Saturday, March 13, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: ba mô hình kinh tế (Chương 1)

Kinh Tế Dễ Hiểu: ba mô hình kinh tế (Chương 1)
Đoàn Hưng Quốc
13.03.2021
Doanhquoc

Ba nền kinh tế lớn nhất toàn cầu hiện là Mỹ-Trung-Âu. Theo cách hiểu thông thường thì Hoa Kỳ gắn liền với Tư Bản và thị trường tự do (free market), Âu Châu với nền Dân Chủ Xã Hội (Social Democracy) còn Trung Quốc với Chuyên Chế Tư Bản (Authoritarian Capitalism.) Ba mô hình này không chỉ đơn thuần về kinh tế mà còn liên quan đến tổ chức nhà nước và xã hội (dân chủ, độc đảng, bình đẳng v.v…), cũng như đang tranh đua ráo riết để trở thành hình mẫu chinh phục phần còn lại của thế giới chọn lựa noi theo, cho nên phần dưới đây sẽ tìm hiểu sự khác biệt giữa 3 mô hình nói trên.

***

Thị trường tự do gắn liền với tên tuổi của Adam Smith - người Tô Cách Lan (Scotland) vốn được xem như cha đẻ của bộ môn kinh tế học. Ông viết quyển sách luận bàn về Của Cải Của Các Quốc Gia (The Wealth Of Nations, 1776 tức là vào cùng năm với Hoa Kỳ tuyên bố độc lập) trong đó ông phân tích rằng một nước giàu mạnh không phải do tích trữ vàng bạc châu báu mà khi mỗi người dân có tự do để làm việc, tạo ra của cải và trao đổi hàng hóa. Mỗi người tuy sống vì tư lợi (self-interest) nhưng khi sinh hoạt tập quần trong thị trường tự do lại được một bàn tay vô hình (the invisible hand) điều phối để mang lại lợi ích và thịnh vượng chung đến cho toàn thể xã hội.

Một thí dụ của bàn tay vô hình là giữa hàng ngàn người trồng lúa và mua gạo lại dần dần đi đến một thỏa thuận chung về giá cả khiến mọi người đều hài lòng. Trái lại chính quyền không thể quy định phải trồng bao nhiêu cây lúa, mỗi gia đình được mua bao nhiêu ký gạo với giá tiền là bao nhiêu bởi vì bàn tay hữu hình (the visible hand, còn gọi là bàn tay lông lá) của nhà nước sẽ bóp méo (distort) sự vận hành của thị trường tự do. Cho nên vai trò của chính quyền chỉ giới hạn vào giám sát và an ninh (như ngăn ngừa gian lận và trộm cướp) mà không thể can thiệp vào thị trường tự do.

Xã hội Âu Châu đang công nghiệp hóa trong thời đại của Adam Smith. Ông quan sát một hảng xưởng làm kim (pin factory) để nhận xét rằng năng suất sẽ tăng khi công việc được phân phối ra cho nhiều người. Từ đó ông kết luận giữa các nước phải có tự do mậu dịch để sản xuất được phân công theo lợi thế của từng quốc gia nhằm mang đến lợi ích cho toàn thể nhân loại thay vì bị rào cản bởi thuế má, chính sách bế quan (isolationism) hay trục lợi (mercantilism.) Cho nên tên tuổi của Adam Smith ngày nay gắn liền với thị trường tự do (free market) và tự do mậu dịch (free trade.)

***

Trước khi bàn về Dân Chủ Xã Hội (Âu Châu) và Chuyên Chính Tư Bản (Trung Quốc) tưởng cũng nên nhắc đến chủ nghĩa Cộng Sản và Karl Marx bởi vì mô hình kinh tế này tuy đã lổi thời và biến mất nhưng thuyết cộng sản vẫn còn ảnh hưởng rất mạnh với các lý luận hùng hồn công kích chế độ Tư Bản.

Marx viết quyễn Tư Bản Luận (Das Kapital) năm 1867 tức là gần 100 năm sau Adam Smith. Ở Âu Châu vào thời đại của Smith chỉ gồm các hảng xưởng vừa và nhỏ nhưng đến Marx đã thành hình những đại xí nghiệp thu dụng vô số công nhân từ nông thôn ra thành phố. Âu Châu ở vào giai đoạn đỉnh điểm của tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.

Marx quan sát chủ nghĩa tư bản không mang đến lợi ích đồng đều cho mọi người mà trái lại thợ thuyền sống cơ cực trong khi giới chủ ngày càng giàu sang hưởng lợi. Trái với Adam Smith, Marx nhận định không thể tách rời chính quyền ra khỏi kinh tế bởi vì nhà cầm quyền chính là công cụ đàn áp đa số bị trị nhằm bảo vệ thiểu số thống trị. Marx hô hào cách mạng vô sản nhằm lật đổ tư bản và thay thế kinh tế thị trường (market economy) bằng kinh tế chỉ huy (control economy.) Nhà nước vô sản sẽ nắm giữ toàn bộ các phương tiện và tương quan sản xuất để rồi phân phối của cải đồng đều ra toàn xã hội.

Nói tóm tắt thì Tư Bản tạo ra của cải (wealth creation) trong khi Cộng Sản phân phối của cải (wealth distribution.) Tư Bản sinh ra giàu nghèo và bất công xã hội nhưng Cộng Sản thất bại vì không có của cải để phân phối.

***

Mô hình Dân Chủ Xã Hội có thể được xem như con đường trung đạo nhằm bù đắp cho các thất bại của Tư Bản mà không dẫn đến Cộng Sản. Tên tuổi gắn liền với nền Dân Chủ Xã Hội là John M. Keynes, người vốn được xem là 1 trong 3 cột trụ trong kinh tế học ngang hàng với Adam Smith và Karl Marx.

Keynes sống ở Anh vào đầu thế kỷ 20 trong giai đoạn cực kỳ hổn loạn của Âu Châu. Ông chứng kiến cuộc cách mạng Nga năm 1917 và sự ra đời của nhà nước Xô Viết năm 1922 để kết luận rằng chủ nghĩa Cộng Sản mang lại nghèo đói và tước đoạt tự do. Keynes tham dự hoà đàm Versailles chấm dứt Thế Chiến Thứ Nhất nhưng ông phản đối các điều kiện nghiệt ngã do Anh-Pháp đặt ra nhằm trừng phạt nước Đức bại trận vì sẽ khiến dân Đức phẩn uất mà sau này dẫn đến trào lưu dân túy, Phát-Xít và Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai. Keynes chứng kiến cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu năm 1929 để kết luận rằng nếu nhà nước không can thiệp để bù đắp cho các thất bại của thị trường (market failures) thì dân chúng sẽ nổi loạn để rồi dẫn đến các chủ nghĩa dân tộc, phát xít hay cộng sản, hoặc mang lại chiến tranh hay đánh mất tự do.

Keynes viết quyển Lý Thuyết Tổng Quát Về Việc Làm, Lãi Xuất và Tiền Tệ (The General Theory Of Employment, Interest And Money[1]) năm 1936. Ông nhận xét rằng kinh tế thị trường trải qua các chu kỳ thăng trầm. Khu vực tư nhân chủ động đầu tư khi tăng trưởng nhưng gặp lúc suy thoái thì đến phiên nhà nước phải chi tiêu đão chu kỳ (countercyclical spending) nhằm bù đắp cho các thiếu hụt, giúp tạo công ăn việc làm và thúc đẩy nền kinh tế tái khởi động. Ngày nay thường gọi đây là các gói kích cầu (stimulus). Thâm thủng ngân sách (deficit spending) trong khủng hoảng là bắt buộc do chi tiêu công tăng trong khi thuế má thu vào giảm cho đến khi kinh tế trở lại chu kỳ tăng trưởng thì thuế má lại tăng để lắp đầy khoảng thiếu.

Một thí dụ dễ hiểu là cổ xe kinh tế đang chạy ngon trớn trên xa lộ (chu kỳ tăng trưởng) lại sụp ổ gà (chu kỳ khủng hoảng). Chi tiêu nhà nước là ống nhúng tự động (automatic stabilizer) giúp không gảy sường xe để rồi xe tiếp tục chạy.

Mô hình Dân Chủ Xã Hội khai triển từ Keynes với trách nhiệm của nhà nước không chỉ nhằm giải quyết khủng hoảng mà còn phải mưu cầu an sinh xã hội như bảo vệ người lao động, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế và hưu trí đến cho mọi người tức là những thứ mà thị trường tự do không cung cấp. Theo cách nhìn thông thuờng thì Mỹ theo mô hình thị trường tự do nên kinh tế tăng trưởng nhanh và năng động nhưng về an sinh xã hội lại không bằng so với nền dân chủ xã hội của Âu Châu.

Sang đến thế kỷ 21 mô hình Dân Chủ Xã Hội lại phát huy theo một khuynh hướng mới là nhà nước không những chỉ thụ động bù đắp cho các khiếm khuyết của thị trường tự do mà còn phải tích cực huy động nền kinh tế giải quyết các vấn đề lớn của thời đại (như bất bình đẳng xã hội, đại dịch toàn cầu hay biến đổi khí hậu) mà khu vực tư nhân không thể nào đảm trách nổi. Nói cách khác, vai trò của nhà nước ngày càng bành trướng, bắt đầu từ cấp cứu (khủng hoảng kinh tế) đến bao thầu (an sinh xã hội) và nay là chủ động. Chi tiêu nhà nước ngày càng tăng nên thuế má và nợ công cũng vì đó nhảy vọt.                  

Để tóm tắt, Adam Smith chủ trương bàn tay vô hình điều phối thị trường tự do; Karl Marx hô hào bàn tay sắt của nhà nước chỉ huy nền kinh tế; John M. Keynes đưa ra giải pháp bàn tay hữu hình của nhà nước bù đắp cho các thất bại của thị trường. Phe ủng hộ cho rằng Keynes cứu sống Tư Bản (save capitalism) còn bên chống đối tố cáo bàn tay lông lá của nhà nước rồi sẽ bóp nghẹt thị trường tự do. Nước Mỹ hiện đang chứng kiến trận chiến quyết liệt giữa hai khuynh hướng này.

***

Chuyên chế tư bản được dùng để mô tả Trung Quốc và Việt Nam là hai nước có nền kinh tế thị trường (cạnh tranh kinh tế) nhưng chuyên chế độc đảng (không có cạnh tranh chính trị.)  Cách nói thông thường là đảng cầm quyền ổn định chính trị để phát triễn kinh tế. Cho nên “màu sắc Trung Quốc” hay “định hướng xã hội chủ nghĩa” đều mang cùng là ý nghĩa chuyên chế độc đảng. Mô hình này hiện do Bắc Kinh phô trương dựa vào thành tích tăng trưởng ngoạn mục trong gần nửa thế kỷ như một khuông mẫu cho các nước đang mở mang noi theo thay vì nền dân chủ hổn loạn giống như kiểu cách mạng hoa lài ở Trung Đông rồi nay lan tràn sang cả Âu-Mỹ.

Một tên gọi khác là Tư Bản Nhà Nước (State Capitalism) trong đó nhà nước chủ động nền kinh tế. Nhưng Chuyên Chế Tư Bản (Authoritarian Capitalism) nhấn mạnh nơi không có cạnh tranh chính trị cho dù cạnh tranh kinh tế. Mô hình tuy này bị các kinh tế gia phê bình là chứa đầy nghịch lý nên không thể phát triển lâu dài nhưng trên thực tế thì nền kinh tế Trung Quốc (và Việt Nam) tăng trưởng chóng mặt trong gần 40 năm mặc dù lúc nào cũng bị tiên đoán là sẽ sụp đổ vì những mâu thuẩn nội tại. Vì lý thuyết phải phù hợp với thực tế chớ không thể bẻ cong hiện thực để phục vụ lý luận cho nên mô hình chuyên chế tư bản phải có những điểm mạnh và yếu của nó (sẽ được phân tích sau này) thì mới thành công ngoạn mục như vậy.

Theo nhiều dự đoán gần đây nhất GDP của Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ vào khoảng năm 2026-2030. Nếu quả thực vậy đây sẽ là một khúc quanh trọng đại trong lịch sử nhân loại không kém gì lúc Mỹ qua mặt Anh để trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 20, và sẽ là một chiến thắng tuyên truyền rực rở cho Bắc Kinh hơn 100 năm sau ngày đảng Cộng Sản Trung Hoa thành hình năm 1921.

Nhiều người cho rằng mức thu nhập đầu người Hoa sẽ không bao giờ sánh bằng Âu-Mỹ cho dù GDP có vượt trội. Nhưng trên phương diện địa chính trị thì chính GDP mới thể hiện sức mạnh và trọng lượng kinh tế của một quốc gia trên thế giới. Thí dụ dễ hiểu là mức thu nhập đầu người dân Na-Uy cao hơn Mỹ nhưng Na-Uy không là một siêu cường vì tỷ trọng GDP quá nhỏ so với toàn cầu. Giữa các nước buôn bán bằng USD nên GDP (tính theo USD) càng lớn thì sức hút càng mạnh để những quốc gia còn lại rơi vào quỹ đạo kinh tế, rồi đến chính trị và văn hóa của mình.

Một nhận xét cuối cùng liên quan đến nền chuyên chế tư bản là Bắc Kinh không cần xây dựng một mô hình kinh tế toàn hảo mà chỉ cần đẩy GDP lớn hơn Mỹ thì cũng đủ để thực hiện thế kỷ Trung Hoa (the China Century.) Còn tiên đoán mô hình chuyên chế tư bản sẽ sụp đổ cũng giống như thầy bói đoán “anh sắp chết” rồi thì phải đúng bởi vì ai cũng sẽ chết, nhà nước nào rồi cũng lụn bại.

Từ đầu thế kỷ thứ 21 nhiều kinh tế gia đã nói đến một trận đại hồng thủy (titanic shift) với trọng tâm kinh tế toàn cầu di chuyển từ Tây Phương sang Đông Á với tầm ảnh hưởng đến địa cầu không khác gì giai đoạn Âu-Mỹ công nghiệp hoá để rồi dẫn đến Tư Bản, Thực Dân và Dân Chủ. Cho đến cuối thập niên đầu tiên người ta mới bắt đầu thấy các hậu quả khủng khiếp bao gồm từ sự trổi dậy của Trung Quốc, cuộc Đại Suy Thoái 2007-08, trào lưu dân túy ở Âu-Mỹ vốn dẫn đến Brexit, Trump rồi nay đão ngược sang Biden, và tương lai GDP của Trung Quốc qua mặt Mỹ không còn xa. Kinh Tế Dễ Hiểu sẽ tiếp tục trình bày các vấn đề này một cách…dễ hiểu!

TÓM TẮT:

1.  Tư Bản (Capitalism) : thị trường tự do (free market); bàn tay vô hình (invisible hand); Adam Smith; Mỹ

2.  Cộng Sản (Communism): kinh tế chỉ huy (control economy); bàn tay sắt của nhà nước vô sản (dictatorship of the proletariat); Karl Marx

3.  Dân Chủ Xã Hội (Social Democracy): bàn tay hữu hình (the visible hand, hay bàn tay lông lá) của nhà nước can thiệp bù đắp cho các thất bại của thị trường; John M. Keynes; Âu Châu

4.  Chuyên Chế Tư Bản (Authoritarian Capitalism): kinh tế thị trường nhưng chuyên chế độc đảng; cạnh tranh kinh tế nhưng không có cạnh tranh chính trị; Trung Quốc và Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Tựa đề Lý Thuyết Tổng Quát…của Keynes 1936 dựa theo tên gọi Lý Thuyết Tổng Quát về thuyết Tương Đối (General Theory of Relativity) của Albert Einstein 1915 cho thấỳ kỳ vọng của Keynes là thay đổi kinh tế học từ nền tảng của Smith và Marx cũng giống như Einstein thay đổi vật lý học từ nền tảng của Newton. Quyễn Lý Thuyết Tổng Quát…của Keynes cực kỳ khó hiểu nên Nobel Kinh Tế Paul Krugman có lần nhận xét giống như miếng thịt bíp-tết thật ngon nhưng nấu chưa chính nên nhai mãi nuốt không trôi (dịch thoát ý.)

 

 

No comments:

Post a Comment