Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2022

Cù Mai Công - « Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui »

Cù Mai Công - « Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui »…
vendredi 28 janvier 2022
Thuymy



Chỉ dăm ngày nữa Tết Nhâm Dần 2022.

Năm 2020 nhen nhúm Covid-19. Năm 2021 cũng Covid, trong và ngoài nước lảo đảo. Ông Tạ cũng vậy, lao đao. Việc giải tỏa nhà dọc đường Cách Mạng Tháng Tám để mở tuyến métro tạm dừng, để lại những ngổn ngang.

Nhưng đã là một thói quen của gần 70 năm (từ 1954) trên vùng đất mới, trên quê hương mới của bao thế hệ Ông Tạ. Từ trung tuần tháng Chạp, những sạp lá dong, khuôn gỗ gói bánh chưng lại thấy xung quanh trường Tân Bình (trước 1975 là Thánh Tâm).

Từ sáng sớm, đã thấy dưa hành, kẹo lạc Quế Hương, giò chả Ông Tạ… bày dọc các cung đường, lối ngõ khu Ông Tạ. Gần nửa đêm, hai cửa hàng Tơ Hồng (tiệm ảnh Á Đông cũ), Ngọc Vân… ngay ngã ba Ông Tạ vẫn giăng đèn kết hoa rực rỡ đến gần nửa đêm. Chợ lá dong trước trường Thánh Tâm (nay là Tân Bình) vẫn chong đèn suốt đêm.

Không chỉ vậy, mấy chục “shop” lá dong vỉa hè vẫn ngồn ngộn lá trải dài từ hai bên cầu Ông Tạ ra đến ngã ba. Nửa đêm, trên đường Phạm Văn Hai, tôi về qua, tiệm Hồng Thắm thuở nào, xéo chợ Ông Tạ cũ, với bột sắn, trà Bắc, thuốc lào Ba số 8… vẫn mở đèn bán Tết suốt đêm. Như hồi chợ vẫn còn, trước 1989.

Thoáng bùi ngùi một thuở, khi chợ Ông Tạ chưa dời về chợ Phạm Văn Hai hiện nay. Khi cầu Ông Tạ chưa bị phá bỏ năm 1999 làm hai cầu mới hai bên mang tên số 2, 3 mà tới giờ, hơn 20 năm rồi nhiều người vẫn chưa thuộc tên cầu.


ÔNG TẠ THUỞ ẤY, TRƯỚC TẾT LÀ MỘT TRỜI VUI

Trước 1975, từ 23 Tết, con đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai), đoạn từ ngõ Cổng Bom (nay là hẻm chùa Khuông Việt), cổng ấp Hàng Dầu (nay là đường Lưu Nhân Chú) đến ngã ba Ông Tạ đã bị đóng mấy thanh gỗ ngang ngăn xe cộ qua lại; tạo thành một cái chợ ngay trên mặt đường. Nhà lồng chợ Ông Tạ cũ (nay là đường vào trường tiểu học Phạm Văn Hai) không còn sức chứa nổi sức mua bán, hàng hóa Tết ê hề của khu Ông Tạ.

Xe cộ qua lại buộc phải đi ngõ Con Mắt (nay là 766 Cách Mạng Tháng Tám), ngõ Cổng Bom (nay là hẻm Chùa Khuông Việt, 202 Phạm Văn Hai)… lúc ấy còn rộng, hai xe cam nhông (camion) qua lại thoải mái, không chật chội như bây giờ.

Các lò giò chả của ông trùm Bệ xứ bên Tân Chí Linh, ông đội Ngân xứ Vinh Sơn đối diện… bên kia cầu Ông Tạ gần nhà tôi tiếng giã giò thình thịch suốt đêm ngày. Thợ toàn trai tráng trong nhà, cứ một tay hai chày nện liên tục vào cối; quăng mẻ này ra là mẻ thịt mới ném vào. Gần ngã ba có lò Tuyết Hương cạnh nhà in Minh Tâm, đối diện nhà sách Ngọc Lan cũng một thời lừng lẫy. Chủ tên Thành, bà con gọi là Thành “giò”. Ngay chợ có lò ông Phán “giò”, nằm giữa hẻm vô chợ Gà (264 Phạm Văn Hai) và hẻm Đông Kinh. Hàng chục lò giò chả ngõ Con Mắt tràn hàng ra chợ Ông Tạ ra. Một loạt tiệm giò chả Ông Tạ xưa tới giờ vẫn còn.

Tất cả lò giò chả Ông Tạ chỉ vài bước chân là tới lò heo trong ngõ Cổng Bom, nơi cung cấp thịt heo ra lò còn nóng hôi hổi. Trước và sau 1975, một số lò vẫn còn giã tay.

Bao nhiêu đòn giò lụa, chả quế ra lò trong một cái Tết xưa ấy, tôi không rõ. Chỉ biết là hầu như không gia đình khu Ông Tạ nào không mua một vài cây giò ăn Tết. Đến 1975, khu Ông Tạ có khoảng 150.000 dân/250.000 dân xã Tân Sơn Hòa; tức khoảng 25.000 gia đình.

Không chỉ vậy, giò Ông Tạ còn lên xích lô máy, xích lô đạp, xe máy lẫn xe đạp… chạy sang nhiều chợ khác. Chẳng hạn lò nhà ông trùm Bệ mở cả cửa hàng giò chả Hòa, Nghĩa bên chợ Bàn Cờ, Vườn Chuối (quận 3). Nhiều gia đình Bắc ở Bảy Hiền, Bùi Phát, Lăng Cha Cả, Tân Phú, Phú Nhuận, xóm Lách (quận 3)… thì Tết dứt khoát phải về Ông Tạ mua giò chả mới gọi là có Tết.

Không chỉ giò chả, có những mặt hàng hầu như chỉ làm và bán dịp Tết và nhiều gia đình khu Ông Tạ coi là món Tết không thể thiếu như kẹo lạc, “thèo lèo cứt chuột”… chẳng hạn thì hàng chục lò cho ra hàng tấn kẹo lạc mỗi ngày.

Nghĩa Hòa có một loạt lò kẹo ông Xót, ông bà chánh Chuyên, lò chú Thi, lò chú Xuyên… Đặc biệt là hai lò Hòa Thành, Thủ Đô với hai anh em ông Hòa, ông Thủ làm chủ. Nam Thái có lò Quế Hương cho tới giờ vẫn bọc kẹo vuông vức thành từng ký. Lò Quế Hương gốc trong hẻm bánh mì Nam Thành Phong, gần nhà thờ Nam Thái; miếng kẹo giòn thanh… tới giờ vẫn là mặt hàng kẹo lạc chủ yếu ở Ông Tạ. Lò nào cũng đầy thợ và… trẻ con. Đám trẻ con vừa coi vừa chực ăn mấy rìa kẹo chủ lò dúi cho.

Hàng chục tiệm bánh kẹo, tạp hóa lớn nhỏ dọc đường Thoại Ngọc Hầu, khu ngã ba Ông Tạ như Quang Minh, Tiến Thành, Lan Hương… không tiệm nào không bày bán kẹo lạc, bánh xu xê, bánh in…

Rồi măng khô, bóng bì, trà B’lao… từ Gia Kiệm, Long Khánh, Bảo Lộc đưa về ngồn ngộn. Rồi bột sắn, miến dong có nhà tự mua hàng tấn sắn dây, củ dong… về ngâm, làm suốt ngày đêm cho kịp chợ Tết. Gạo nếp, đậu xanh từ miền Tây đưa lên để nấu xôi, làm bánh chưng… vun đầy các cửa hàng. Xe chở gạo đậu ở ngã ba, thợ vác hàng tấn đi thoăn thoắt hoặc kéo xe kéo, đẩy xe ba gác bỏ mối cho các sạp. Gà vịt trong từng bu (lồng) tre đan chen chật đường vô hẻm Gà.


Bên ngoài khu ngã ba Ông Tạ, cơ man là hàng hoa, chợ hoa, chợ lá dong, quầy dưa hấu trải suốt từ hồ tắm Cộng Hòa đến nhà sách Ngọc Lan, gần đầu đường Thánh Mẫu (nay là Bành Văn Trân). Hàng hoa từ Hóc Môn, Bà Điểm đưa xuống. Hàng củ quả như su hào, súp lơ… từ Hố Nai đưa lên. Xe tải đổ hàng liên tục, vun hàng đống hai bên đường.

Những con hẻm thông từ ngõ Con Mắt, đường Thánh Mẫu (nay là Bành Văn Trân) ra Phạm Hồng Thái (nay là Cách Mạng Tháng Tám)… người qua lại suốt ngày đêm. Học trò đi học qua cũng vui tươi chen lấn - trẻ con nào không thích đông vui; trẻ con Bắc càng vui sướng lắm. Tôi và chúng bạn ngồi học chỉ mong về, ra chợ Tết chơi, lượm cọng lá dong làm súng, làm gươm. Cha mẹ thấy con vắng là biết chúng đi đâu, làm gì. Đang tối mày tối mặt làm, buôn bán hàng Tết không ngơi tay, ngớt miệng nên cũng chẳng buồn gọi về.

Những đêm cuối năm ấy, không biết bao nhiêu nồi bánh chưng sôi sùng sục khắp đường ngang ngõ tắt, hẻm hóc khu Ông Tạ. Nhà nào cũng con đàn cháu đống. Để nhà ăn, biếu hàng xóm, láng giềng và đặc biệt bà con, làng mạc cùng quê Bắc xưa, anh em, họ hàng vốn sống quần tụ quanh đấy, gần đấy – vào Nam nhiều nhà đi gần cả làng, cả họ, cả nhà.

Những chiếc bánh chưng được gói chăm chút. Cả nhà xúm vào làm. Riêng gói bánh, cột bánh thường là chuyện của đàn ông thanh niên khỏe tay để bánh chắc. Trẻ con bu quanh cũng được ông bà, cha mẹ gói cho những chiếc bánh tí hon để chúng có phần Tết, khoe chúng bạn, khỏi quẩn chân.

Anh Nguyễn Ninh, một dân Ông Tạ quả quyết: “Bánh chưng Ông Tạ ngon không đâu bằng. Mở chiếc bánh ra: nếp, đậu, thịt thơm phưng phức – đúng hương vị Bắc 54 mang từ quê nhà, không lẫn vào đâu được. Màu lá dong xanh biếc trong những cọng lạt mềm buộc chặt”.

Lạt phải chẻ thật mỏng, ngâm nước, buộc mới chặt tay. Đêm 30, cứ cách vài nhà lại một nồi bánh chưng đầu nhà cuối sân. Chuyện canh nồi bánh thường của nam thanh nữ tú, trải chiếu ngồi, nằm canh; chuyện trò, chọc phá nhau ran như pháo Tết. Tình làng nghĩa xóm quyện bay trong khói nồi bánh chưng đêm se lạnh cuối năm, trong tiếng pháo lẻ của trẻ con không biết nhà nào đốt trong xóm.

“Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui”, đông đủ; tứ xứ vùng miền mà như một nhà.


QUÊ HƯƠNG ÔNG TẠ VẪN CÒN ĐÂY, ĐỂ NHỚ ĐỂ THƯƠNG

Đến cuối thập niên 1980, chợ Ông Tạ cũ - nơi khởi phát cả một khu Ông Tạ sầm uất từ năm 1954, bị giải tỏa để chuyển sang chợ Phạm Văn Hai hiện nay.

Chợ đâu lò đó. Lò heo trong ngõ Cổng Bom cũng ngưng hoạt động để dắt díu, tùm húm theo nhau ra chợ Phạm Văn Hai. Trước khi về chợ đầu mối của thành phố, chợ Phạm Văn Hai trở thành chợ heo lớn nhất thành phố Hồ Chí Minh. Thịt heo từ đây đi nhiều chợ trong thành phố. Tuy nhiên, chợ Phạm Văn Hai không còn lò heo mà chỉ nhận heo giết mổ từ nhiều nơi về phân phối lại.

Từ hai, ba giờ sáng, chợ heo Phạm Văn Hai cách nhà tôi vài chục mét, đối diện rạp hát Đại Lợi (lúc đó vẫn còn) này đã rần rần người mua kẻ bán thịt heo. Từ 23 Tết thì một, hai giờ sáng đã náo nhiệt. Ngày 28, 29 Tết, ngay sau 0 giờ đã ồn ào cho tới sáng. Ca sĩ Duy Mạnh có lúc ở chung cư xưa là building Đại Lợi, bên kia chợ, than với cô phóng viên Lê Nguyễn Hương Trà: “Mấy giờ sáng đã rần rần, không ngủ được”.

Xe tải chở thịt heo đậu hai bên đường trước chợ cho thợ heo vác heo mảnh từ xe tải xuống, tấp nập và chạy tới chạy lui tấp nập, có khi rất “hỗn”, bất chấp xe qua lại. Có thợ vai vác heo mảnh, tay cầm dao xẻ thịt sắc lẹm nhìn rất sợ. Vừa vác heo họ vừa la hét xe cộ qua lại nhường đường ầm ĩ.

Hà rầm chuyện va chạm với người đi đường. Máu me dính đầy quần áo người ta. Có lần gần Tết, từ một vụ va chạm này, dẫn đến cãi cọ, đánh nhau; một thợ heo đã cầm ngay con dao xả thịt đâm chết một khách đi đường.

Thịt heo từ chợ lên các xe máy, hầu hết không biển số, cũ rích, tơi tả. Có xe để nguyên từng tảng thịt nửa con heo vắt qua yên sau, có xe cẩn thận xả sơ mảnh, bỏ vô hai thùng nhôm hay inox sau xe. Thế là các anh tài rú ga chạy bạt mạng cho kịp buổi chợ sớm của các chợ khác.

Chợ Ông Tạ cũ, thật kỳ lạ, nó vẫn hoạt động, Tết vẫn sôi động. Tất nhiên các mẹ các chị không thể buôn bán ở khu nhà lồng chợ cũ vì nó đã thành trường tiểu học Phạm Văn Hai. Các cửa hàng dọc đường Thoại Ngọc Hầu cũ lên đến ngã ba Ông Tạ vẫn buôn bán những mặt hàng như ngày nào. Mới đây thôi, trước khi nhà bánh kẹo Tiến Thành giải tỏa cho métro, bà con xung quanh đã thấy mọc lên hai tiệm Tiến Thành mới: một đối diện tiệm cũ, một trên đường Phạm Văn Hai – đối diện hẻm Gà. Tiệm nào cũng một kiểu bảng hiệu, cũng bánh cốm, trà Bắc, kẹo lạc… như thuở nào.

Ngoài những tiểu thương trong nhà chợ Ông Tạ cũ mua, sang sạp buôn bán tiếp tục ở chợ Phạm Văn Hai, không ít bà con, nhất là hàng rong vẫn tiếp tục “bám trụ” cho tới giờ, với hàng trăm sạp hàng, bạt trải nilông trong hẻm 264, tức hẻm Gà xưa, chạy dài dài vòng ra hẻm Đông Kinh cũ. Không quy mô bằng, nhưng cũng không thiếu thứ gì.

Kẹo lạc Quế Hương từng khối vuông vức, hũ dưa hành, măng khô, trà Bắc, thuốc lào Ba số 8… vẫn thấy bày dọc đường Phạm Văn Hai, từ ngã ba Ông Tạ xuống ngõ Cổng Bom xưa, trên đường Lưu Nhân Chú, Nghĩa Phát và khu Lộc Hưng, Chí Hòa… Dù nhiều người Ông Tạ “muôn năm cũ” đã đi đâu về đâu, hay không còn trên cõi thế gian này, nhưng tất cả đã chọn nơi này định hình cho mình một quê hương.

Tôi nhớ hồi nhỏ và cả lúc lớn lên, không chỉ tôi, nhiều người Ông Tạ cũng có phần tủi thân không có quê để về dịp Tết. Quê Bắc xưa đã xa lắm rồi, có về chắc cũng chỉ để thăm chứ không để ở lại: “Mai đây hòa bình, con tàu chở đoàn người di cư, về thăm quê Bắc thân yêu đã xa lìa cả thời niên thiếu…” (“Hòa bình ơi! Việt Nam ơi” - Trầm Tử Thiêng).

Thế hệ F0, ông bà cha mẹ đến đây khi tuổi 20, 30, 40… sau 1975 cũng có người sau 1975 về thăm quê, giờ hầu hết đã về với Trời, với Đất. Con cháu F1, F2, F3… đa số chỉ nghe quê Bắc xưa qua lời kể, “phai nhạt mấy màu”. Nên dù đi đâu, kể cả ra nước ngoài, quê hương cụ thể của họ hôm nay vẫn là Ông Tạ; “là con diều biếc con thả trên đồng” rau muống ông Nghi ở An Lạc. Một vùng đất mới nay đã thành cũ – để nhớ để thương. Ngay California (Mỹ) cũng có tiệm Bánh Cuốn Ông Tạ, giò chả Ông Tạ đấy thôi.


GIAO THỪA, NĂM HẾT, TẾT ĐẾN

Ầm ĩ, chộn rộn những ngày trước Tết, đêm 29 rạng sáng 30 Tết, nhiều người Ông Tạ cũng không ngủ. Chợ Ông Tạ càng không ngủ - đêm cuối trước Tết còn chợ, sau đó sẽ nghỉ đến mùng ba, mùng bốn tùy năm. Thực tế mùng bảy mới hy vọng chợ hoạt động như cũ. Ấn tượng thuở nhỏ của tôi là chợ búa khu Ông Tạ nghỉ Tết khá lâu, mùng sáu vẫn loe hoe ít sạp hàng buôn bán. Phải mùng bảy hạ nêu, chợ mới chính thức vào công việc một năm mới.

Đêm 29 rạng 30 là một chợ Ông Tạ của nhà nghèo, hàng hóa bán rẻ cho xong buổi chợ. Có bà vừa bán vừa mừng tuổi cho khách: dúi thêm ít hàng, ít bánh kẹo “mang về cho cháu ở nhà”. Lò heo cũng vào mẻ thịt ra chợ cuối cùng trong năm. 30 Tết và sau đó mấy ngày, chợ nghỉ, lò heo cũng phải nghỉ theo.

Chín, mười giờ sáng 30, hầu như các chợ đã quang hẳn; ai cũng vội về nhà. Trưa 30, xe rác vừa xong những mẻ rác cuối đã xe cứu hỏa của Gia Định trờ tới, phun rửa đường ồ ạt. Nhà nhà cũng dọn dẹp nhà mình lần cuối, mai mùng một sẽ không quét nhà. Chị tôi bảo: “Không được quét nhà mùng một kẻo quét tiền bạc ra khỏi nhà”. Dân Công giáo mà cũng tin như vậy, bảo sao bà con các đạo khác.

23g đêm 30, các nhà thờ xong lễ nửa đêm, các chùa thơm phức mùi hương trầm… Cả Ông Tạ im lặng trong đêm, chỉ còn mùi nhang trầm trên bàn thờ Chúa, bàn thiên ngoài trời. Ông bà, bố mẹ réo con về khi những tiếng pháo lẻ đã lác đác, ngày càng nhiều.

Đang im lặng thênh thang

Chợt vỡ ra náo động

Pháo nổ rung mặt trống

Trời đất chuyển giao thừa

Có lẽ Ông Tạ là khu vực pháo nổ nhiều nhất Sài Gòn, có khi hơn cả Chợ Lớn. Giàu nghèo gì cũng ít là một phong, thường cả thước. Những nhà cao tầng khu ngã ba có nhà nổ cả chục thước. Đường sá ngập hồng xác pháo, không ai quét dọn. Xe cộ qua lại cuốn tung xác pháo. Người đi lễ nhà thờ, chùa, chúc Tết đầu năm, chân đi như reo trên màu hồng pháo.

Nồi bánh chưng đêm giao thừa cũng đã ra lò, đưa lên ép cho ráo nước cúng gia tiên, ông bà. Trẻ con đã xúng xính quần áo mới chuẩn bị theo cha mẹ đi chúc Tết ông bà, có thể ở Ông Tạ, có thể ở Bình An, Xóm Mới, Phú Nhuận… Các ông trùm, ông quản vào chúc Tết các cha, các dì (soeur) để nhận lì xì, chỉ vài đồng.

 

Khác với hiện nay, Tết khu Ông Tạ thời ấy ít nhà đóng cửa. Đa số mở cửa đón khách với phòng khách trang hoàng ấm cúng, sạch sẽ - như một cách “báo cáo” một năm “ăn nên làm ra” của nhà mình. Cả chủ lẫn khách đều ăn mặc lịch sự, nói năng vui vẻ, từ tốn, lịch sự. Tôi nhớ ba tôi đi chúc Tết một vòng xóm, mỗi nhà ít phút, đến trưa mới xong.

Các ông đi chúc Tết hàng xóm, bạn bè; các bà đón khách viếng thăm. Trẻ con mon men chờ lì xì. Thanh niên nam nữ thì hồi đó còn nhỏ, tôi không biết họ tếch đi đâu không biết, hay kéo nhau đi xem phim ở Đại Lợi. Tết cuối cùng trước 1975, nếu tôi nhớ không lầm thì mùng một rạp Đại Lợi chiếu phim Thái Lan “Tình cô gái rắn”, nam nữ chen nhau chật rạp. Trẻ con thì cha mẹ cấm cửa không được coi. Mùng hai là phim về 108 vị hảo hớn Lương Sơn Bạc, mùng ba là một phim Mỹ.

Đâu đâu cũng thấy các sòng bầu cua, kể cả trước rạp hát Đại Lợi. Xung quanh, nam phụ lão ấu đủ mặt, đông nhất vẫn là thanh thiếu niên. Thỉnh thoảng cũng có kẻ thua, xót, giựt tiền bỏ chạy. Có lúc một đám thanh niên bên Bảy Hiền mò xuống một sòng bầu ngõ Con Mắt, vơ tiền trên bàn bầu cua. Chẳng may, trong sòng bâu cua ấy có nữ võ sĩ đấm bốc nổi tiếng khu Ông Tạ, tên Tâm. Chị là em anh Tư “dê”, con bà Phúc nhà cạnh đền Phúc Trí linh điện trong ngõ. Chị Tâm xách dao chặt đá tua tủa răng nhọn xông trận. Cả đám giựt tiền bỏ chạy mất dép, cạch mặt hẳn. Có năm, tiền lì xì trong túi bỗng cảm thấy nặng, tôi lén nhà mò ra rạp hát Đại Lợi đặt tiền vào ô bầu cua. Thua sạch, tôi lủi thủi về, bỗng thấy như… hết Tết. “Xuân ơi xuân, nếu chẳng vui gì, hãy đừng, đừng tìm đến chi…”.

Từ 23 tháng Chạp trở đi, dân mình đã gọi là Tết: 23 Tết. Tết năm nay đâu đâu cũng vất vả cuộc mưu sinh khó khăn vì Covid chứ không chỉ Ông Tạ. Nhưng ngay cả những năm sau 1975, khó khăn đến tận cùng, người Ông Tạ vẫn gói bánh, vẫn nổ pháo rền vang. “Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết”. Thời ấy, thịt thà thiếu thốn, năm bảy nhà, cả chục nhà trong các khu Nghĩa Hòa, Nam Hòa, Tân Chí Linh… đã mở những đường dây ‘hụi heo” để cuối năm mổ heo chia nhau.

Trong hẻm Gà và cả chợ Phạm Văn Hai, những phần thịt đông vẫn như thuở nào. Chỉ khác là xưa các nhà tự nấu, giờ ra chợ, có người nấu sẵn rồi. Cạnh trụ sở Công an phường 3, có năm, mấy nồi bánh chưng đỏ lửa suốt ngày đêm. Nấu và bán tại chỗ. Nhiều nhà thờ đã ra mẻ bánh chưng thứ hai cả trăm cặp cho bà con nghèo.

Ông Tạ nhìn bên ngoài nhà cửa xây mới nhiều, có vẻ không như xưa - đâu chả vậy chứ riêng gì Ông Tạ. Ngày xưa ấy, tối lửa tắt đèn có nhau; nhà nào có chuyện gì cả xóm biết, cả xóm chung tay. Nhưng nếp nhà, nếp Ông Tạ gần 70 năm dễ gì phai nhạt.

Những ngày này, từ sáng sớm đến gần nửa đêm, dọc đường Phạm Văn Hai, hai bên đường Cách Mạng Tháng Tám, dài dài mấy trăm mét hai bên ngã ba, cả một trời xuân, mùa Tết Ông Tạ vẫn ê hề lá dong, bánh chưng, dưa hành, kẹo lạc… từ sáng tới tối, tấp nập hơn nhiều chợ khác. Nhiều nhà thờ, nhà chùa trưng bày lộng lẫy, Tết lắm. Khuôn viên sân nhà thờ Tân Sa Châu những ngày này, qua cổng như bước vào một làng quê ngày Tết.

Như ngày nào ông bà chúng ta, cha mẹ chúng ta mới lần đầu bước chân đến đây, mái tranh - vách ván - nền đất nện, lập “làng Ông Tạ”…

CÙMAI CÔNG 28.01.2022

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét