núi Lap Bé như trong hình 5 (đăng trên tuần báo L’Illustration số N° 4172, năm 1923)

Lapbe Nord nhìn từ Hồ XH (2).jpeg

Hình 6: Lap Bé Bắc (Hòn Ông)

Lbbe Nam nhìn từ công viên Bích Câu mới.jpg

Hình 7: Lap Bé Nam (Hòn Bồ) 

Ngày nay, du khách có thể nhìn thấy hai ngọn núi này nếu đi bộ xung quanh Hồ Xuân Hương, nhưng khó nhìn thấy cả hai cùng một lúc. Ngọn núi dễ nhìn thấy nhất là Lap Bé Bắc cao 1.732m, người dân thường gọi tên là Hòn Ông. Nếu đi dọc theo bờ phía nam của hồ Xuân Hương, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy ngọn núi này (hình 6). Ngược lại, nếu đi men theo bờ phía Bắc của hồ, du khách chỉ có thể nhìn thấy ngọn Lap Bé Nam (cao 1.702m) ở một vài vị trí thích hợp, và cũng chỉ thấy một phần của ngọn núi, bởi lẽ các nhà quản lý đô thị đã “vô tình” cho phép xây một số công trình kiến trúc khá cao che khuất tầm nhìn (hình 7). Người dân thường gọi ngọn núi này là Hòn Bồ.

Hai ngọn Labbe nhìn từ Cầu Sắt.jpg

Hình 8: Hai ngọn núi Lap Bé nhìn từ Cầu Sắt

Hai ngọn Labbe nhìn từ đường 11 cũ (4).jpg

Hình 9: Trên đường Đà Lạt – Trại Mát

Trước đây khoảng một thập niên, ở vị trí của Cầu Sắt (ngày nay đã được đúc bê-tông), người ta vẫn có thể nhìn thấy cả hai ngọn núi Lap Bé. Đáng tiếc, một phần vì Đà Lạt bị đô thị hóa một cách hỗn loạn, phần khác vì “tầm nhìn” không đủ thông minh của các nhà thiết kế và quản lý đô thị “đời mới”, cái nhìn toàn cảnh (panoramic view, point de vue panoramique) ở địa điểm này đã bị phá vỡ (hình 8).

Thật ra, còn có một số vị trí khác cho phép chúng ta nhìn thấy cả hai ngọn núi Lap Bé, nhất là trên đường Đà Lạt – Trại Mát (quốc lộ 11 cũ, nay là quốc lộ 20). Chỉ có điều này khác với ngày xưa: thay cho màu xanh quyến rũ của  thiên nhiên, giờ đây người ta chỉ nhìn thấy một màu trắng xám ảm đạm, nhợt nhạt của ny-lông… (hình 9)

Điều làm cho bất cứ ai có chút tấm lòng “yêu thương Đà Lạt” phải lo lắng là: trong khi các nhà lãnh đạo “quyết tâm” bám chặt dự án nhồi nhét một tòa nhà 10 tầng lên đỉnh ”Đồi Dinh Thị trưởng” để thể hiện chủ trương “bê-tông hóa” bằng bất cứ giá nào thì ở đầu nguồn của Sông Cam Ly, hai ngọn núi Lap Bé (tức Hòn Bồ và Hòn Ông) đã và đang bị tấn công không chút thương xót. Không cần đi đâu xa, độc giả chỉ cần lên mạng Internet nhìn ảnh chụp vệ tinh hai ngọn núi này, cũng có thể cảm nhận được sự xót xa trước tình trạng phá hoại môi trường thiên nhiên tàn khốc chưa từng có trong lịch sử phát triển của “thành phố ngàn thông” nổi tiếng này (xem hình 10 và 11).

Hòn Bồ - crop.jpg

Hình 10:  Hòn Bồ ngày nay (ảnh vệ tinh)

Hòn Ông 2020.jpg

Hình 11: Hòn Ông ngày nay (ảnh vệ tinh)

Đà Lạt, 25 tháng 8 năm 2020 

_____

Chú thích

[1] A. Baudrit, “La naissance de Dalat”, Revue Indochine¸ N° 180, 10 Février 1944.

[2] Louis-Georges Pineau, “Le plan d’aménagement et d’extension de Dalat”, La vie urbaine n° 49, 1939, p. 42 (note).

[3] L.G. Pineau, op.cit., p. 42.

[4] Trong một số tài liệu, họ tên của Cunhac lại được ghi là Elie-Joseph Cunhac.

[5] Hãn Nguyên, “Lịch sử phát triển Đà Lạt” (1893-1954), xem: Tập san Sử Địa, số 23 và 24 (đặc khảo Dalat), tháng 6-tháng 12 năm 1971, tr. 272.

[6] Cochinchine française, Excursions et reconnaissances, N° 10, Imprimerie du gouvernement, Saigon, 1881, p. 21.

[7] A. Yersin, “Sept mois chez les Moïs”; Variétés sur les pays moïs, Gouvernement de la Cochinchine, Saigon, 1935, p. 173.

[8] Le Chemineau, “Sanatorium du Lang-Bian”, Revue Indochinoise, Mars-Avril 1916, pp. 305-323.

[9] Tên Lap Bé do người Pháp phiên âm, đọc là láp-bê. Theo Địa chí Đà Lạt (2008), ngọn Lap Bé Bắc cao 1.733,7m, ngọn Láp-bê Nam cao 1.709m.

[10] “Sẽ xây dựng khách sạn cao 10 tầng ở khu dinh tỉnh trưởng Đà Lạt”, Tuổi Trẻ Online

14/08/2020:

https://nhadat.tuoitre.vn/se-xay-dung-khach-san-cao-10-tang-o-khu-dinh-tinh-truong-da-lat-20200814162239954.htm

M.T.L.

Tác giả gửi BVN

****


Ghi chép về Đà Lạt (bài 2)
Mai Thái Lĩnh
31/08/2020
Boxitvn


Chuỗi hồ trên Suối Cam Ly

1. Ý tưởng về “một chuỗi hồ” của Ernest Hébrard:

Thành phố Đà Lạt trong thực tế là một thành phố “hai bên sông”. Khác với các thành phố “hai bên sông” ở vùng đồng bằng, Đà Lạt nằm trên một cao nguyên với độ cao trung bình 1.500 mét so với mặt biển, địa hình nhấp nhô, lại gần với đầu nguồn nước. Vì thế “sông” ở đây chính là những dòng suối, thậm chí là những lạch nước (creek). Trong quá trình thành lập thành phố, nhiều dòng suối đã được đắp đập để tạo thành những hồ nước. Vì thế, việc bảo vệ các hồ nhân tạo và các dòng suối nối liền các hồ nước phải được coi là trọng tâm hàng đầu của công tác thiết kế và quản lý đô thị.

Plan Hébrard.jpg

Hình 1: Đồ án Ernest Hébrard [L’Illustration N° 4172, 1923]

Trở lại với đồ án chính thức đầu tiên của Đà Lạt năm 1923, chúng ta có thể thấy rõ ý tưởng của Ernest Hébrard  về một chuỗi hồ, nghĩa là một hệ thống các hồ nước nhân tạo trong đó hồ nước lớn nhất nằm ở trung tâm thành phố (Hình 1). Chuỗi hồ này chính là sự thay thế cho một dòng sông, và thành phố trong tương lai sẽ phát triển dọc theo hai bên “dòng sông nhân tạo” này.

Trong thực tế, việc thực hiện chuỗi hồ không hoàn toàn theo đúng dự kiến của Hébrard. Thay vì lấy dòng chính là suối nước bắt nguồn từ ngọn Lap Bé Bắc (tức Hòn Ông), các hồ nước gần đầu nguồn đã được xây dựng trên dòng suối thứ hai – phát nguyên từ dãy đồi núi ở phía đông-nam – trong đó cao nhất là ngọn Lap Bé Nam (tức Hòn Bồ). Tính cho đến đầu thập niên 1970, nếu chỉ tính các hồ quan trọng phía trên Thác Cam Ly, ngoài Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy có các hồ:  Than Thở, Mê Linh, Vạn Kiếp (Hình 2).[1]

Bản_đồ Đà Lạt_1965 - crop_edited.jpg

Hình 2: Trích bản đồ du lịch Đà Lạt năm 1971 

2. Tình trạng hiện nay của chuỗi hồ Cam Ly:

Từ sau tháng 4/1975, do không quan tâm đúng mức đến chức năng du lịch – nghỉ dưỡng của Đà Lạt, nhiều hồ nước thuộc hệ thống Suối Cam Ly bị bồi lấp, thông xung quanh hồ bị chặt phá, đất đai bị chiếm dụng làm đất sản xuất. Nghiêm trọng nhất là ba hồ nước: Vạn Kiếp, Mê Linh và Than Thở.

Vào năm 2010, trên tờ Tiền Phong (tờ báo của Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản) xuất hiện bản tin nhan đề “Khôi phục chuỗi hồ nhân tạo ở Đà Lạt” với nội dung: “… lãnh đạo TP Đà Lạt, Lâm Đồng, cho biết, từ nay đến 2015 sẽ triển khai nâng cấp khôi phục hàng loạt hồ nước rộng lớn như Mê Linh, Vạn Kiếp, Than Thở, Quảng Thắng… để ngăn chặn tình trạng khí hậu nóng lên ở miền đất vốn trong lành, mát mẻ như Đà Lạt.[2]

Ý định này thật ra không mới, vì trong cuốn Địa chí Đà Lạt xuất bản vào năm 2008, chính quyền thành phố đã thừa nhận tình trạng xuống cấp của các hồ nhân tạo. Tại phần Tổng luận của cuốn sách, có đoạn viết: “Thành phố hiện nay đang sử dụng hàng loạt biện pháp bảo vệ lưu vực các suối chính chống sự ô nhiễm và bồi lắng: nhà máy và hệ thống xử lý nước thải được hoàn thiện trong năm 2008; tiếp tục đầu tư khôi phục, chỉnh trang các suối hồ đã bị bồi lấp để tăng diện tích mặt nước (hồ Than Thở, hồ Mê Linh, hồ Vạn Kiếp, Đập I Đa Thiện). [3]

Thực tế diễn biến ra sao? Chúng ta thử xem xét vài trường hợp điển hình:

2.1. Hồ Vạn Kiếp

Hồ Vạn Kiếp được hình thành cùng một lúc với việc xây dựng khu cư xá Decoux (Cité Decoux) vào đầu thập niên 1940. Hồ nước này lúc đầu không có tên riêng. Đến đầu thập niên 1950, hồ được đặt tên là Đa Thành (Lac de Đa Thành), đến thời Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành Hồ Vạn Kiếp. (Hình 3 và 4)

da_lat-1963 hồ vạn kiếp.jpg

Hình 3: Trích bản đồ Đà Lạt 1952

Hồ Vạn Kiếp - satellite_img.jpg

Hình 4: Trích bản đồ Đà Lạt 1963

Khu cư xá Decoux còn được gọi là Khu cư xá Các đỉnh núi (Cité des Pics), có lẽ vì từ vị trí đó có thể nhìn thấy các đỉnh núi Lang-Bian (pic trong tiếng Pháp có nghĩa là đỉnh). Hai tấm ảnh cũ đăng kèm cho thấy Khu cư xá Decoux nằm trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng cạnh hồ nước, xa xa về phía bắc là dãy núi Lang-Bian hùng vĩ (hình 5 và 6).

Hồ Vạn Kiếp - satellite_img.jpg

Hình 5: Cầu băng qua suối (Cư xá Decoux)

Photo_06 Lac Cité_des_Pics.jpg

Hình 6: Cư xá Decoux và hồ nước

Năm 2014, bốn năm sau ngày chính quyền địa phương tuyên bố “triển khai nâng cấp khôi phục hàng loạt hồ nước”, một bản tin trên tờ Thanh Niên [4] báo động: “Ngày 28.11, phóng viên Thanh Niên Online có mặt tại hồ Vạn Kiếp thuộc phường 7, TP. Đà Lạt (Lâm Đồng) chứng kiến nhiều xe tải nối đuôi nhau chở đất đá, xà bần để lấp lòng hồ.”

Từ đó đến nay đã sáu năm, Hồ Vạn Kiếp đã được nạo vét hay chưa? Độc giả chỉ cần vào mạng Internet xem ảnh vệ tinh cũng có thể thấy thực tế: hồ nước vẫn là một bãi đất sản xuất nông nghiệp (hình 7). Xem ra giữa lời nói và việc làm, có cả một khoảng cách sâu thẳm, không thể khắc phục. 

ho-van-kiep (4).jpg

Hình 7: Hồ Vạn Kiếp hiện nay (ảnh vệ tinh)

Đại học dân lập Yersin.jpg

Hình 8: Đại học dân lập Yersin

Điều đáng nói hơn nữa: trước tháng 4/1975, trên ngọn đồi cạnh Hồ Vạn Kiếp còn có một trường trung học công lập dành cho nam sinh mang tên Trần Hưng Đạo – vị anh hùng dân tộc chỉ huy trận đánh tại Vạn Kiếp vào thế kỷ 13. Nhưng không bao lâu sau ngày thành phố được “giải phóng”, vì những lý do nào đó đến nay vẫn chưa được làm rõ, ngôi trường danh tiếng này đã bị xóa sổ. Đầu năm 1995, khi chấm dứt nhiệm kỳ tại Hội Đồng Nhân Dân TP. Đà Lạt và sắp trở về “làm dân”, tôi đã nghe một vị lãnh đạo của UBND Thành phố Đà Lạt thông báo “sẽ khôi phục lại trường Trần Hưng Đạo – trước mắt là một trường trung học cơ sở (cấp 2)”. Vậy mà sau đó, ngôi trường này lại được giao cho tư nhân để thành lập một trường “đại học dân lập” mang tên Yersin!

Quyết định xóa bỏ Trường Trung học Trần Hưng Đạo để thay bằng một trường khác là một vết chém làm đau lòng hầu hết các thế hệ cựu học sinh của trường ở quốc nội cũng như ở hải ngoại. Trong một truyện ngắn khá nổi tiếng [5], nhà văn Lại Văn Long đã nói lên cảm tưởng của  mình khi trở về thăm lại xóm Vạn Kiếp – nơi ông đã từng sống thời thơ ấu, thấy Hồ Vạn Kiếp biến mất, còn ngôi trường cạnh hồ lại biến thành trường khác, ông viết: “Tôi nhìn lên quả đồi của trường trung học Trần Hưng Đạo ngày nào nay có trường đại học Yersin mới xây dựng bề thế. Đây là trường đại học buồn nhất vì phải phủ định một trường học khác để có chỗ ra đời! Thật đáng sợ khi giáo dục phủ định giáo dục, văn hóa phủ định văn hóa và cái bao tử nhỏ bé của con người nuốt chửng cả thiên nhiên bao la lẫn huyền tích sâu lắng mấy ngàn năm của tôn giáo!”

Độc giả có thể tin đây là ý kiến khách quan, không thuộc loại “thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch”, vì nhà văn này chưa từng học tại Trường Trần Hưng Đạo, lại  là đảng viên, công tác tại một tờ báo Công an!

2.2. Hồ Mê Linh

Hồ Mê Linh lúc mới hình thành có tên là Hồ Saint Benois (Lac Saint Benois), gắn liền với Khu Cư xá Saint Benois (Cité Saint Benois) của quân đội Pháp. Từ thời Pháp thuộc cho đến năm 1975, khu vực này gắn liền với các cơ quan quân sự. Trên tờ bản đồ Đà Lạt đầu thập niên 1950 (hình 9), chúng ta thấy gần  Hồ Saint Benois là Trường Võ Bị Liên Quân (École Inter-Armes).

Lac Saint-Benois_Map.JPG

Hình 9: Trích bản đồ Đà Lạt thập niên 1950

stbenoit.jpg

Hình 10: Hồ Saint Benois

Lake Saint Benois.jpg

Hình 11: Nhà hàng La Rotonde cạnh Hồ Saint Benois

Có thể nói dưới thời Pháp thuộc, Hồ Mê Linh là một địa điểm du lịch sang trọng (xem hình 10 và 11). Đến đầu thập niên 1960, khi hình thành  khu dân cư người Việt (Khu Chi Lăng) và Trường Võ Bị Quốc Gia mới được xây dựng thì Trường Võ Bị cũ trở thành Trường Chỉ huy và Tham mưu. Khu vực này nói chung vẫn là khu quân sự.

Ngày nay, nếu trở lại Khu Chi Lăng, những người đã từng sống ở Đà Lạt ngày xưa sẽ ngạc nhiên khi thấy khu vực này hoàn toàn thay đổi. Kể từ khi kinh tế thị trường phát triển theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhiều khu quân sự trước đây đã trở thành khu dân cư hay khu thương mại.

Năm 2010, trên tờ Tuổi Trẻ có đăng bản tin “Đà Lạt: Khôi phục hồ Mê Linh” với nội dung: “UBND TP Đà Lạt chính thức khởi công sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Mê Linh nằm trên địa bàn phường 9 (TP Đà Lạt), với tổng số tiền đầu tư hơn 49 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ.” Bản tin còn cho biết hồ sẽ được phục hồi “nguyên trạng” và hoàn thành vào năm 2012.[6]

Hồ Mê Linh April_2019.JPEG

Hình 12: Hồ Mê Linh ngày nay

Đường Mê Linh April_2019.JPEG

Hình 13:  Đường Mê Linh ngày nay

Nếu nhìn vào thực tế hiện nay (xem hình 12 và 13), Hồ Mê Linh không được phục hồi “nguyên trạng”, cũng không được “nâng cấp”. Ngắm cảnh hồ và khu vực xung quanh, chúng ta không thấy còn lại chút gì của khung cảnh cũ để có thể hình dung một khu cư xá lịch sự, sang trọng của người Pháp ngày xưa. Hồ nước không còn là một thắng cảnh hấp dẫn mà chỉ là một cái “hồ thủy lợi” tầm thường, nhếch nhác,  không xứng với một thành phố du lịch, lại càng không xứng với cái danh hiệu “thiên đường du lịch”!

Hồ Mê Linh April_2019.JPEG

Hình 14: Trích Bản đồ Đà Lạt 1963

Hồ Mê Linh (2) crop.jpg

Hình 15: Hồ Mê Linh 2020 (ảnh vệ tinh)

Cũng cần lưu ý đến nhiệm vụ của hồ nước nhằm giữ cho dòng suối được trong sạch tương tự như ở các thành phố văn minh trên thế giới. Độc giả dù  không có điều kiện đến xem tận mắt cũng có thể lên mạng xem hình ảnh vệ tinh để thấy rằng Hồ Mê Linh sau khi nạo vét một cách tốn kém đã nhanh chóng bị bồi lấp vì dòng nước chảy ở thượng lưu vẫn tiếp tục bị ô nhiễm do rừng bị chặt phá, đất đai tiếp tục bị chiếm dụng để tăng gia sản xuất, có lẽ nhằm đạt chỉ tiêu về GDP ! (xem hình 14 và 15)

2.3. Hồ Than Thở

Nối liền với Hồ Mê Linh là Hồ Than Thở. Hồ nước này là một trong những  hồ nhân tạo đầu tiên và là một thắng cảnh nổi tiếng hàng đầu của thành phố. Người Pháp gọi tên hồ này là Lac des Soupirs, dịch sát nghĩa là “hồ của những tiếng thở dài”; về sau đổi tên thành Hồ Than Thở. Sau năm 1975, đã có lúc các nhà lãnh đạo “cách mạng” dị ứng với tên gọi đẫm mùi “tiểu tư sản” đó nên đã đổi tên thành Hồ Sương Mai, nhưng danh xưng mới đầy tính “lạc quan cách mạng” đã không thể tồn tại  lâu dài , vì thế hồ nước được trả lại cái tên cũ: “Hồ Than Thở”.

IMG_4143.JPG

Hình 16: Lac des Soupirs

Photo_17 Hồ Than Thở - 1960s.jpg

Hình 17: Hồ Than Thở thập niên 1960

Độc giả có thể nhìn vào hai tấm ảnh in kèm (hình 16 và 17) để có thể hình dung vẻ đẹp ban đầu của hồ nước – vào thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng Hòa. Chính vẻ đẹp tự nhiên làm say đắm lòng người đó đã khiến cho Hồ Than Thở cùng với Thác Cam Ly đi vào văn chương, nghệ thuật, 

Photo_18 1963 - Mê Linh và Than Thở.jpg

Hình 18: Trích bản đồ Đà Lạt 1963

Nhiều du khách chỉ biết đến Hồ Than Thở do mủi lòng vì câu chuyện truyền thuyết “Đồi thông hai mộ”. Thật ra, trước đây tại khu rừng cạnh Hồ Than Thở còn có một địa điểm thiêng liêng (Đài Lục Hòa) của Gia đình Phật tử – một tổ chức thanh thiếu niên Phật giáo.  Từ khu du lịch nhìn về phía bên kia đường, còn có một rừng thông thường gọi là “Đồi Tùng Nguyên”- một Trại trường (địa điểm huấn luyện) của tổ chức Hướng Đạo Việt Nam (hình 18 và 19).

Bản_đồ_vệ_ tinh Mê Linh - Than Thở.jpg

Hình 19: Hồ Mê Linh và Hồ Than Thở (ảnh vệ tinh)

Sau tháng 4 1975, toàn bộ xã hội dân sự biến mất – bao gồm cả hai tổ chức thanh thiếu niên vừa nêu: Hướng đạo và Gia đình Phật tử. Các khu vực này gần như bị bỏ hoang. Đến thời “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,  thay vì đứng ra khôi phục, chỉnh trang, Nhà nước lại giao khu du lịch Hồ Than Thở cho một doanh nghiệp tư nhân. Trong thực tế, tư nhân chỉ khai thác khu rừng còn sót lại theo kiểu “du lịch đám đông” (mass tourism), còn 2/3 hồ nước vẫn tiếp tục bị bồi lấp, rừng thông bị đốn trụi để … sản xuất nông nghiệp. Riêng Đồi Tùng Nguyên ngày nay được rào lại, không ai chăm sóc, có lẽ để “tìm nhà đầu tư” 

IMG_1694.JPEG

Hình 20:  Hồ Than Thở ngày nay

IMG_1699.JPEG

Hình 21:   Hòn Bồ nhìn từ Hồ Than Thở

Nhìn vào thực trạng của Hồ Than Thở hiện nay (hình 20 và 21), quả thật không ai có thể hình dung xưa kia nó đã từng là một nguồn cảm hứng cho các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ và ca sĩ nổi tiếng một thời …

Như vậy là chúng ta đã lướt qua hiện trạng của một số hồ nước thuộc “chuỗi hồ Cam Ly”. Có lẽ độc giả đã hiểu được phần nào nguyên nhân gây ra tình trạng “xuống cấp” thê thảm của môi trường thiên nhiên và thắng cảnh tại Đà Lạt. Và cũng có thể đoán ra lý do khiến cho trong những năm gần đây, Đà Lạt thường xuyên bị lũ lụt vào mùa mưa.

Từ thực tế đó, không thể không đặt câu hỏi: tại sao các vị lãnh đạo Lâm Đồng – Đà Lạt tỏ ra hăng hái, say sưa với các “siêu – dự án” (điển hình là xây dựng tòa cao ốc 10 tầng trên Đồi “Dinh Thị trưởng”cạnh một khu trung tâm thương mại vốn đã chật chội, chồng chất quá nhiều khối bê-tông) nhưng lại không mặn mà, thậm chí vô trách nhiệm đối với việc giữ gìn, khôi phục “chuỗi hồ trên dòng Cam Ly”?

Đà Lạt 29 tháng 8 năm 2020

M.T.L.

GHI  CHÚ:

[1] Trước tháng 4/1975, có ba hồ nước ở khu Đa Thiện: 1, 2 và 3. Hai hồ Đa Thiện 1 và 2 chỉ nhằm mục đích thủy lợi. Riêng Hồ Đa Thiện 3 (về sau trở thành điểm du lịch, được gọi tên là Thung Lũng Tình Yêu) không thuộc hệ thống Cam Ly mà chảy về phía tây-bắc nhập vào Sông Da Deung.

[2] “Khôi phục chuỗi hồ nhân tạo ở Đà Lạt”, Tiền Phong 21/07/2010:

https://www.tienphong.vn/xa-hoi/khoi-phuc-chuoi-ho-nhan-tao-o-da-lat-507371.tpo

[3] Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Đà Lạt, Địa chí Đà Lạt, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2008, tr. 409.

[4] “Hồ Vạn Kiếp Đà Lạt bị xâm hại nghiêm trọng”, Thanh Niên 28/11/2014:

https://thanhnien.vn/thoi-su/ho-van-kiep-da-lat-bi-xam-hai-nghiem-trong-512817.html

[5] Lại Văn Long, “Hồ Vạn Kiếp”, Báo Văn Nghệ TP.HCM ra ngày 1/8/2013:

http://leminhquoc.vn/the-loai-khac/tac-pham-cua-ban-be/1551-lai-van-long-ho-van-kiep.html

[6] “Đà Lạt Khôi phục hồ Mê Linh”, Tuổi trẻ 26/09/2010:

https://tuoitre.vn/da-lat-khoi-phuc-ho-me-linh-402478.htm

Ghi chú về bản đồ và hình ảnh:

1) Những hình ảnh cũ về Đà Lạt được lấy từ trên mạng Internet qua các trang: Dalat: The Lost Shangri-La (vnafmamn.com), bộ sưu tập của Mạnh Hải trên Flickr (www.flickr.com), Pinterest (www.pinterest.com), DALATARCHI của kiến trúc sư Trần Công Hòa, v.v… Những hình ảnh về Đà Lạt ngày nay là của tác giả.

2) Bản đồ du lịch Đà Lạt 1971: trong Tập san Sử Địa số 23&24 (đặc khảo Đà-lạt), Sài-gòn 1971.

3) Bản đồ Đà Lạt 1952: University of Toronto [Map and Data Library]: Service Geographique de l’Indochine, Plan de Dalat 1:5.000, Dalat, 1952:

https://mdl.library.utoronto.ca/collections/scanned-maps/dalat

4) Bản đồ Đà Lạt 1963: USAMSFE (U.S. Army Map Service, Far East), Vietnam City Maps 1:12,500, Đà Lạt (Dalat) Series L909, Edition 1-AMS, 1963.

5) Bản đồ Đà Lạt thập niên 1950: Không rõ nguồn gốc.

Tác giả gửi BVN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét