Thứ Tư, 24 tháng 11, 2021

Lê Huyền Ái Mỹ - Trưa bên sông Sài Gòn

Lê Huyền Ái Mỹ - Trưa bên sông Sài Gòn
mardi 23 novembre 2021
Thuymy


Những ngày Sài Gòn cứ sáng ửng nắng, trưa chiều ủ dột rồi mưa luôn cho tới tối, ngồi ngắm cái màu trời thôi cũng đủ… lười, chẳng thiết mà cũng chẳng biết viết gì.

Rồi bạn ghé nhà đón đi… café vỉa hè. Nằm dưới chân cầu Công Lý, ngay đầu con hẻm đi vô quán Huế Ngự Bình, mấy bước là quán Mười Khó. Cả nửa năm mới ngồi lại cái quán cóc.

Ngồi đây mới nhớ, những ngày tang thương hôm nào, nhắn bạn chụp cho tấm hình nhìn Sài Gòn từ trên cao. Bạn gửi qua liền mấy tấm con đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa vàng vọt, thi thoảng những ánh đèn chấp chới chạy qua. Con hẻm xuyên qua chợ Phú Nhuận lành lạnh.

Giờ đường sá đông dần trở lại. Nhưng có lẽ đông nhất là… người bán vé số. Mới ngồi xuống, chưa kịp kêu nước đã ba bốn người chào mời. Ai nấy đều giữ khoảng cách. Và cũng hầu hết đều lắc đầu từ chối.

Cũng đâu chừng hơn 2 mét, bàn bên kia, có hai ông già, giọng đục khàn, họ nói về một người bạn vừa nằm xuống. Họ không biết nên không kịp đến tiễn đưa.

Trưa, nắng rọi xuống tận dạ cầu. Cả đám kéo nhau đi ăn. Chẳng phải kiếm tìm gì, cứ thế trực chỉ qua Bình Quới -Thanh Đa. Cái tên đúng ra là Thạnh Đa. Từ thuở người Pháp nhận ra con sông Sài Gòn vốn là tuyến vận tải chính nhưng cứ cong cong quẹo quẹo khiến vận chuyển khó khăn, tốn kém nên cho đào kinh Thạnh Đa, chỉ trong vòng một năm (1897-1898). Kinh Thạnh Đa cắt vòng thắt từ Bình Lợi đến An Phú, rút ngắn được 12 kilomet theo dòng chảy của sông Sài Gòn, nhờ vậy thuyền bè dễ dàng qua lại. Khi in bản đồ lại bỏ mất dấu nặng mà thành Thanh Đa ngày nay. Đó là một cái tên… trật.

Đi miết, đi hết đường đất thì con sông Sài Gòn ngay trước mặt. Chỉ muốn ngồi xuống gần con nước. Nước đang ròng, xộc lên mùi bùn nhưng cả nửa năm trời câm lặng trong “pháo đài”, như thể những kẻ đi lạc Sài Gòn quá lâu, nay tìm được, gặp lại, ngồi đâu cũng mặc.

Quán thênh thang nhưng khách chỉ hai bàn. Hỏi giờ quán có bán món nào để kêu luôn. Khỏi chọn.

Một chiếc phà đang về bến. Thưa thớt. Xe lẫn người buồn hiu. Nhìn bên kia là thành phố Thủ Đức. Còn đây là bến đò Bình Quới. Sau hai lượt qua về, bỗng một nhóm người, trong đó có hai vị sư cùng bước xuống. Chiếc phà vừa trôi đi thì tiếng tụng kinh, tiếng chuông văng vẳng một khúc sông. Một người ôm lấy hũ tro cốt. Tôi nhìn xuống con nước cạn, nghe như tiếng gió thổi qua tai. Vừa hanh vừa lành lạnh.

Chúng tôi dừng đũa, dõi theo. Chiếc phà ra chêch chếch giữa dòng. Rồi neo lại. Một buổi lễ thủy táng. Thoáng chốc, chiếc phà đã quay vào. Người bước lên bờ thoăn thoắt. Bên kia, bao nhiêu người đang chờ chuyến về.

Tôi lại lặng nhìn dòng sông. Rồi bất giác nhớ về những hàng nến dài vừa mới thắp lên trong mấy con hẻm. Đất này nâng niu họ. Nước này đã hóa kiếp họ. Qua cơn đại nạn, tử sinh, mất còn có khác gì con nước cạn rồi nước lớn, nước lại ròng.

Ước gì tôi được soi mặt xuống lòng sông…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét